Mục lục:
1. Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
2. Xu hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam
3. Khái quát về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
4. Phương hướng và giải pháp phát triển các loại thị trường ở Việt
Nam
5. Thực trạng phát triển các loại thị trường ở nước ta hiện nay
6. Các khái niệm và chức năng của thị trường
7. Thực trạng cạnh tranh và chống độc quyền ở Việt Nam
8. Những điều kiện tạo nên cạnh tranh và chống độc quyền trong
kinh doanh
9. Vai trò của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường
10. Sự cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu
khách quan
11.Thực trạng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở
nước ta hiên nay
12. Đặc trưng bản chất của kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa Việt Nam
13. Đặc điểm kinh tế hàng hoá trong thời kì quá độ ở nước
ta
Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa
Trên cơ sở kỹ thuật thủ công, phương thức sản xuất tư bản chủ
nghĩa không thể được xác lập một cách hoàn chỉnh và phát triển
vững chắc. Do đó trong quá trình phát triển chủ nghĩa tư bản đã tạo
cho nó một cơ sở kỹ thuật tương ứng là máy móc, đưa chủ nghĩa tư
bản từ giai đoạn công trường thủ công lên giai đoạn công nghiệp
cơ khí. Máy móc xuất hiện vào thế kỷ 17 và ngày càng được hoàn
thiện. ở thời kỳ cách mạng công nghiệp, thông thường các máy
móc đều gồm ba bộ phận cơ bản. Máy móc không ngừng được cải
nghệ, máy móc là nguồn gốc chủ yếu của giá trị thặng dư
Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của
máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò
của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị.
Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy,
không phải bất cứ một vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá
có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
a. Giá trị sử dụng của hàng hoá: là công dụng của vật phẩm có
thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để
mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự
nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là một phạm trù vĩnh
viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử dụng
không phải cho con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác,
cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng
phải thông qua mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là
vật mang giá trị trao đổi.
b. Giá trị hàng hoá: muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi.
Giá trị trao đổi biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn
nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử
dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất
định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự
hao phí sức lao động của con người. Lao động xã hội của người
sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá.
Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là
hình thức biểu hiện của giá trị.
Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những
người sản xuất hàng hoá và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại
trong kinh tế hàng hoá.
Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị
cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức
sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử dụng
(nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian.
Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng
hoá tham gia vào đây không còn được xét với tư cách là những
nhân tố vật thế nữa, mà chỉ được coi là những lượng lao động đã
vật hoá nhất định. Và dù máy móc (kể cả rôbớt) quan trọng đến
múc nào cũng không thể tự nó chuyển giá trị vào sản phẩm chứ
đừng nói đến việc tạo thêm giá trị.
Chính lao động sống đã “cải tử hoàn sinh” cho các tư liệu sản xuất,
trong đó có mày móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới
theo mức độ đã tiêu dùng trong quá trình lao động sản xuất. Nhưng
một tư liệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm một giá
trị nhiều hơn giá trị mà nó đã bị tiêu hao trong quá trình sản xuất.
C.Mác ví máy móc, thiết bị trong quá trình làm tăng giá trị giống
như bình cổ cong trong quá trình hoá học. Không có bình cổ cong
thì không thể diễn ra các phản ứng hoá học, nhưng bản thân bình
cổ cong chỉ là điều kiện cho phản ứng hoá học diễn ra, chứ không
trực tiếp tham gia vào phản ứng ấy. Cũng như vậy, thiết bị, máy
móc chỉ tạo đIều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản
thân nó không trực tiếp tham gia vào việc tăng giá trị.
ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những
người sử dụng máy móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận
siêu ngạch? Đó là do công nghệ tiên tiến làm tăng sức sản xuất của
lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá trị thị
trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông qua cạnh tranh
lại bán theo giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Xí nghiệp A có trình độ kỹ thuật cao nhất và có khối lượng sản
phẩm lớn nhất trong ngành, có gía trị cá biệt của sản phẩm thấp
hơn giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch.
phải bao giờ máy móc cũng là đIều kiện để thu được nhiều lợi
nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công. Khi nói về giới hạn sử
dụng máy móc trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà tư
bản “không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức
lao động đã sử dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn
bởi số chênh lệch giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao
động bị máy đó thay thế. Do đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử
dụng máy móc, bởi vì lợi nhuận bắt nguồn không phải từ việc giảm
bớt lao động được trả công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện người Mỹ chế
tạo ra máy đập đá, nhưng người Anh không sử dụng máy móc đó
vì sử dụng “kẻ khốn khó” làm công việc ấy sẽ thu được nhiều lợi
nhuận hơn.
