1
Tóm tắt
Nghiên cứu tác động của hoạt động tình nguyện đến sự phát triển kinh tế xã hội ở
Việt Nam (hướng đến MDGs) là một trong những nghiên cứu tổng thể đầu tiên về vấn đề
này ở Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện với phương pháp chính phân tích tài liệu được
thực hiện ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, nơi đầu mối tập trung các nhà tài trợ, các
tổ chức tình nguyện, tình nguyện viên; và phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm
được thực hiện với nhà tài trợ, tổ chức hoạt động tình nguyện, tổ chức tiếp nhận tình
nguyện và tình nguyện viên; bảng hỏi cấu trúc với 600 hộ gia đình tại 3 tỉnh Bến Tre, Huế
và Hà Giang nhằm đối chứng kết quả phân tích tài liệu và thực nghiệm nhằm thấy rõ được
sự tác động của hoạt động tìng nguyện đối với sự phát triển kinh tế xã hội tại Việt Nam.
Hoạt động tình nguyện vốn diễn ra trong đời sống của người dân Việt Nam từ thời
xa xưa trên tinh thần “Lá lành đùm lá rách”. Hoạt động này trở thành phong trào thì có thể
kể đến các phong trào tình nguyện ra đời trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp và Mỹ, thời
kỳ kiến quốc. Hoạt động tình nguyện ngày càng đi vào cuộc sống trên nhiều lĩnh vực hoạt
động khác nhau, đặc biệt, trong hơn 10 năm trở lại đây, hoạt động tình nguyện ở Việt Nam
có nhiều khởi sắc. Tác động của hoạt động tình nguỵên tới sự phát triển kinh tế xã hội được
thể hiện thông qua sự tác động đến các MDGs. Hoạt động tình nguyện tại Việt Nam hết sức
đa dạng và phong phú cả về nội dung, tổ chức và hình thức hoạt động. Các phát hiện cơ bản
như sau:
Các hình thức hoạt động tình nguyện hiện có ở Việt Nam:
Phân loại hình thức hoạt động tình nguyện hiện có ở Việt Nam
2
động; quy mô hoạt động tình nguyện được tổ chức; nền tảng xuất phát của hoạt động tình
nguyện; nguồn lực tài chính cho hoạt động tình nguyện; chính sách cụ thể hiện có; Truyền
thông về hoạt động; mức độ chuyên nghiệp Điểm giống nhau của các hình thức hoạt động
này là chưa có cơ chế phối hợp rõ ràng; mức độ phối với giữa các bên trong hoạt động lỏng
lẻo; chưa có chính sách chung cho hoạt động tình nguyện. Điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt
động tình nguỵên do các cơ quan, tổ chức, cá nhân…trong nước và nước ngoài tổ chức
thực hiện là hoạt động của các tổ chức nước ngoài chuyên nghiệp hơn; chủ động về tài
chính; chủ động về hoạt động. Ngược lại, các hoạt động tình nguỵên trong nước chưa
chuyên nghiệp, chưa chủ động về tài chính do đó khó chủ động về hoạt động. Đặc biệt,
riêng các hoạt động tình nguyện do các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện khó tách bạch
giữa hoạt động hội và hoạt động tình nguyện….
Tác động của hoạt động tình nguyện đến công tác xoá đói giảm nghèo:
- Hoạt động tình nguyện được thực hiện trong nhiều năm nay cho thấy hoạt động tình
nguyện đã trực tiếp góp phần xoá đói giảm nghèo
- Quá trình trao đổi, hợp tác giữa cán bộ các cấp, các ngành với các tổ chức trong quá
trình thực hiện các hoạt động động tình nguyện trong hoạt động xoá đói giảm nghèo đã
nâng cao năng lực cho cán bộ và cho các đối tác Việt Nam
- Xuất phát từ hướng tiếp cận từ dưới lên trong các dự án xoá đói giảm nghèo bền vững
với sự tham gia của các tình nguỵên viên giúp cho người dân được bồi đắp về kiến thức,
kỹ năng trong hoạt động kinh tế chính là hoạt động tình nguyện đã nâng cao năng lực
cho người dân đồng thời góp phần phát huy và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
- Việc các cá nhân và cộng đồng được tiếp xúc, hoạt động cùng các tình nguyện viên với
quá trình tương tác, trao đổi… giúp cho các cá nhân, cộng đồng được mở rộng giao
lưu, tự tin. Bên cạnh đó, các cá nhân, cộng đồng vượt lên số phận, tự đi trên đôi chân
của chính mình, tự nhận ra bản thân… thông qua các hoạt động tình nguyện cũng như
sự trợ giup từ các hoạt động tình nguyện đã giúp tăng quyền năng cho cá nhân và cộng
đồng
- “Dễ một lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong” nhấn mạnh đến sức
- Qua mười năm hoạt động tình nguyện do Trung ương đoàn phát động vào mùa hè,
trong đó có nhiều hoạt động hướng đến công tác giáo dục với nhiều thành tựu đã đạt
được góp phần xây dựng hình ảnh tốt đẹp về thanh niên, đoàn thanh niên trong cộng
đồng và thúc đẩy tinh thần tình nguyện.
