MỤC LỤC
NỘI DUNG:
MỞ ĐẦU
Các ngân hàng thương mại kinh doanh thu lợi nhuận bằng cách cung cấp dịch vụ
chuyển một loại tài sản này thành một loại tài sản khác cho công chúng. Khác với
doanh nghiệp, tài sản của Ngân hàng thương mại là các tài sản tài chính, là loại tài
sản mà quyền sở hữu và quyền sử dụng hoàn toàn tách rời nhau. Tài sản chính là tấm
gương phản ánh trình độ cũng như chất lượng hoạt động của ngân hàng. Do đó quản
lý tài sản là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển
của Ngân hàng thương mại nhất là trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập kinh tế
quốc tế như hiện nay. Theo kinh nghiệm cho thấy khi sức khỏe của nền kinh tế có sự
thay đổi thì đối tượng chịu ảnh hưởng đầu tiên là hệ thống ngân hàng. Do đó, một
ngân hàng yếu kém trong quản lý sẽ không chỉ gây tổn thất cho chính ngân hàng đó,
mà còn tạo nên những rủi ro nhất định mang tính dây chuyền cho các đơn vị khác và
ngược lại. Rõ ràng, khả năng chống đỡ của ngân hàng càng cao, khả năng hỗ trợ cho
khu vực doanh nhiệp sẽ càng lớn. Thời gian tới, khi hàng loạt các ngân hàng ngoại sẽ
ồ ạt "đổ bộ" vào Việt Nam, chắc chắn những đòi hỏi về công tác quản lý ngân hàng
sẽ càng gay gắt hơn đối với ngân hàng nội.
Trước tình hình thực tế như vậy, nhóm 2 chúng em đã chon đề tài: “Phân tích
thực trạng quản lý tài sản của Ngân hàng Vietcombank chi nhánh tại Hà Nội”
nhằm đi sâu và thực trạng và đưa ra những giải pháp nhằm giúp cho việc quản lý tài
sản của chi nhánh ngân hàng thương mại này ngày càng hiệu quả hơn.
1
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN
LÝ TÀI SẢN CỦA NHTM
1.1. Các khoản mục tài sản
1.1.1 Ngân quỹ:
Ngân quỹ là các loại tài sản có tính thanh khoản cao mà ngân hàng phải duy trì
để đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ,bao gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi
tại các ngân hàng khác
của người môi giới và giấy chứng nhận tiền lãi của tổ chức tín dụng.
Các chứng khoán ngắn hạn của chính phủ thường được xếp hàng đầu trong số
các chứng khoán thanh khoản, được giữ như một tài sản đệm cho ngân quỹ: chúng
sinh lời cao hơn ngân quỹ và khi cần có thể bán để chi trả như ngân quỹ. NHTM còn
nắm giữ một số chứng khoán có thời gian đáo hạn dài, lợi tức cao và có lợi về thuế.
Ngân hàng cũng nắm giữ chứng khoán công ty để thực hiện quyền tham dự, kiểm
soát hoạt động của công ty.
Tỷ trọng của các loại chứng khoán trong tổng mức đầu tư chứng khoán thường
thay đổi theo giá cả chứng khoán và các khoản đầu tư chứng khoán trong tổng tài sản
của ngân hàng cũng thay đổi và nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng chứng
khoán, nguồn vốn của ngân hàng, sự phát triển của nền kinh tế, thị trường chứng
khoán, công nghệ ngân hàng.
3
1.1.2 Tín dụng
Tín dụng là loại tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất ở phần lớn các ngân hàng
thương mại , phản ánh hoạt động đặc trưng của Ngân hàng . Loại tài sản này
được phần chia theo nhiều tiêu thức khác nhau
a. Tín dụng ngắn hạn,trung hạn,dài hạn.
Tín dụng ngắn hạn thời hạn từ 12 tháng trở xuống ,trung hạn từ 1 năm đến 5 năm
,dài hạn là từ 5 năm trở lên
- Tín dụng ngắn hạn mục đích là tài trợ cho tài sản lưu động.
- Tín dụng trung hạn mục đích là tài trợ cho tài sản cố định.
