1
Vì sao chính sách về quyền hưởng lợi từ rừng của hộ gia đình, cá nhân
(quyết định 178) chậm đi vào cuộc sống?
Vũ Long
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Rừng là môi trường sống quen thuộc từ lâu đời đối với ngươì dân miền núi,
nhất là với đồng bào dân tộc thiểu số. Cho đến nay ở nhiều vùng, đời sống của đồng
bào còn phụ thuộc rất nhiều vào rừng, từ đất làm nương rãy, gỗ làm nhà, thực phẩm,
cây thuốc chữa bệnh Rừng đã đóng góp một phần quan trọng vào nền kinh tế tự cấp
tự túc của họ. Ngoài ra rừng còn là một bộ phận văn hóa tâm linh của đồng bào, như
nhà văn Nguyên Ngọc đã phát hiện về văn hóa rừng của đồng bào Tây Nguyên. Nhân
dân miền núi theo quan niệm của mình, đã từng tạo lập ra cách quản lý nguồn tài
nguyên thiên nhiên trên lãnh địa sinh sống, quan trọng nhất là rừng núi, đất đai, đã tồn
tại qua nhiều thế hệ và dư âm còn tồn tại đến ngày nay
Chính sách giao đất lâm nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đã được thực hiện
rộng rãi ở nhiều nơi, nhưng vẫn chưa tạo ra động lực để nhân dân miền núi gắn bó với
rừng và đất lâm nghiệp như khi được giao ruộng đất .
2
Chương trình 327 có chính sách giao khoán bảo vệ rừng (50.000đ/ha/năm) đã được
nhân dân miền núi hưởng ứng rộng rãi, vì tăng thêm thu nhập cho đồng bào, tuy không
nhiều. Nhưng do nguồn vốn ngân sách có hạn, nên diện tích rừng khóan không nhiều,
không thỏa mãn nhu cầu của dân, chỉ một số gia đình được nhận khoán. (Diện tích
rừng được cấp kinh phí giao khoán bảo vệ rừng hàng năm khoảng hơn 1 triệu ha,
nhưng diện tích rừng cần bảo vệ lên gần 8 triệu ha). Mặt khác, nhận khoán vẫn là bảo
vệ rừng thuê cho Nhà nước, khi nào dự án “cắt khoán” thì người dân không còn quyền
lợi gì, rừng lại trở thành vô chủ. Khi chuyển sang dự án 5 triệu ha rừng, chính sách
03/9/2003), cuối tháng 10/2003 tỉnh Quảng Nam mới nhận được thông tư này.
Một số tỉnh do sự bức xúc của tình hình, trong khi chưa có thông tư hướng dẫn,
đã chủ dộng ban hành chính sách địa phương về quyền hưởng lợi từ rừng.
- Tỉnh Đắc Lắc đã làm thí điểm giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình, cá nhân (trên
diện tích rừng thu hồi lại từ các lâm trường). UBND tỉnh ban hành các quyết định phê
duyệt các phương án giao đất lâm nghiệp thí điểm, trong đó có quy định về quyền
hưởng lợi từ rừng của hộ được giao rừng, đến hết 2003 tỉnh đã giao 24.885ha rừng
cho 4.419 hộ gia đình và nhóm hộ, cộng đồng tại một số thôn ở 2 huyện Ea H’leo và
Krông Bông. Quyền hưởng lợi tương tự như chính sách 178. (còn chưa áp dụng với
rừng nhận khóan bảo vệ).
- Tỉnh Gia Lai đã ban hành quyết định số 106/23003/ QĐ-UB quy định tạm thời về
giao khoán rừng có hưởng lợi theo quyết định 178, nhưng phạm vi áp dụng chỉ
giới hạn cho việc khoán bảo vệ rừng tự nhiên là rừng sản xuất của lâm trường
quốc doanh.
4
- Từ cuối năm 2000, để đẩy mạnh giao đất giao rừng cho hộ gia đình, cộng đồng
làng bản, tỉnh Sơn La đã ban hành chính sách giao đất giao rừng, có quy định
quyền hưởng lợi từ rừng (mức hưởng lợi cao hơn nhiều so với quyết định 178), đã
giao được được 384.784ha, tại 16 huyện.
Một số dự án quốc tế về lâm nghiệp ở miền núi rất quan tâm đến chính sách này đã
tổ chức khảo sát tổng kết để rút kinh nghiệm, nhưng không thu được kết quả gì vì
chính sách chưa được triển khai.
2. Còn thiếu các chính sách đồng bộ để người dân được thực sự hưởng quyền lợi
từ rừng như quyết định 178.