Tác động của hoạt động tình nguỵên đến bảo vệ môi trường:
- Bản thân tình nguyện viên tham gia các hoạt động tình nguyện bảo vệ môi trường cũng
là hình thức nâng cao nhận thức và trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ môi
trường. Ngoài ra, các hoạt động tình nguyện với hình thức cung cấp kiến thức, kỹ năng
cho cá nhân và cộng đồng đã góp phần giúp cho các cá nhân và cộng đồng nâng cao
nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi có lợi cho môi trường
- Việc kết hợp một cách sáng tạo giữa hoạt động tình nguyện và phát triển kinh tế bền
vững thì hoạt động tình nguyện đã thực hiện được việc tình nguyện viên và gia đình của
họ chính là người được thụ hưởng kết quả đầu ra của hoạt động tình nguyện tình bảo vệ
môi trường. Điều này tạo điều kiện cho hoạt động tình nguyện được thực hiện và nhân
rộng một cách tự giác và bền vững
- Các hoạt động tình nguyện bảo vệ môi trường diễn ra ở các đô thị đã tạo phong trào xây
dựng nếp sống văn minh đô thị
4
- Nhiều mô hình tình nguyện vì môi trường, cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường cũng
như các mô hình tự quản bảo vệ môi trường đã ra đời và hoạt động đã thúc đẩy tinh
thần tình nguyện trong công tác bảo vệ môi trường
Tác động của hoạt động tình nguỵên đến công tác bình đẳng giới:
- Bản thân việc được hợp tác với các chuyên gia, tình nguyện viên đến từ nhiều quốc gia
khác nhau thông qua các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nước ngoài…hỗ trợ
Việt Nam về bình đẳng giới đã tăng cường năng lực cho đối tác Việt Nam và xây dựng
khung pháp lý về bình đẳng giới ở Việt Nam
- Nhiều hình thức tình nguyện nhằm tuyên truyền về bình đẳng giới hoặc phòng chống
bạo lực gia đình tại cộng đồng đã góp phần thay đổi nhận thức của cộng đồng về bình
đẳng giới
Với những phát hiện như vậy, nghiên cứu đề xuất hai giải pháp cơ bản: (1) cần thiết
phải ra đời Trung tâm điều phối tình nguyện nhằm thống nhất quản lý về hoạt động tình
nguyện; (2) Cần hoàn thiện hành lang pháp lý, chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi
thúc đẩy hoạt động tình nguyện phát triển: trước mắt cần phê duyệt chính sách cho thanh
niên tình nguyện và trong vòng 5 – 10 năm cần xây dựng và ban hành Luật tình nguyện
PHẦN MỞ ĐẦU: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Tính cấp thiết
Hoạt động tình nguyện là một công cụ hữu hiệu và có sức mạnh to lớn giúp giải
quyết nhiều vấn đề xã hội, đóng góp cho sự phát triển của xã hội. Xét theo khía cạnh cá
nhân, hoạt động tình nguyện giúp tăng cường tính đoàn kết, sự nhường nhịn và tin tưởng lẫn
nhau trong nội bộ tình nguyện viên nói riêng và giữa các công dân trong cộng đồng xã hội
nói chung. Tham gia hoạt động tình nguyện giúp các tình nguyện viên phát triển về cả năng
lực, kiến thức cũng như nhân cách cho bản thân để lấy đó làm nền tảng trở thành những
công dân tiên tiến và có ích. Mặt khác, lợi ích to lớn mà hoạt động tình nguyện đem lại cho
cộng đồng là điều không thể phủ nhận. Những người tham gia vào các hoạt động tình
nguyện đa phần có tấm lòng rộng mở, quan tâm tới lợi ích của số đông và của cộng đồng,
đồng thời lại là những người năng động và nhiệt huyết.
Đặc biệt là trong thời đại hiện nay, khi cả thế giới đang hướng tới việc hoàn thành
các mục tiêu thiên niên kỷ, sự tham gia đóng góp, đồng tâm hợp lực của tất cả công dân
quốc tế là rất quan trọng, hoạt động tình nguyện là một cách thức giúp các cá nhân thực
hiện hoá sự tham gia vào quá trình phát triển chung này.
Rất nhiều các tổ chức tình nguyện ra đời vào khoảng những năm 70 với sự tham gia
của hàng trăm nghìn thanh niên đã đem lại lợi ích kinh tế và xã hội to lớn (theo UNV Việt
Nam). Từ đó tới nay, hoạt động tình nguyện tại Việt Nam vẫn tiếp tục phát triển và phát
huy sức mạnh thần kỳ của nó, đặc biệt là các hoạt động thanh niên tình nguyện được tổ
chức và thực hiện bởi giới học sinh, sinh viên trên toàn quốc. Các hoạt động tình nguyện ở
Việt Nam hết sức đa dạng và phong phú về cả đối tượng lẫn hình thức. Đặc biệt, sự có mặt
để đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm phát huy nguồn lực tình nguyện vì sự
phát triển.
- Khuyến nghị chính sách về tình nguyện và sự phát triển
3. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại Hà Nội; Thành phố Hồ Chí Minh; Hà Giang, Bến
Tre; Huế với thời gian thực hiện từ tháng 6/2011 đến tháng 11/2011
4. Khái niệm và lý luận về Tình nguyện
a. Tình nguyện là gì?
Có rất nhiều khái niệm và cách diễn giải khác nhau đối với thuật ngữ tình nguyện.
Tuy nhiên, các khái niệm này đều chia sẻ một số điểm chung như sau (1) tôn trọng tính tự
nguyện (free choice) của người tham gia tình nguyện, hay nói một cách khác là mức độ ra
quyết định của người tình nguyện đối với công việc mà họ sẽ tham gia, hoàn toàn tự do và
không mang tính ép buộc; (2) các kết quả tích cực đối với cộng đồng; (3) không vì mục
đích kinh tế của cá nhân (Volunteering SA Inc, 1999).
Ở Việt Nam, khái niệm tình nguyện không còn là khái niệm mới nhưng cách hiểu về
khái niệm này còn có những tranh cãi. Bên cạnh đó, có một số hoạt động diễn ra trên thực
7
tế gần giống, giống với hoạt động tình nguyện nhưng lại không đồng nghĩa với hoạt động
tình nguyện. Ví dụ các hoạt động thuộc công tác dân vận, phụ vận, thanh vận… hoặc hoạt
động từ thiện, tự nguyện như tặng quà, hiện vật… cho nhóm yếu thế. Do đó, nhận diện khái
niệm tình nguyện trên thực tế khó phân biệt một cách rạch ròi.
Trong nghiên cứu này Tình nguyện được hiểu là việc một người hoặc một nhóm
người tự nguyện tham gia thực hiện một hay một vài công việc không do bắt buộc, mang lại
kết quả tích cực với cộng đồng và không nhằm mục đích thu lợi cho bản thân.
b. Tình nguyện viên là ai?