- Tín dụng dài hạn mục đích là tài trợ cho các công trình xây dựng.
b. Tín dụng theo hình thức tài trợ,tín dụng bao gồm:
- Cho vay và cung cấp các dịch vụ cho khách hàng
- Chứng khoán
- Bảo lãnh
- Cho thuê tài chính
c. Theo mức độ tín nhiệm gồm:
- Cho vay không đảm bảo
khách hàng, hình thành nên một loại tài sản là hợp đồng cam kết, ví dụ như hợp
đồng bảo lãnh, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn… Ngân hàng có thể quản
lý hộ tài sản cho khách hàng, cất giữ hộ… Những loại tài sản này không trực tiếp
hình thành do sử dụng nguồn vốn mà ngân hàng huy động nên được xếp vào tài sản
ngoại bảng.
1.2. Quản lý tài sản
Quản lý tài sản là hoạt động của ngân hàng thương mại với nội dung chuyển hóa
nguồn vốn – tiền gửi, tiền vay, vốn của chủ - thành các loại tài sản như ngân quỹ, tín
dụng, chứng khoán, tài sản khác theo một phương thức thích hợp, nhằm đạt được các
mục tiêu cũng như lợi ích mà ngân hàng đặt ra.
1.2.1. Mục tiêu quản lí tài sản của ngân hàng
a. Đ ảm bảo an toàn(an toàn thanh khoản,an toàn tín dụng và các an toàn khác)
Ngân hàng huy động hàng nghìn tỉ đông của các doanh nghiệp, các tổ chức xã
hội và hàng triệu cá nhân để cho vay và đầu tư, trong khi vốn sở hữu của ngân hàng
thương chỉ chiếm một phần nhỏ( dưới 10% ). Sự an toàn của hệ thống cũng như mỗi
ngân hàng là mối quan tâm thường xuyên của mỗi tầng lớp dân cư chính phủ, ngân
hàng nhà nước và các nhà quản lí ngân hàng.
5
Bên cạnh việc thực hiện các qui định của các cơ quan quản lí cấp trên, mỗi ngân
hàng đều có chính sách đảm bảo an toàn riêng, phù hợp với từng giai đoạn cụ thể.
Nguồn tiền của ngân hàng chủ yếu là tiền gửi của doanh nghiệp và cà nhân, ngân
hàng phải có nghĩa vụ chi trả nhanh chóng.Bất cứ một sự chậm trễ nào đêu có thể xảy
ra những bất lợi cho ngân hàng.Khách hàng gửi tiền tuy không có khả năng kiểm soát
hoạt động của ngân hàng như những cơ quan quản lý ,song họ lại rất nhạy cảm với
những thông tin về hoạt động cũng như tư cách đạo đức của người quản lí ngân hàng
và họ có quyền lựa chọn gửi nhanh chóng và kịp thời. Điều đáng cân nhắc là nhiều
nhu cầu của các loại khách lại mâu thuẫn với yêu cầu an toàn của ngân hàng.Do
vậy,ngân hàng luôn phải tính toán các nhu cầu của khách hàng và phải đáp ứng
những nhu cầu hợp pháp đó một cách tốt nhất.
b.Tăng khả năng sinh lời
nhu cầu chi trả.
• Các chứng khoán kém thanh khoản hơn song sinh lợi lại cao chủ yếu đáp ứng yêu
cầu sinh lợi.
Công tác quản lý chứng khoán đòi hỏi phải thương xuyên xếp hạng chứng khoán
tùy theo tính an toàn và thời gian còn lại của chúng
Để xếp loại chứng khoán, ngân hàng phải thường xuyên theo dõi, phân tích và
đánh giá tình hình tài chính của các công ty phát hành chứng khoán, sự biến động tỷ
giá lãi suất thị trường, giá bất động sản, tình hình chính trị của mỗi quốc gia.
Quản lý chứng khoán được thực hiện trên nguyên tắc quản lý danh mục đầu tư.
Chứng khoán thường xuyên được phân tích với giá thị trường và cuối cùng là nguyên
tắc đa dạng hóa .
c. Quản lý tín dụng
* Hoạt động tín dụng mang lại thu nhập lớn nhất cho ngân hàng.