Việc nhận thức máy móc chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới
theo mức độ khấu hao chứ không làm tăng giá trị, không những
giúp hiểu đúng nguồn gốc của giá trị thặng dư mà còn có ý nghĩa
quan trọng trong việc quản lý kinh tế.
Trong tầm vĩ mô phải tìm mọi cách khấu hao máy móc càng nhanh
càng tốt, nhằm tránh hao mòn vô hình và hao mòn hữu hình do bảo
quản kém hoặc sử dụng không hợp lý. Trên tầm vĩ mô, nhà nước
cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khấu hao nhanh
như một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm
Xu hướng và giải pháp đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam
1. Xu hướng
Như chúng ta đó biết, hoạt động đầu tư ngày càng phát triển mạnh
mẽ trong thời gian gần đây và trở thành xu hướng tất yếu của các
nước. Tham gia vào hoạt động đầu tư quốc tế không chỉ là các
nước phát triển có tiềm lực tài chính mạnh mà có cả các nước đang
phát triển với những lợi thế riêng có của mỡnh. Việt Nam đang
tiến sâu, tiến rộng vào quá trỡnh hội nhập kinh tế thế giới, đối với
khuyến khích các doanh nghiệp Vịêt Nam đầu tư ra nước ngoài.
- Cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách theo
hướng tăng cường khuyến khích các doanh nghiệp Vịêt Nam đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài .
Chính phủ cần nhanh chóng ban hành nghị định và các thông tư
mới hướng dẫn luật đầu tư mới. Nghị định 22/2000 của chính phủ
đó bộc lộ nhiều hạn chế và không tương thích với sự phát triển
mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta hiện nay vỡ thế cỏc vấn đề trong
nghị định mới nên sửa đổi theo hướng:
+ Đơn giản hoá thủ tục đăng ký và cấp giấy phộp cho cỏc dự ỏn
đầu tư ra nước ngoài, tiến tới xoỏ bỏ hỡnh thức cấp giấy phộp
chuyển sang đăng ký đầu tư.
+ Rút ngắn thời gian cấp giấy phép đầu tư ra nước ngoài cho các
doanh nghiệp Vịêt Nam xuống cũn 15 ngày kể từ ngày nhận được
hồ sơ hợp lệ ( hiện tại là 30 ngày ).
+ Xây dựng danh mục dự án đặc biệt khuyến khích và khuyến
khích đầu tư ra nước ngoài với các hỡnh thức ưu đói phự hợp đặc
biệt là chính sách ưu đói về thuế, tớn dụng, ngoại hối.
+ Mở rộng các lĩnh vực đựoc phép đầu tư ra nước ngoài để các
doanh nghiệp rộng quyền lưạ chọn. Cho phép đầu tư vào các lĩnh
vực bảo hiểm, ngân hàng, y tế, giáo dục…nếu doanh nghiệp có
luận chứng kinh tế kỹ thuật tốt và bảo đảm khả năng sinh lời của
dự án .
Chính phủ cần yêu cầu các bộ, ngành có liên quan đến hoạt động
của các doanh nghiệp ở nước ngoài nhằm tạo hành lang phỏp lý
đồng bộ, điều chỉnh hoạt động kinh tế mới này, đồng thời quy định
rừ chế độ và nội dung báo cáo đối với các doanh nghiệp Vịêt Nam
ở nước ngoài để thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu
tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Vịêt Nam.
- Tăng cường các hoạt động hỗ trợ và tư vấn cho các doanh nghiệp
từng thị trường nước ngoài. Chính phủ giao cho các đại sứ quán,
lónh sự quỏn và phũng thương vụ Vịêt Nam ở nước ngoài hỗ trợ,
giúp đỡ các doanh nghiệp Vịêt Nam đang tiến hành đầu tư trưc tiếp
ở nước ngoài. Xem đó là một nhiệm vụ bắt buộc đối với các cơ
quan này.
Tăng cường các hoạt động hỗ trợ và tư vấn cho các doanh nghiệp
thực hiện đầu tư trực tiếp ra nước ngoài.
Thành lập Hiệp hội đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp
Việt Nam để bảo vệ quyền lợi và giúp đỡ các doanh nghiệp Việt
Nam giải quyết các vướng mắc. Thành lập quỹ hỗ trợ đầu tư ra
nước ngoài của Việt nam nhằm tài trợ tài chính cho các dự án đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài đảm bảo lợi ích và bảo vệ các doanh
nghiệp trước những rủi ro về chính trị hoặc các rủi ro khác mà các
công ty bảo hiểm thông thường không thể cung cấp các dịch vụ đó
được.
-Tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực
đầu tư trực tiếp nước ngoài
Theo đó,Vịêt Nam cần đàm phán, ký kết các hiệp định đầu tư đa
biên nhằm tăng cường khả năng bảo vệ các doanh nghiệp và tạo cơ
chế pháp lý ổn định để giải quyết các tranh chấp có thể nảy sinh
khi thực hiện đầu tư ra nước ngoài. Trước hết, Vịêt Nam cần tham
gia đầy đủ các công ước quốc tế liên quan đến đầu tư nước ngoài
như công ước Washington năm 1965, các công ước của WTO…
ngoài ra Vịêt Nam cũn cần quan tõm đến hiệp định đầu tư khu vực
bởi mục đích của hiệp định là thúc đẩy dũng lưu chuyển vốn giữa
các nước tham gia ký kết và tăng cường thu hút vốn quốc tế từ các
nước thứ 3 vào khu vực.
Bên cạnh đó, Vịêt Nam cần tăng cường đàm phán ký kết các hiệp
định đầu tư song phương. Vỡ cỏc hiệp định đầu tư song phương có
tốc độ phát triển nhanh và ngày càng chi phối mạnh mẽ hoạt động
ngoài: “Đầu tư nước ngoài là sự vận động tư bản từ nước người
đầu tư sang nước người sử dụng đầu tư với mục đích thành lập ở
đây một xí nghiệp sản xuất hay dịch vụ nào đó”.
Như vậy thì việc đầu tư vào một nước nhất thiết phải gắn liền với
việc thành lập một xí nghiệp hay một cơ sở sản xuất, dịch vụ tại
nước đó .Điều này đã loại trừ một số hình thức đầu tư khác mà
không thành lập ra xí nghiệp hay cơ sở sản xuất (như cho vay tiền
của ngân hàng, tài trợ cho chương trình hay cho dự án…). Đây là
điểm hạn chế của khái niệm này so với yêu cầu hợp tác kinh tế
trong thời đại hiện nay.
Tại các nước tư bản phát triển, đầu tư nước ngoài là việc giao vật
có giá trị kinh tế sang nước khác nhằm thu đuợc lợi nhuận, bao
gồm cả quyền cầm cố và quyền thu hoa lợi, quyền tham gia các hội
cổ phần, quyền đối với nhãn hiệu thương phẩm và tên xí nghiệp.
Như vậy, quan niệm về đầu tư nước ngoài ở đây rất rộng rãi, chỉ là
quá trình chuyển tiền vốn từ nước này sang nước khác với mục
đích thu lợi nhuận, theo nguyên tắc lợi nhuận thu được phải cao
hơn lợi nhuận thu được trong nước và cao hơn lãi suất gửi ngân
hàng.
Để đưa ra một khái niệm hoàn hảo là một điều khó khăn nhưng ta
hãy tạm hiểu đầu tư nước ngoài một cách đơn giản .
Đầu tư nước ngoài là hình thức đầu tư vốn, tài sản ở nước ngoài để
tiến hành sản xuất, kinh doanh, dịch vụ với mục đích tìm kiếm lợi
nhuận và những mục tiêu kinh tế –xã hội nhất định .
Về bản chất, đầu tư nước ngoài là những hình thức xuất khẩu tư
bản , một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá . Đây là hai
hình thức xuất khẩu luôn bổ sung và hỗ trợ cho nhau, trong chiến
lược thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường của các công ty, tập đoàn
nước ngoài hiện nay, đặc biệt là các công ty đa quốc gia. Đối với
họ, việc buôn bán hàng hoá ở nước khác là một bước đi thăm dò
đầu tư trực tiếp đem lại cho họ nguồn vốn, kỹ thuật hiện đại thay
thế cho kỹ thuật lạc hậu hiện có, nâng cao mức sống và tăng thu
nhập quốc dân. Với đầu tư gián tiếp , họ cũng tiếp nhận được
vốn .Nhưng một phần vì không có những kế hoạch sử dụng vốn có
hiệu quả , bên cạnh đó là khả năng quản lí kém và trình độ sản xuất
kinh doanh lạc hậu. Nên khả năng thành công, và thu được lợi
nhuận từ nguồn vốn này không cao. Do đó ,việc tăng cường thu
hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là phù hợp với hoàn
cảnh và điều kiện của các nước đang phát triển. Chính sách này đã
và đang là hình thức phổ biến trong chính sách “mở cửa nền kinh
tế” của nhiều nước, trong đó có Việt Nam.
Trong pháp luật Việt Nam
Theo Điều lệ đầu tư năm 1977, ban hành kèm theo Nghị định
115/CP ngày 18/04/1977 thì khái niệm đầu tư nước ngoài ở Việt
Nam được hiểu là “việc đưa cở sở mới hoặc đổi mới trang thiết bị
kỹ thuật, mở rộng các cơ sở hiện có:
* Các loại thiết bị, máy móc, dụng cụ.