Tình nguyện viên là những người thực hiện hành động vì lợi ích chung và theo ý chí
tự do của riêng mình, với mục đích chính không phải là tài chính. Nói cách khác, tình
nguyện viên là những người cam kết thời gian và kỹ năng của họ, tự do và không tính đến
vấn đề tài chính vì lợi ích của xã hội.
động tình nguyện, các tổ chức hoạt động tình nguyện quản lý tốt hoạt động tình nguyện
nghĩa là làm tốt các việc liên quan đến tuyển dụng, làm hài lòng và giữ chân tình nguyện
viên. Tình nguyện viên có thể tham gia hoạt động tình nguyện nhưng tổ chức có giữ được
chân tình nguyện viên hay không phụ thuộc vào việc quản lý hoạt động tình nguyện.
Thực tế cho thấy không ít tình nguyện viên không tham gia hoạt động tình nguyện
nữa vì lý do quản lý hoạt động không tốt. Đó có thể là vì tổ chức không sử dụng tốt thời
gian của tình nguyện viên; không biết tận dụng năng lực của họ; nhiệm vụ của tình nguyện
viên không rõ ràng. Một xu hướng hiện nay trong khu vực từ thiện đó là các tổ chức áp
dụng cách quản lý hiệu quả đã được kiểm nghiệm ở khu vực kinh doanh. Mặc dù nhiều tổ
chức từ thiện không chấp nhận thực tế là họ có thể phát triển theo hướng giống như khu
vực kinh doanh nhưng các nhà tài trợ hay các thành viên ban quản lý thường yêu cầu tổ
chức cần phải áp dụng những phương pháp quản lý hiện đại nhờ đó họ có thể có phong cách
quản lý chuyên nghiệp hơn.(Hager, 2004).
5. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng
Công tác tình nguyện trải rộng ở tất cả các khía cạnh phát triển kinh tế xã hội trên
tất cả các lĩnh vực khác nhau, tại các nhóm xã hội và các cộng đồng khác nhau trên toàn xã
hội với rất nhiều hình thức khác nhau. Do đó, sẽ là quá tham vọng nếu muốn tìm hiểu một
cách chi tiết tác động của hoạt động tình nguyện lên tất cả các nhóm xã hội có thụ hưởng
hoạt động tình nguyện trên tất cả các lĩnh vực mà hoạt động tình nguyện đang đóng góp.
Do đó, đề tài nghiên cứu này sẽ tập trung phân tích năm chủ đề cơ bản dựa trên 8 mục tiêu
thiên niên kỷ (MDGs).
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính có sự tham gia làm chủ đạo:
Phương pháp nghiên cứu định tính (phân tích tài liệu; phỏng vấn sâu: được áp dụng với cán
bộ đại diện chính quyền, các tổ chức xã hội có thụ hưởng hoạt động tình nguyện của địa
bàn được lựa chọn nghiên cứu; đại diện tập thể hoặc các cơ quan tổ chức trong nước và
quốc tế đã thực hiện các hoạt động tình nguyện ở Việt Nam; thảo luận nhóm: 4 thảo luận
nhóm với đại diện các nhóm tình nguyện viên tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; 10
thảo luận nhóm tại Hà Giang; Huế; Bến Tre với nhóm tiếp nhận hoạt động tình nguyện,
thực hiện hoạt động tình nguyện, đại diện của chính quyền, đoàn thể cấp huyện và cơ sở) là
chính và kiểm chứng, đối chiếu, so sánh bằng phương pháp định lượng với 600 hộ dân tại 3
1.1.1. Tổ chức có hoạt động tình nguyện thuộc chính phủ
Hệ thống chính trị tại Việt Nam bao gồm Đảng; Nhà nước; Mặt trận, Công đoàn và
Các tổ chức chính trị - xã hội khác. Trong đó, sáu tổ chức chính trị - xã hội nằm trong hệ
thống chính trị Việt nam như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt
Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến
binh Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam không thuộc trong nhóm phi chính phủ
Hình thức hoạt động tình nguyện
chính thức
Hình thức hoạt động tình
nguyện phichính thức
Hoạt động tình
nguyện được tổ chức
bởi các tổ chức có
hoạt động tình nguyện
thuộc chính phủ
Hoạt động tình nguyện được tổ
chức bởi các tổ chức có hoạt
động tình nguyện thuộc các tổ
chức quốc tế hoặc NGOs
Các tổ chức chính trị
xã hội
của Nhà nước; Hoạt động tiếp sức mùa thi; Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng
chống, khắc phục thiên tai, dịch bệnh; Chăm sóc giáo dục thiếu niên, nhi đồng; Hoạt động “Tiếp sức
đến trường”; Hành trình nhân ái vì sức khoẻ cộng đồng, hiến máu tình nguyện; An toàn giao thông;
Phòng chống tệ nạn xã hội; Tham gia xây dựng nông thôn mới; Tư vấn, hướng nghiệp cho đoàn viên
thanh niên; Các hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Vì nạn nhân chất độc da
cam”; Huấn luyện, trang bị kỹ năng cho thanh niên; Tình nguyện Quốc tế
Các chỉ tiêu đạt được trong chiến dịch tình nguyện hè 2011:
- Giúp đỡ 11.254 gia đình thanh niên khó khăn phát triển kinh tế, sửa chữa nhà cửa,
- Tư vấn hướng nghiệp, dạy nghề, giới thiệu việc làm cho 833.276 đoàn viên, thanh niên
- Phối hợp cùng Hội Thầy thuốc Trẻ Việt Nam các cấp, tổ chức khám chữa bệnh, tư vấn sức khỏe
tại cộng đồng cho 105.700 người với 4.572 Y, Bác sỹ trẻ tham gia;
- Vận động đoàn viên, thanh niên tham gia hiến máu với 75.636 đơn vị máu.
- Trồng mới, chăm sóc 4,23 triệu cây xanh.