Ngân hàng sử dụng mọi nỗ lực của mình để tăng quy mô tín dụng như mở
rộng mang lưới, đa dạng hóa các loại hình tín dụng, phát triển công nghệ mới nhằm
gia tăng tiện ích cho khách hàng, giảm lãi suất hoặc cung cấp các điều kiện ưu đãi
các biện pháp này một mặt làm tăng quy mô, song mặt khác cũng làm tăng chi phí.
Ngân hàng phải nghiên cứu và xác lập mối quan hệ giữa các biện pháp tăng
quy mô với thu nhập ròng từ hoạt động tín dụng thông qua chênh lệch lãi suất biên.
Mối quan hệ này cho phép ngân hàng phân biệt lãi suất và các điều kiện tài trợ khác
7
với các khách hàng lớn, quan trọng và liên kết với các tổ chức tín dụng khác trên thị
trường
* Rủi ro từ hoạt động tín dụng là rất lớn
An toàn tín dụng là nội dung chính trong quản lý rủi ro của mọi ngân hàng
thương mại. Có 2 mối quan hệ giữa rủi ro và sinh lợi trong hoạt động tín dụng. Trước
khi tài trợ, mối quan hệ có thể là: rủi ro càng cao sinh lợi kỳ vọng càng lớn; cho vay
chung và dài hạn, cho vay tiêu dùng
Ngân hàng thường phân loại rủi ro tín dụng dựa trên thống kê kinh nghiệm và
phân tích các điều kiện thị trường. Phân loại này cho phép nhà quản lý xác định tỉ lệ
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Vietcombank đã có những đóng
góp quan trọng cho sự ổn định và phát triển của kinh tế đất nước, phát huy tốt vai trò
của một ngân hàng đối ngoại chủ lực, phục vụ hiệu quả cho phát triển kinh tế trong
nước, đồng thời tạo những ảnh hưởng quan trọng đối với cộng đồng tài chính khu
vực và toàn cầu.
9
Ngân hàng Ngoại Thương Hà Nội thành lập ngày 01/03/1985 , là thành viên
trong hệ thống Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam , được Nhà nước công nhận là
doanh nghiệp hạng nhất.
Hơn 20 năm phát triển và trưởng thành , NHNT Hà Nội đã khẳng định vị thế
quan trọng trong hoạt động kinh tế đối ngoại của thủ đô,cung cấp các dịch vụ ngân
hàng tài chính đa dạng và hiện đại đến mọi tổ chức kinh tế , cá nhân và các tổ chức
tín dụng.
Là một trong những chi nhánh hàng đầu của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
, với hệ thống công nghệ thông tin hiện đại , cung cấp các dịch vụ tự động hóa cao :
VCB ONLINE , thanh toán điện tử liên ngân hàng , hệ thống máy rút tiền tự động
ATM Connect 24 hệ thống thanh toán SWIFT toàn cầu và mạng lưới đại lý trên
1400 Ngân hàng tại 85 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới , đảm bảo phục vụ tốt các
yêu cầu của khách hàng.
Với 11 điểm giao dịch và trụ sở chính tại 344 Bà Triệu ,NHNT Hà Nội luôn luôn
là địa chỉ '' tin cậy nhất cho lựa chọn tài chính của khách hàng '', đã vinh dự đón nhận
các danh vị như : Huân chương lao động hạng ba , bằng khen của thủ tướng chính
phủ , ngân hàng tốt nhất Việt Nam nhiều năm liền
2.2 Thực trạng tài sản và quản lý tài sản tại ngân hàng TMCP Vietcombank chi
nhánh Hà Nội
Kết quả kinh doanh trong giai đoạn 2011-2013:
Từ năm 2011 đến 2013, VCB Hà Nội đã có sự tăng trưởng như sau :
Trước tình hình khủng hoảng nền kinh tế toàn cầu làm nền kinh tế trong nước trì
trệ tuy nhiên VCB Hà Nội vẫn đạt được một số chỉ tiêu khả quan , số dư huy động
vốn của VCB Hà Nội vẫn đạt kết quả rất khả quan, tăng bình quân 16%/năm (từ
chương của NHNN và của tổng bộ Ngân hàng VCB ,góp phần thực hiện nhiệm vụ