Kinh nghiệm trong nông nghiệp cho thấy không chỉ giao ruộng đất cho hộ gia
đình, cá nhân mà đã tạo đủ động lực cho sản xuất nông nghiệp phát triển, mà phải
thực hiện đồng bộ nhiều chính sách như: xóa bỏ nghĩa vụ bán lương thực, nông sản,
chính sách một giá, tự do lưu thông nông sản hàng hóa, vật tư nông nghiệp, xóa bỏ
phải tính đến, lại khó xác định chính xác :
+ Trước hết, phải xác định loại rừng được giao hay nhận khoán là rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng hay rừng sản xuất. Theo quy chế quản lý 3 loại rừng, do mục đích
sử dụng rừng khác nhau, nên quyền hưởng dụng sản phẩm và các lợi ích khác rất khác
nhau. Trên thực tế việc xác định ranh giới ngoài thực địa của 3 loại rừng thật không dễ
dàng vì rất ít tỉnh có kinh phí để cắm mốc giới cho 3 loại rừng trên địa bàn từng xã,
ngoại trừ ở những Vườn quốc gia lớn, có vốn viện trợ của nước ngoài.
6
+ Thứ đến, xác định hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp nhận ban đầu (đồng
thời thể hiện công sức đầu tư vào rừng của hộ gia đình- qua số năm đã nhận giao hay
khoán rừng). Có sự khác biệt rất lớn giữa cách phân loại hiện trạng rừng và đất lâm
nghiệp của Nhà nước và của dân. Hệ thống phân loại hiện trạng rừng của Nhà nước rất
phức tạp (quyết định 682/QĐKT, ngày 01/8/1984 của Bộ Lâm nghiệp về quy phạm
thiết kế kinh doanh rừng) chỉ những người được đào tạo chuyên môn lâm nghiệp mới
sử dụng được: đất lâm nghiệp chưa có rừng là loại I, tùy theo thảm thực vật che phủ
chia ra Ia,Ib,Ic; Rừng được phân ra 3 loại II,III,IV, theo trữ lượng gỗ của rừng và mức
độ tác động của con người đến rừng, và trong mỗi loại lại còn được chia nhỏ theo khả
năng tái sinh…thành A,B,C rồi 1,2,3. Việc phân loại này là cần thiết trong thiết kế
kinh doanh rừng của tổ chức lâm nghiệp Nhà nước có quy mô lớn, nhưng thực tế
không phải lúc nào trong cũng có thể phân loại rành rẽ ngoài thực địa cho từng khu
rừng giao hay khoán cho hộ gia đình, cộng đồng, nếu không phải là cán bộ kỹ thuật
lâm nghiệp có nghiệp vụ về điều tra rừng, có công cụ quan sát, tính toán. Ngoài ra đối
với mỗi loại rừng (rừng lá rộng thường xanh, rừng rụng lá, rừng lá kim, rừng ngập
mặn…) tiêu chí phân loại lại khác nhau. Trong tài liệu kiểm kê rừng tự nhiên năm
1999, rừng tự nhiên được phân loại theo cấp trữ lượng (4 cấp), trước đây thì phân loại
theo rừng giàu, trung bình và rừng nghèo, rừng non.
Còn người dân miền núi, do mục đích sử dụng rừng của mình là lấy gỗ làm nhà
, lấy đất làm nương rãy nên phân loại rừng rất đơn giản: rừng già, là rừng tự nhiên có
nhiều cây cổ thụ chưa bị phá làm nương rãy, hoặc đã bị phá nhưng nay đã phục hồi
cho dân, thể hiện sự quan liêu:
+ Chi phí khai thác gỗ phụ thuộc rất lớn vào cự ly vận xuất ( bao gồm cả tiền
làm đường), nên bãi giao càng gần nơi khai thác càng tốt. Sản lượng khai thác càng
nhỏ thì càng không nên tập trung ở bãi lớn. Một hộ gia đình được giao chỉ tối đa 5 ha
rừng tự nhiên. Giả định được khai thác 30-40 năm 1 lần thì sản lượng khai thác tối đa
8
cũng chỉ khoảng 100m
3
. Một xã có 30 hộ khai thác ở 10 bản khác nhau. Trong thông
tư 80 quy định UBND cấp tỉnh quy định địa điểm bãi giao. Vậy tỉnh sẽ quy định mấy
bãi giao, ở địa điểm cụ thể nào trong 1 xã cho hợp lý? Trong một tỉnh phải có bao
nhiêu bãi giao mà tỉnh phải ra quyết định?
Việc khai thác gỗ, bán gỗ là của người sản xuất, tại sao lại phải kéo UBND tỉnh
vào việc này? Có thời nào chính quyền phải quy định bãi tập trung bán gỗ cho 1 lâm
trường chưa? Phải qua bao nhiêu cửa, cần bao nhiêu loại giấy tờ hành chính, mất bao
nhiêu thời gian và chi phí mất bao nhiêu để tỉnh xác định 1 bãi gỗ cho 1 hộ gia đình?