- 100% Đoàn cấp xã, phường, thị trấn tổ chức hoạt động hè cho thiếu nhi ở địa bàn dân cư; 65.400
trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc, giúp đỡ; tổ chức ôn tập văn hóa cho 45.000 thanh
thiếu nhi.
- Thành lập được 685 đội hình với 46.589 thanh niên, sinh viên tình nguyện tham gia tiếp sức mùa
thi; hỗ trợ, tư vấn cho trên 940.000 lượt thí sinh và người nhà trong kỳ thi tuyển sinh đại học,
cao đẳng
- 100% các Tỉnh, Thành đoàn và Đoàn trực thuộc tổ chức chỉnh trang và Lễ thắp nến tri ân tại
2089 nghĩa trang liệt sỹ trong cả nước
Nguồn: Báo cáo kết quả chiến dịch thanh niên tình nguyện hè 2011. Trung ương Đoàn
11
trong nước ở Việt Nam. Kinh phí hoạt động của các đoàn thể này do nhà nước cấp theo quy
định của pháp luật và quy định cụ thể chức năng nhiệm vụ. Hoạt động tình nguyện là một
trong những hoạt động mà các tổ chức này tổ chức hoạt động hoặc là độc lập hoặc phối kết
hợp với các tổ chức đoàn thế khác, các tổ chức phi chính phủ có hoạt động tình nguyện
Nhiều tổ chức, câu lạc bộ tình nguyện dưới sự quản lý của cơ quan/tổ chức thuộc hệ
thống chính trị, quản lý nhà nước cũng xem như tổ chức tình nguyện thuộc mô hình tổ chức
VNGOs) là trong khoảng hai thập kỷ qua. Hiện nay, số lượng các VNGOs đã được thành
lập trên cả nước có khoảng trên 4.000 tổ chức Phi Chính phủ có cơ quan chủ quản (Dạ
12
Yến, 2010). Trong đó, khoảng gần 300 VNGOs đăng ký hoạt động thông qua/ trực thuộc
Liên hiệp các Hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - VUSTA. Số lượng các VNGOs không
có cơ quan chủ quản, thường gọi là các tổ chức khoa học công nghệ độc lập lên tới hàng
trăm đơn vị.
Hộp 2. Hoạt động tình nguyện của Câu lạc bộ Vì sự Phát triển Bền vững (SDC)
Câu lạc bộ Vì sự Phát triển Bền vững (Sustainable Development Club - SDC) được thành
lập bởi Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Bền vững (Center for Sustainable Development Studies -
tên viết tắt là CSDS) và một nhóm các tình nguyện viên đến từ nhiều trường đại học và tổ chức trên
địa bàn thành phố Hà Nội. SDC hoạt động dưới sự điều phối của ban điều hành câu lạc bộ, bên cạnh
sự giám sát và hỗ trợ từ tổ chức chủ quản – CSDS. CSDS là một tổ chức phi lợi nhuận của Việt
Nam đăng ký hoạt động tại Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Bộ
Khoa học và Công nghệ (MOST). Lĩnh vực hoạt động của CSDS biến đổi khí hậu, bảo vệ môi
trường, trao quyền cho phụ nữ thông qua hỗ trợ sinh kế bền vững, hỗ trợ trẻ em thông qua hòa nhập
xã hội, hỗ trợ phát triển thanh niên thông qua trao đổi quốc tế và giáo dục không chính quy. CSDS
đang hoạt động trong các khu vực khác nhau tại Việt Nam như: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà
Nẵng, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Nam Định và Hải Dương.
Các hoạt động tình nguyện của Câu lạc bộ Vì sự Phát triển Bền vững được lồng ghép trong
các hoạt động của các dự án do CSDS thực hiện. Một trong những dự án tiêu biểu cho sự lồng ghép
các hoạt động tình nguyện là dự án Du lịch thiện nguyện - HumaniTour. HumaniTour bước đầu được
thực hiện thành công và đã nhận được giải thưởng Doanh nhân xã hội của CSIP vào năm 2010 vì sự
sáng tạo cũng như triển vọng đóng góp cho cộng đồng. HumaniTour như một công cụ để kết nối các
nhà tài trợ và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn thông qua du lịch. Humanitour xây dựng các chương
trình du lịch nhằm đưa các nhà tài trợ đến với các trại trẻ mồ côi hoặc các trung tâm nuôi dưỡng trẻ
khuyết tật để giúp đỡ bằng cách lao động tình nguyện hoặc tài trợ tiền mặt cho các trung tâm. Các
chương trình của Humanitour có hoạt động tình nguyện gồm Du lịch từ thiện, Du lịch sinh thái, Du
lịch tình nguyện. Các hướng dẫn viên của các chương trình du lịch thiện nguyện đều là các tình
Nam liên quan nhiều đến lịch sử thống nhất đất nước. Một dấu mốc quan trọng mở ra mối
quan hệ phát triển nhanh với NGOs phải kể đến chính sách Đổi mới của Nhà nước ta năm
1986. Chính sách Đổi mới với chủ trương tăng cường hội nhập quốc tế, nâng cao hiệu quả
hợp tác với NGOs quốc gia và quốc tế. Với mục đích góp phần tăng cường sự hiểu biết lẫn
nhau, quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân các nước. Theo đó, số lượng NGOs nước
ngoài có quan hệ với Việt Nam tăng lên và giá trị viện trợ cũng theo đó tăng dần.