chung của ngành là ổn định nền kinh tế vĩ mô. Trong nhưng năm qua đặc biệt là năm
2013 VCB chi nhánh Hà Nội đã hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh
trong đó tổng tài sản tăng trưởng cao và giữ vững thị phần tăng trưởng tín dụng
tốt,chất lượng tín dụng về cơ bản được kiểm soát mục tiêu ,duy trì hoat động kinh
doanh ổn định và để hiểu rõ về các khoản mục tài sản của VCB chi nhánh Hà Nội
chúng ta cùng theo dõi bảng sau:
Bảng 2: Tình hình tài sản của ngân hàng VCB Hà Nội năm 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
11
Năm
Chỉ tiêu
2011 2012 2013
Ngân quỹ 5675 6839 7035
Tín dụng 20.997 24.042 27.528
Chứng khoán 8.068 9533 11.021
Các tài sản
khác
1932 1036 1313
Tổng tài sản 36.672 41.448 46.899
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh hợp nhất 2013 VCB Hà Nội
Tổng tài sản tăng khá đồng đều qua các năm, ngân quỹ,tín dụng chứng khoán có
sự tăng trưởng đáng kể, tín dụng mỗi năm tăng bình quân khoảng 3045 tỷ, riêng năm
2013 đạt 27.528 (tăng 3486 tỷ so với năm 2012). Ngân quỹ tăng đều qua các năm ,
ngân quỹ tăng lên là do tình hình cho vay khó khăn hơn và tổng tài sản vẫn tăng đều.
Tốc độ phát triển đồng đều về tài sản qua các năm biểu hiện sự quản lý tài sản
của ngân hàng VCB Hà Nội phù hợp với định hướng phát triển qua từng năm.
Bảng 3: Kết cấu các loại tài sản từ năm 2011 – 2013:
Đơn vị:%
Năm
chuẩn
105 144 165
Nợ nghi ngờ 84 96 110
Nợ có khả
năng mất vốn
269 301 367
Tổng số nợ 592 661
721
13
xấu
Tổng dư nợ 20.997 24.042 27.528
Tỷ lệ nợ
xấu/Tổng dư nợ
2.82% 2,75% 2,62%
(Nguồn: Báo cáo tài chính NH VCB Hà Nội năm 2011 -2013)
Như vậy tỷ lệ nợ xấu của VCB trong các năm 2011 – 2013 luôn thấp hơn mức
3% tổng dư nợ theo quy định của NHNN, và giảm từ 2,82% năm 2011 xuống còn
2.62% năm 2013.
Hạn chế
Việc thực hiện chính sách tín dụng, quản lý các khoản nợ xấu trong thời gian qua
cũng còn bộc lộ nhiều điểm cần lưu ý như:
- Kỹ năng đánh giá và thẩm định dự án, phân tích hoạt động kinh doanh của
khách hàng của cán bộ tín dụng cũng như lãnh đạo phụ trách tín dụng còn nhiều điều
bất cập.
- Chất lượng tín dụng của chi nhánh chưa cao.
- Chưa gắn quyền lợi và trách nhiệm cụ thể của các đơn vị thành viên trông việc
thu hồi các khoản nợ quá hạn.
- Chi nhánh vẫn chưa chú trọng đến việc đánh giá lại giá trị tài sản đảm bảo để
đánh giá khả năng thu hồi khoản vay quá hạn.
2.2.3 Công tác quản lý các khoản dự trữ ngân quỹ
Bảng 6: Cơ cấu các khoản dự trữ của VCB Hà Nội năm 2011-2013
Đơn vị: Tỷ đồng
Chỉ tiêu Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013
Tiền mặt 661 850 1010
Tiền gửi tại NHNN 1639 1987 1500
Tiền gửi tại TCTD 3375 4002 4525
Tổng dự trữ
5675 6839 7035
Tổng tài sản 36.672 41.448 46.899
Tổng dự trữ/tổng tài sản
15,5% 16,5% 15,0%
(Nguồn: Báo cáo tài chính NH VCB Hà Nội năm 2011 -2013)
Tỷ lệ các khoản dự trữ của VCB Hà Nội trong năm 2011-2013 luôn đạt tỷ lệ trên
14% tổng tài sản. Điều này cho thấy tỷ lệ thanh khoản của VCB Hà Nội là tương đối
15
tốt. Với cơ chế quản lý các khoản dự trữ như trên, những năm vừa qua VCB đều giữ
được tốc độ tăng trưởng các quỹ cho vay, giảm thấp quỹ dự trữ vượt mức của các chi
nhánh , đặc biệt là trong giai đoạn thiếu vốn cục bộ, tạm thời để cho vay. Hiện tượng
thiếu vốn dự trữ vượt mức cục bộ, tạm thời mà không thể điều hòa được ngay giảm
thiểu tối đa.