(bệnh quan liêu xem ra lại còn nặng hơn cả thời bao cấp!).
+ Lo lợi ích Nhà nước trước lợi ích của dân. Tại quyết định 178 thường ghi là:
Hộ gia đình, cá nhân được hưởng từ (70-80%); phần còn lại nộp ngân sách Nhà nước.
Đó là thể hiện tinh thần xác định quyền hưởng lợi từ rừng của dân nhằm tạo ra động
lực kinh tế để dân bảo vệ và phát triển rừng. Nhưng thông tư 80 thì ngược lại, lại
hướng dẫn cách xác định khoản tiền phải nộp ngân sách xã khi phân chia sản phẩm
trước, phần còn lại mới là của dân. Trong công thức tính lại càng thể hiện rõ thiếu ý
thức lo đến lợi ích của dân:
Khoản tiền phải nộp ngẫn sách Khối lượng lâm sản
Xã khi phân chia sản phẩm = khai thác tại bãi giao x Giá cây đứng x % nộp
ngân sách xã
(không bao gồm các khỏan thuế)
10
5.Cần có chính sách giao rừng cho nông dân. Bấy lâu nay trong Luật
BV&PTR và nhiều văn bản pháp quy, và tuyên truyền chính sách cứ nói đến giao đất
giao rừng cho dân. Nhưng theo tôi chỉ mới có chính sách giao đất cho hộ gia đình, cá
nhân chứ chưa có chính sách giao rừng, nhất là rừng tự nhiên. Luật Đất đai đã ghi rõ
các quyền của hộ gia đình, cá nhân được giao đất nông nghiệp, đối với đất trống đồi
trọc thì có đủ các quyền như ruộng đất, nhưng hộ gia đình cá nhân có những quyền gì
đối với rừng tự nhiên có trên đất được giao?, chưa thấy có văn bản pháp lý nào ghi rõ
về các quyền này. Ngay trong thông tư 80, mục 5 của quy định chung ghi: “Nhà nước
giao rừng tự nhiên cho hộ gia đình …Rừng tự nhiên là tài nguyên quốc gia, không
phải là tài sản của hộ gia đình; hộ gia đình chỉ được hưởng lợi từ rừng” (tôi biết rằng
đây là quan điểm của Bộ Tài chính). Đất nông nghiệp cũng là tài nguyên quốc gia,
cũng như tài nguyên rừng. Trong Luật Đất đai (điều 113) xác định quyền và nghĩa vụ
của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê, gồm các quyền: chuyển
đổi sử dụng đất nông nghiệp; chuyển nhượng; cho thuê quyền sử dụng đất, để thừa kế,
tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp bảo lãnh quyền sử dụng đất và góp vốn bằng
quyền sử dụng đất. Vậy với đất có rừng tự nhiên trên đất được giao hộ gia đình, cá cá
nhân cũng phải có đủ các quyền ấy, còn việc sử dụng rừng tự nhiên hộ gia đình, cá
nhân phải tuân thủ các luật pháp về lâm nghiệp, chứ không thể vin lý do rừng là tài
nguyên quốc gia, không phải là tài sản của hộ, mà hạn chế các quyền của họ. Rất cần
có Nghị định của Chính phủ khẳng định các quyền này để tránh sự giải thích tùy tiện
khi thi hành Luật của một số cơ quan Nhà nước, bảo hộ lợi ích chính đáng của nông
dân. Song cũng rất cần phổ biến tuyên truyền rõ cho dân về các quyền để tránh tình
trạng hiểu lầm, hay lạm dụng dẫn đế làm sai luật, như một số hộ ở xã Chiềng Ve
huyện Mai Sơn – Sơn la sau khi được giao rừng cho rằng mình có quyền sử dụng đất
nên đã chặt hết gỗ củi bán cho nhà máy đường làm mất trắng rừng (10ha loại rừng
non phục hồi). Cộng đồng bản Mường xã Chiềng Yên, thị xã Sơn La, sau khi nhận
rừng đã khai thác trắng rừng tự nhiên bán gỗ củi, lấy tiền chia cho các hộ trong bản.
Người dân miền núi có tập quán coi rừng là của trời, ai cũng có quyền sử dụng, nên có
carrying out of the Decision, the benifits of the households are not ensured as they are
in Decision 178. At the same time the complexity of forest does constitute a difficulty
to the implementation of the policy. There must be more open policy on forest
management and products of natural forest so that the households may really enjoy the
benifits from forest, actively participate in forest protection and development.