Đến năm 2011, ước tính có khoảng 900 tổ chức quốc tế và NGOs nước ngoài hoạt
động tại Việt Nam, trong đó, có khoảng gần 20 tổ chức đang hoạt động tình nguyện tại
Việt Nam như Chương trình Tình nguyện Liên Hợp Quốc (UNV); Cơ quan hợp tác quốc tế
Hàn Quốc (KOICA); Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Cộng hoà Liên bang Đức (DED); Cơ quan
Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA); Sứ giả trẻ của Úc vì sự phát triển (AYAD); tổ chức
Tình nguyện vì sự phát triển quốc tế Úc (VIDA) ; WUSC; CECI ; VPV; Volunteers in Asia;
Tổ chức phát triển cộng đồng Đức - Việt; Voluntary Service Overseas; Volunteers for
Peace Vietnam; EducationforDevelopment (EFD); Tổ chức Tình nguyện viên Quốc tế Úc
(AVI); Tổ chức Tình nguyện viên Y tế hải ngoại; Hội Tình nguyện viên hải ngoại (VSO);
Tổ chức Tình nguyện viên Châu Á (VIA); Tổ chức Tình nguyện vì sự Phát triển của Cộng
đồng và Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường (VFCD); Liên hiệp các Hội Chữ thập đỏ và
Trăng lưỡi liềm đỏ Quốc tế (IFRC); Chương trình Hỗ trợ Đại học Thế giới Canada
(WUSC)…
Các tổ chức quốc tế hoặc NGOs nước ngoài có hoạt động tình nguỵên tại Việt Nam
đều tuân thủ các thủ tục pháp lý và nguyên tắc hoạt động theo quy định của pháp luật Việt
Nam đối với các tổ chức quốc tế và NGOs nước ngoài nói chung tại Việt Nam. Hoạt động
tình nguỵên của các tổ chức này có những đặc điểm khác biệt so với các hoạt động tình
nguyện chính thức và phi chính thức trong nước về mức độ chuyên nghiệp trong tổ chức
14
hoạt động tình nguyện, tuyển dụng, đào tạo tình nguyện viên, nguồn kinh phí hoạt động
(xem trong phần so sánh bảng 1).
Hộp 3. Về UNV và hoạt động của UNV tại Việt Nam
Chương trình Tình nguyện Liên Hợp Quốc (UNV) là tổ chức Liên Hợp Quốc (LHQ) có sứ mệnh đóng
thần tình nguyện. Một trong các dự án điển hình nhất do UNV hỗ trợ là dự án Tăng cường Năng lực Tình nguyện
vì Phát triển tại Việt Nam do Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ chí Minh thực hiện. Mục tiêu của dự
án là tăng cường năng lực tình nguyện tại Việt Nam bao gồm việc thành lập Trung tâm Thông tin Nguồn lực
Tình nguyện,Trung tâm này sẽ trở thành một cơ sở cấp quốc gia lâu dài và bền vững để khuyến khích và hỗ trợ
cho phong trào tình nguyện vì phát triển nhằm trợ giúp tốt hơn cho thanh niên và các nhóm yếu thế ở Việt Nam.
Dự án huy động được các tình nguyện viên LHQ quốc tế và quốc gia, các tình nguyện viên quốc tế khác từ các tổ
chức tình nguyện như VSO, AVI, SJ Việt Nam và Tình nguyện Pháp. Cũng trong khuôn khổ của dự án này,
chính sách thanh niên tình nguyện đã được phác thảo và trình lên Vụ Thanh niên của Bộ Nội vụ để xem xét và
hoàn chỉnh sau đó Bộ Nội vụ sẽ trình lên Thủ tướng phê duyệt
Nguồn: UNV tại Việt Nam
15
Hộp 4. Tổ chức Solidarités Jeunesses Vietnam (SJ Vietnam)
Là một tổ chức phi chính phủ của Pháp, hoạt động tại Việt Nam từ năm 2004 với mục tiêu đoàn
kết, vì hòa bình, SJ Vietnam là cầu nối cho hàng nghìn thanh niên trên thế giới có cơ hội giao lưu, học hỏi,
chia sẻ và hoạt động tình nguyện với tình nguyện viên Việt Nam thông qua các dự án ngắn hạn và dài hạn.
SJ Vietnam là thành viên của mạng lưới “Tình nguyện phát triển châu Á – Thái Bình Dương”
(NVDA) và “Ủy ban điều phối các hoạt động tình nguyện quốc tế” (CCIVS) tại UNESCO, là đối tác của
phong trào “Thanh niên hoạt động tình nguyện vì hòa bình” (YAP) và “Hiệp hội các tổ chức tình nguyện
châu Âu” Alliance; Là Ban tổng thư ký của Mạng lưới tình nguyện phát triển châu Á - Thái Bình Dương
từ năm 2010.
Năm 2011, SJ Việt Nam được nhận giải thưởng quốc gia của Trung ương Đoàn thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh và Chương trình Người tình nguyện Liên hiệp quốc, vinh danh là một trong 10 tổ chức
tình nguyện xuất sắc nhất Việt Nam.
Từ năm 2006 đến này, SJ Việt Nam đã điều phối, thực hiện thành công 4 dự án đạt giải “Ngày
sáng tạo Việt Nam” của Ngân hàng thế giới về trẻ em thiệt thòi, người có HIV, bảo vệ môi trường và
nhiều dự án thanh niên tình nguyện của Liên minh châu Âu.
Mỗi năm, SJ Việt Nam đón nhận khoảng 500 tình nguyện viên quốc tế từ khắp các châu lục và gửi
tình nguyện viên Việt Nam đi tập huấn và hoạt động tình nguyện tại các nước như Pháp, Bỉ, Nhật Bản,
16
quốc gia đó… Để các hoạt động tình nguyện được thực hiện tại các địa phương, các tổ chức
này phối kết hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương hoặc thông qua các VNGOs như
các cơ quan đối tác (xem Hộp 3 và 4).
1.1.4. Hình thức hoạt động tình nguyện phi chính chức
Sự vận động của xã hội đa dạng còn ở chỗ có không ít các tổ chức không chính
danh – theo nghĩa là không cần đăng ký, không cần cấp quản lý nào thông qua ,xét duyệt
Điều lệ, quy chế, thỏa thuận… Đó là các Hội trọng thọ, Hội đồng hương , Hội đồng môn,
Hội của các dòng họ, các nhóm tình nguyện, các câu lạc bộ tại cộng đồng, các nhóm đồng
đẳng, nhóm sinh viên … Với các tổ chức hoạt động không chính danh thì không thể thống
kê một cách chính xác có bao nhiêu tổ chức, câu lạc bộ, mạng lưới… vì không có cơ sở nào
để xác định.