Hạn chế :Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý các khoản dự trữ
thanh toán của ngân hàng vẫn còn tồn tại một số điều bất cập như:
- Trong cơ cấu tài sản có tính thanh khoản cao thì tiền gửi tại các TCTD, nhất là
tại các ngân hàng nước ngoài bằng ngoại tệ khá lớn. Nhưng thực tế, ngân hàng hầu
như không thực hiện giao dịch chuyển tiền qua những tài khoản này và lãi suất của
chúng rất thấp (chỉ 2,4%/năm đối với đồng USD). Với cơ cấu huy động chủ yếu là
tiền gửi có kỳ hạn thì việc đầu tư vào những tài khoản loại này không đem lại lợi
nhuận, các hệ số sinh lời thấp
2.2.4 Quản lý các khoản đầu tư chứng khoán
Để xem xét rõ hơn công tác quản lí đầu tư chứng khoán của ngân hàng, ta có
Ngân sách Nhà nước. Ngân hàng nắm giữ chứng khoán này không vì mục sinh lợi
mà chỉ mang tính chất dự trữ.
Trong những năm gần đây VCB Hà Nội đã chú trọng đến việc phát triển các
danh mục đầu tư chứng khoán do các TCKT phát hành, số chứng khoán VCB nắm
16
giữ do các TCKT phát hành . Phần lớn những Chứng khoán do VCB nắm giữ đều có
tính thanh khoản cao, khả năng sinh lời tốt.
Bên cạnh đó, hoạt động đầu tư kinh doanh chứng khoán của VCB Hà Nội vẫn
còn một số hạn chế như:
- Ngân hàng chưa có chiến lược phù hợp về đầu tư cũng như xây dựng chính
sách, quy trình đầu tư cụ thể để nâng cao cơ cấu của danh mục tài sản này trong tổng
tài sản. Việc không có cơ chế thưởng phạt theo kết quả kinh doanh cũng là rào cản
đối với nỗ lực tăng hiệu quả đầu tư.
- Hiện nay chi nhánh cần chú trọng hơn đến việc khuyến khích đẩy mạnh cho
danh mục đầu tư vào các chứng khoản ít rủi ro, rủi ro thấp nhằm đẩy mạnh hiệu quả
sinh lời của tài sản, giảm sự phụ thuộc vào các sản phẩm tín dụng truyền thống, đồng
thời góp phần nâng cao tỷ lệ thanh khoản.
- Ngân hàng chưa thực sự chú trọng đến việc tính toán và dự phòng giảm giá
chứng khoán trong các điều kiện xấu
CHƯƠNG 3:
GIẢI PHÁP VỀ VIỆC HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TÀI SẢN
TẠI VIETCOMBANK CHI NHÁNH HÀ NỘI
3.1. Đánh giá kết quả quản lý tài sản tại ngân hàng VCB
Kết quả:
Trong năm 2011-2013, VCB Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả khả quan.