Trong số đó, có thể kể đến một số nhóm, câu lạc bộ tình nguyện ở Hà Nội như
Cộng Đồng Ninh Bình Trẻ khu vực Hà Nội; Đội Sinh Viên Tình Nguyện Lam Sơn; Đội
Tình nguyện Đồng hương Hà Tĩnh tại Hà Nội; Hội sinh viên Bắc Giang tại Hà Nội (BSA);
Hội sinh viên Hà Bắc; Tình nguyện Niềm tin; Đội Tình Nguyện Chắp Cánh Yêu Thương;
Đồng Hành Ước Mơ; Nhóm Ngọn lửa; Câu lạc bộ Tình nguyện Hoà Bình Xanh; Câu lạc bộ
Tình Nguyện Trẻ; Câu lạc bộ Viet's Activity; Hội đồng hương sinh viên Ninh Bình tại Hà
Nội (Ninh Bình Trẻ). Một số nhóm, câu lạc bộ tình nguỵên ở Thành phố Hồ Chí Minh như
Câu lạc bộ Công tác xã hội Nhân ái; Câu lạc bộ Nét bút xanh; Hội thiện nguyện Trái Tim
Yêu Thương; Nhóm tình nguyện Những ước mơ xanh; Thoáng Sài gòn Group; Một số câu
lạc bộ tình nguyện ở Huế như Câu lạc bộ TAT; Câu lạc bộ Thủ lĩnh Thanh niên Thừa Thiên
Huế; Câu lạc bộ Hành Trình Xanh Huế; nhóm tình nguyện Hải Đăng ở Hải Phòng…Bên
cạnh các tổ câu lạc bộ, đội, nhóm, mạng lưới còn có mô hình tổ chức cá nhân như Hội tình
nguyện Chung tay vì cộng đồng; Trường trung cấp kinh tế - du lịch Hoa sữa; Tình Nguyện
Cỏ Ba Lá…
Hoạt động của các hội này phần lớn là theo vụ việc, có thể có quy chế, điều lệ
nhưng không ràng buộc chặt chẽ theo hệ thống thiết chế các cấp mà dựa trên sự đồng
thuận. Mục tiêu của các hình thức hoạt động tình nguỵên này là đáp ứng nhu cầu của nhóm
Các hoạt động mà Nhóm phối hợp với nhiều câu lạc bộ và nhóm tình nguyện khác trên cả nước để
tổ chức nhiều chương trình lớn như phối hợp với nhóm Chung tay tổ chức đêm trung thu “Nụ cười đêm
trăng” cho trẻ nhiếm HIV (tháng 8- 2008), hỗ trợ tình nguyện Thanh Hóa trong chương trình “Áo ấm mùa
đông” (tháng 9- 2008), cộng tác với Blouse Trắng khám chữa răng miễn phí cho trẻ ở Làng Hữu Nghị
(tháng 7- 2009), giao lưu với Tình nguyện Sơn La, Việt Nam xanh trong chương trình “Giao lưu thể thao-
Kỷ niệm ngày Thương binh liệt sỹ 27-7” (tháng 7- 2009)…
Các dự án đang thực hiện như Dự án Thiệp Nhân Ái - Dự án Đội chiếu phim lưu động; Dự án
Thư viện sách cho trẻ em miền núi; Dự án Thư viện sách nói online cho người khiếm thị…
Nhóm tình nguyện Niềm Tin được ghi nhận là 20 nhóm tiêu biểu về hoạt động thiện nguyện trên
cả nước trong chương trình “Chim Én 2009” do tập đoàn FPT tổ chức trên website www.vicongdong.vn
năm 2009. Năm 2010, dự án Thiệp Nhân Ái của nhóm tình nguyện Niềm Tin đã vượt qua hơn 100 dự án
cộng đồng khác để đoạt "Đề án xuất sắc” trong trong chương trình "Mầm Nhân Ái 2" do tập đoàn FPT tổ
chức trên website www.vicongdong.vn. Năm 2010, nhóm tình nguyện Niềm Tin gia nhập Hội Thanh Niên
Tình Nguyện - Hà Nội
Nguồn: Trung ương Đoàn (Ban tổ chức Giải thưởng tình nguyện 2011)
Trung tâm thông tin nguồn lực tình nguyện Việt Nam (VVIRC). http://vvirc.vn/
Nhóm tình nguyện Niềm tin. http://tinhnguyenniemtin.com
Hình thức hoạt động tình nguyện này không nhất thiết có phân chia các vị trí quản lý
tình nguyện một cách rõ ràng mà hướng đến sự tham gia bình đẳng của các tình nguỵên viên
và thậm chí người điều hành hoạt động tình nguyện cũng đồng thời là tình nguyện viên. Một
cá nhân cũng có thể thực hiện hoạt động tình nguyện mà không cần phải liên hệ hoặc thông
qua, xin phép chính quyền địa phương hay đoàn thể nào nếu trong cùng cộng đồng. Tuy
18
nhiên, phần lớn các hoạt động tình nguyện theo nhóm hoặc phối kết hợp giữa các nhóm
khác nhau tới địa phương khác, cộng đồng khác thì các đội nhóm vẫn phải xin phép và
thông qua hoặc phối kết hợp cùng chính quyền hoặc các tổ chức chính trị xã hội tại địa
phương. Hoạt động tình nguyện không chính danh thường gặp phải những khó khăn nhất
định như nguồn lực về tài chính và con người cũng như khó hoạt động nếu chưa có uy tín
với cộng đồng, địa phương.
quốc tế hoặc INGOs như là đối tác
hoặc đơn vị tiếp nhận tình nguyện
viên (xem hộp 2)
Có thể là các hoạt động độc lập
(thông qua hoặc phối hợp với
chính quyền, đoàn thể địa phương,
VNGOs) (xem hộp 3)
Hoạt động độc lập hoặc phối
hợp, liên kết giữa các đội, nhóm,
câu lạc bộ với nhau (xem hộp 5)
Thời gian Thường là các phong trào ngắn hạn:
mang tính sự kiện hoặc lặp lại theo niên hạn.
(Xem hộp 1)
Ngắn hạn hoặc dài hạn tuỳ
theo từng hoạt động cụ thể khác
của tổ chức. (xem hộp 2)
Ngắn hạn và dài hạn tuỳ theo
hoạt động cụ thể khác của tổ chức
(xem hộp 4)
Ngắn hạn và theo sự kiện cụ
thể là phổ biến (xem hộp 5)
Số lượng
tình nguyện
viên tham
gia
Số lượng lớn tình nguyện viên
Chiến dịch tình nguyện hè 2011 của Đoàn
thanh niên thu hút được 6,2 triệu lượt thanh
niên tình nguyện và nhân dân tham gia. Trong
20
Nền tảng
hoạt động
Tính cố kết cộng đồng, yêu đất nước, mong
muốn cống hiến cho sự phát triển của đất
nước
Tính cố kết cộng đồng, yêu đất
nước, mong muốn cống hiến cho
sự phát triển của đất nước
Hợp tác hữu nghị, mở rộng quan
hệ giữa các quốc gia, trao đổi văn
hoá
Tính cố kết cộng đồng, yêu đất
nước, mong muốn cống hiến cho
sự phát triển của đất nước
Nguồn lực
tài chính cho
hoạt động
tình nguyện
Huy động từ cá nhân, doanh nghiệp đóng
trên địa bàn, các cơ quan – đoàn thể trực
thuộc hoặc tình nguyện viên đóng góp trang
trải chi phí cá nhân
Không có khoản chi trả chính thức cho
nhóm quản lý hoạt động tình nguyện.
Huy động sự tài trợ từ các tổ
chức quốc tế, các tổ chức phi
chính phủ quốc tế là chủ yếu.
Ngoài ra có sự huy động tài trợ từ
nguyện và tình nguyện viên nói chung
Tuân theo quy định của pháp
luật về Hội, VNGOs.
Các chính sách đối với tình
nguyện viên và hoạt động tình
nguyện thuộc tổ chức dựa trên
nguyên tắc thoả thuận của tổ chức
với tình nguyện viên
Chưa có chính sách của nhà
nước cụ thể cho hoạt động và tình
nguyện viên nói chung
Có quy định riêng của tổ
chức khác nhau thuộc quốc gia
khác nhau.
Việt Nam co một số quy định
về viện trợ nước ngoài, cứu trợ
khẩn cấp…. chưa có chính sách cụ
thể cho các tổ chức quốc tế hoặc
INGOs có tình nguyện viên hay
tình nguyện viên quốc tế tại Việt
Nam
Tuân thủ pháp luật của Nhà
nước ở các lĩnh vực có liên quan.
Nguyên tắc hoạt động dựa trên
sự đồng thuận của thành viên và
tình nguyện viên
Chưa có chính sách cụ thể cho
tình nguyện viên và hoạt động tình
nguỵên nói chung
Tổ chức và quản lý hoạt động tình
nguyện là nhịêm vụ chính trị hơn là đam mê
hoạt động tình nguyện.
Tính chuyên nghiệp của tình nguyện viên
không cao
Tính chính thức của cơ cấu
tình nguyện không phổ biến và
chưa chuyên nghiệp.
Hình thức tình nguyện phổ
biến là các hệ thống hỗ trợ phi
chính thức hoặc các mạng lưới đôi
bên cùng có lợi hoặc tự lực
Tính chuyên nghiệp của tình
nguyện viên không cao
Cơ cấu tình nguyện chính
thức phổ biến và chuyên nghiệp,
tập trung vào các hình thức hoạt
động từ thiện; hoạt động thúc đẩy
tinh thần tình nguyện.
Tính chuyên nghiệp của
tình nguyện viên cao
Tính chính thức của cơ cấu
tình nguyện không phổ biến và
chưa chuyên nghiệp.
Hình thức tình nguyện phổ
biến là các hệ thống hỗ trợ phi
chính thức hoặc các mạng lưới đôi
bên cùng có lợi hoặc tự lực
Tính chuyên nghiệp của tình
nguyện viên không cao
Đỏ. Đồng thời áp dụng đối với cán bộ Hội, tình nguyện viên Chữ Thập Đỏ và các cấp Hội
Chữ Thập Đỏ Việt Nam quy định rõ về tình nguyện viên, tổ chức và hoạt động của tình
nguyện viên, quản lý tình nguyện viên cũng như chính sách khen thưởng, kỷ luật đối với tổ
chức và tình nguyện viên.
Về những chính sách, pháp lý có liên quan đến các tổ chức phi chính phủ
nước ngoài và tiếp nhận theo pháp luật Việt Nam: Không phải các tổ chức phi chính
phủ nước ngoài nào tại Việt Nam cũng có các hoạt động tình nguyện. Tuy nhiên, khi các tổ
chức phi chính phủ nước ngoài nói chung hoặc tổ chức phi chính phủ nước ngoài có hoạt
động tình nguyện nói riêng đang hoạt động tại Việt Nam thì đều tuân thủ các quy định của
Việt Nam. Trong các văn bản pháp quy có liên quan có thể kể đến đó là việc cấp Giấy phép
23
lập Văn phòng Đại diện, Giấy phép lập Văn phòng Dự án và Giấy phép hoạt động cho các
tổ chức tình nguyện nước ngoài hoặc NGOs nước ngoài. Theo đó, một cơ quan liên ngành
chuyên trách - Uỷ ban Công tác về các Tổ chức phi chính phủ nước ngoài với 9 thành viên
cấp Thứ trưởng từ các Bộ, ngành của Việt Nam được thành lập. Điều này thể hiện sự công
nhận chính thức đối với sự có mặt của các tổ chức này tại Việt Nam và tạo dựng một cơ chế
trong việc phối hợp, hợp tác giữa Việt Nam với các tổ chức này nhưng cũng làm cho các
thủ tục hành chính phải qua nhiều khâu, nhiều mắt xích.