Bên cạnh những chính sách thúc đẩy sự tăng trưởng,phát triển kinh doanh, ngân
hàng luôn chú trọng đến công tác quản trị tài chính trong đó có hoạt động quản lý
tài sản, đảm bảo được muc tiêu an toàn và sinh lời:
- Chất lượng danh mục đầu tư chứng khoán cơ bản đáp ứng được mục tiêu về
khả năng sinh lời, điều hòa rủi ro kinh doanh và đảm bảo khả năng thanh khoản
36.672 41.448 13,8% 46.899 13,3%
ROA 0.11% 0.10% 0,09%
Bên cạnh đó, công tác quản lý tài sản cuản ngân hàng VCB Hà Nội vẫn còn
nhiều những bất cập , hạn chế như :
- Công tác quản lý tài sản và quản lý nguồn vốn chưa được phối hợp một cách
hữu hiệu việc phối hợp giữa quản lý nguồn vốn và tài sản chưa cụ thể, rõ ràng. Ngân
hàng chưa hình thành các bộ phận chuyên nghiên cứu, phân tích, quản lý nguồn vốn,
tài sản tạo ra khoảng trống trong phối hợp quản lý nguồn vốn và tài sản
- Công tác quản lý tài sản chưa toàn diện cũng như hầu hết các NHTM, VCB Hà
Nội chủ yếu tập trung các chính sách phục vụ cho hoạt động tín dụng, chưa chú trọng
nhiều đến hoạt động đầu tư, chưa có quy định để điều chỉnh như: quy định về quản lý
danh mục đầu tư, phân quyền trong kinh doanh tiền tệ, quy định về các nguồn thanh
khoản, các biện pháp tăng tốc độ chu chuyển các khoản phải thu… Do đó làm hạn
chế hiệu quả quản lý, giảm khả năng sinh lời của tài sản và tiềm ẩn nhiều rủi ro.
VCB đã chú trọng đến việc đa dạng hóa các loại hình sản phẩm dịch, vụ, nhưng
các sản phẩm mới vẫn chưa có nhiều, còn nhiều vấn đề bất cập trong việc nghiên cứu
thị trường, nhu cầu của khách hàng.
3.2. Những giải pháp nâng cao quản lý tài sản tại Ngân hàng VCB Hà Nội
3.2.1. Phối hợp chặt chẽ công tác quản lý tài sản nợ - tài sản có
Quản lý tài sản nợ và tài sản có là cần thiết để đảm bảo khả năng chi trả của ngân
hàng và kiểm soát những biến cộng về lãi suất cũng như rủi ro thời hạn đồng thời để
tăng thu nhập từ lãi đến mức cao nhất. Với mục tiêu đó, VCB Hà Nội cần tập trung
vào một số nội dung sau:
18
- Đa dạng hoá các nguồn huy động; phát triển và đa dạng các sản phẩm huy động
vốn có tính cạnh tranh cao với cơ chế lãi suất linh hoạt
- Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Tăng cường quản lý Tài sản Nợ - Tài sản Có
theo các công nghệ tiên tiến;
- Quản lý lãi suất huy động gắn liền với lãi suất cho vay một cách linh hoạt:
- Tăng cường tính chủ động của chi nhánh trong việc xác định lãi suất huy động
ro giảm giá chứng khoán: Việc tăng giảm giá chứng khoán trên thị trường là điều
thường xảy ra, đặc biệt là với thị trường biến động phức tạp như thị trường chứng
khoán,
3.2.5. Nâng cao năng lực quản trị điều hành của các nhà quản trị
- Hoàn thiện cơ chế quản trị điều hành theo mô hình ngân hàng hiện đại, nâng
cao hiệu quả quản trị điều hành trên cơ sở ứng dụng kỹ thuật và công nghệ quản trị
tiên tiến trên thế giới.
- Tăng cường đào tạo cán bộ quản lý điều hành về kiến thức quản trị ngân hàng
hiện đại.
KẾT LUẬN
Lợi nhuận là mục tiêu của bất kì NHTM nào khi đi vào hoạt động,muốn đạt được
mục đích đó trước tiên phải quản lý tốt NHTM ,và một trong những nhân tố của việc
quản lý tốt NHTM là phải hiểu cũng như nắm rõ tình hình quản lý tài sản của NHTM
.Quản lý tài sản là một lĩnh vực khó khăn phức tạp trong điều kiện kinh tế thị trường.
Nâng cao quản lý tài sản là phương tiện giúp ngân hàng tạo sức mạnh trong cạnh
tranh., Ngân hàng VCB chi nhánh Hà Nội luôn cố gắng hết sức trong việc quản lí tốt
tài sản. Bằng việc nghiên cứu đề tài “Phân tích thực trạng quản lý tài sản của Ngân
hàng thương mại tại Ngân hàng Thương mại Vietcombank chi nhánh “, nhóm em
mong muốn được đóng góp một phần nhỏ kiến thức của mình vào thực tế công tác
quản lý tài sản của ngân hàng VCB Hà Nội.
20