Bên cạnh đó, một trong những vấn đề mà một số tổ chức tiếp nhận tình nguyện viên
quốc tế muốn thay đổi nhằm khuyến khích và tôn vinh tình nguyện viên quốc tế tới Việt
Nam đó là thủ tục xin cấp Visa cho tình nguyện viên quốc tế. Kinh nghiệm ở một số quốc
gia khi nộp hồ sơ visa cho tình nguyện viên được miễn phí và được cấp một loại visa không
phải là visa kinh doanh hay du lịch nhưng hiện nay các tình nguyện viên quốc tế đến Việt
Nam chưa có loại visa riêng cho các hoạt động tình nguyện mà vẫn sử dụng loại visa kinh
doanh hay du lịch.
Về chính sách liên quan đến tiếp nhận và thực hiện hoạt động tình nguyện
nằm trong những quy định chung về tiếp nhận, quản lý viện trợ không hoàn lại, viện trợ
nhân đạo… thông qua Luật (Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Luật hoạt động chữ thập
đỏ…) hay các thông tư, chỉ thị, quyết định Chính phủ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy có đến 90% trong 600 hộ tại 3 địa bàn khảo sát khẳng
định đã nhận ít nhất 1 hoạt động giúp đỡ trong hoạt động xoá đói giảm nghèo. Trong đó có
55,5% là sự giúp đỡ từ phía các tổ chức chính trị - xã hội; INGOs; VNGOs, cộng đồng, cá
nhân và các tổ chức khác.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ các hộ gia đình nhận được sự giúp cao nhất trong
lĩnh vực xoá đói giảm nghèo. Trung bình mỗi hộ gia đình trong mẫu khảo sát nhận được hơn
1 lượt (1,14 lượt) sự giúp đỡ từ các hoạt động không thuộc hoạt động tình nguyện (Nhà
nước); 0,66 lượt từ các tổ chức chính trị xã hội; 0,18 lượt từ NGOs và 0,05 lượt từ cá nhân,
cộng đồng. Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ hộ gia đình nhận được trợ giúp về kiến thức
chăn muôi gia súc gia cầm với tỷ lệ cao nhất (Xem biểu 1). Số liệu biểu cũng cho thấy các
hoạt động trợ giúp chủ yếu nhằm vào các hoạt động dài hạn hơn là ngắn hạn và hướng vào
mục tiêu cung cấp kiến thức, hỗ trợ vốn cho hộ gia đình sản xuất và thông qua đó tạo việc
làm cho hộ gia đình.
Biểu1.Hoạt động trợ giúp xoá đói giảm nghèo hộ gia đình nhận được (%)
41.7
19.1
15.3
11.9
9.2
2.7
0
5
10
15
20
25
30
35
40
45
chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo” nhằm kêu gọi cán bộ, hội viên, thanh
thiếu niên, tình nguyện viên Hội Chữ thập đỏ trợ giúp các đối tượng đặc biệt khó khăn tại
cộng đồng vươn lên trong cuộc sống, đồng thời vận động các tổ chức, cá nhân hưởng ứng
và tham gia trợ giúp trực tiếp các đối tượng khó khăn theo giới thiệu của Hội Chữ thập đỏ.
Cuộc vận động được thực hiện ở Hội Chữ Thập Đỏ các cấp, đồng thời phối kết hợp với các
ban ngành đoàn thể khác như Ban Dân vận, Mặt Trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã
hội. Ban Chỉ đạo Cuộc vận động ở hầu hết các địa phương được thành lập với sự tham gia
của lãnh đạo cấp ủy, chính quyền và một số ngành, đoàn thể, ban hành văn bản chỉ đạo các
cấp, các ngành hưởng ứng, phối hợp với Hội Chữ thập đỏ để triển khai Cuộc vận động tới
các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội.
Hội đồng Bảo trợ hoạt động Chữ thập đỏ thành lập ở Trung ương Hội phục vụ công
tác xây dựng nguồn lực, tính đến 2011 thu hút 123 thành viên. Ở các địa phương công tác
vận động gây quỹ bằng các hình thức truyền thống trên các phương tiện thông tin đại chúng
như chương trình "Nối nhịp nghĩa tình” (Huế); câu lạc bộ "tấm lòng vàng”, “Nối nhịp trái
tim” (Thành phố Hồ Chí Minh); "Những trái tim đồng cảm", “Góp đồng tiền lẻ vì nghĩa tình
lớn” (Hải Phòng); “Nồi cháo tình thương”, “Bình sữa nhân ái” (Lạng Sơn); đặt hòm quyên
góp nhân đạo tại nhà ga, bến xe, chợ, chùa, siêu thị, đặt thùng gạo tiết kiệm, gửi thư ngỏ.
Công tác khảo sát đối tượng cần trợ giúp tại các địa phương được tiến hành công
khai, dân chủ, có sự tham gia của cấp chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân
dân. Các hình thức giúp đỡ như trợ cấp thường xuyên, khám chữa bệnh, tặng quà, giúp mở
cửa hàng, xây dựng nhà Chữ thập đỏ, cấp học bổng hoặc những hình thức hỗ trợ mang tính
phát triển bền vững như: trợ vốn sản xuất và phát triển chăn nuôi hoặc hỗ trợ học nghề, tạo
công ăn việc làm cho người nghèo, mở lớp học tình thương, hỗ trợ bữa ăn miễn phí cho bệnh
nhân nghèo tại bệnh viện…
Kết quả cuộc vận động thực hiện trong 3 năm (2008 – 2011) đã trợ giúp 11.495 cơ
sở nhân đạo và giúp đỡ 1.043.535 người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn với tổng trị giá
thực hiện đạt 1.103,697 tỷ
Nguồn: Trung ương Hội chữ Thập đỏ Việt Nam. Báo cáo sơ kết ba năm thực hiện cuộc vận
động “Mỗi tổ chức, mỗi cá nhân gắn với một địa chỉ nhân đạo” (2008 – 2011)