* Các quyền sở hữu công nghiệp, bằng sáng chế, phát minh
phương pháp cộng nghệ, bí quyết kỹ thuật
* Vốn bằng ngoại tệ hoặc vật tư có giá trị ngoại tệ.
* Vốn bằng ngoại tệ để chi trả lương cho nhân viên và công nhân
làm việc tại các cơ sở hoặc tiến hành những dịch vụ theo quy định
ở những điều của Điều lệ này (Điều 2 Điều lệ đầu tư 1977).
Như vậy, theo Điều lệ này thì sự vận động của vốn và tài sản chỉ
được coi là đầu tư nước ngoài ở Việt Nam nếu có đủ hai điều kiện
sau:
+ Đưa vào sử dụng ở Việt Nam những tài sản và vốn được quy
định tại điều 2 của Điều lệ.
+ Nhằm mục đích xây dựng cơ sở mới hoặc đổi mới trang bị kỹ
thuật, các cơ sở hiện có.
tư nước ngoài bỏ 100% vốn tại nước sở tại, và có quyền điều hành
toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp theo quy định, pháp luật của
nước sở tại .
Doanh nghiệp liên doanh : là doanh nghiệp được thành lập do các
chủ đầu tư nước ngoài góp vốn chung với doanh nghiệp nước sở
tại trên cơ sở hợp đồng liên doanh . Các bên tham gia điều hành
doanh nghiệp , chia lợi nhuận và chịu rủi ro theo tỉ lệ góp vốn của
mỗi bên vào vốn điều lệ. Phần góp vốn của bên nước ngoài không
được ít hơn 30% vốn pháp định .
Hình thức hợp đồng, hợp tác kinh doanh: đây là một văn bản được
kí kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài và một chủ đầu tư trong
nước để tiến hành một hay nhiều hoạt động kinh doanh ở nước chủ
nhà trên cở sở quy định về trách nhiệm để thực hiện hợp đồng và
xác định quyền lợi của mỗi bên , nhưng không hình thành một
pháp nhân mới .
Các hình thức khác : ngoài các hình thức kể trên ở các nước và ở
Việt Nam còn có các hình thức khác như : hợp đồng xây dựng –
kinh doanh –chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng –chuyển giao
–kinh doanh ( BTO), hợp đồng xây dựng –chuyển giao (BT) nhằm
khuyến khích thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài .
3. Vị trí và ý nghĩa của đầu tư trực tiếp nước ngoài
a, Vị trí
- Đầu tư nước ngoài có một vị trí vô cùng quan trọng . Nó thúc
đẩynền kinh tế phát triển nhanh và toàn diện hơn .
- Đầu tư nước ngoài làm tăng khả năng về vốn, kinh nghiệm quản
lý cho nước nhận đầu tư.
- Là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để đưa nước
nhận đầu rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu
vực và thế giới
Đối với các nước đang phát triển, đầu tư nước ngoài là một yếu tố
điểm của nó để từ đó có bước đi đúng đắn và kịp thời, giúp đẩy
nhanh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước .
1. Thị trường hàng hoá-dịch vụ
Để thị trường hàng hóa – dịch vụ phát triển nhanh và lành mạnh,
việc quan trọng nhất là cần làm và có thể làm được trong thời gian
không quá dài là hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh thị trường
này. Trước hết cần thống nhất khung pháp lý cho mọi loại hình
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Quá trình đổi mới đi
liền với việc ban hành các luật về các loại hình doanh nghiệp (luật
doanh nghiệp, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam … song song
với việc trên cần khẩn trương ban hành luật mới tạo môi trường
kinh doanh thông thoáng và có tính cạnh tranh cao, xoá bỏ sự phân
biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, tăng cầu trong nền kinh tế là hướng
đặc biệt quan trọng để phát triển kinh tế – xã hội nói chung và thị
trường hàng hóa – dịch vụ nói riêng. Hiện nay, mức thu nhập của
người Việt Nam rất thấp, văn hoá tiết kiệm vẫn còn đang thịnh
hành trong xã hội nên việc tăng cầu nhanh là chuyện không dễ
dàng, cần phải tiến hành từng bước. Nhà nước cần có biện pháp để
kích cầu thông qua việc tăng chi ngân sách.
Chúng ta cần quan tâm đến việc thâm nhập thị trường thế giới,
mạnh dạn mở cửa thị trường trong nước , nâng cao năng lực cạnh
tranh của hàng hóa của các doanh nghiệp. Việc xây dựng thông tin
dự báo thị trường , đào tạo năng lực cho cán bộ thương mai và
ngoại giao ở nước ngoài, tổ chức nghiên cứu thị trường nước ngoài
để có căn cứ sản xuất trong nước và đẩy mạnh xuất khẩu.
Việc kiểm tra chất lượng sản phẩm cũng là một yêu cầu quan trọng
của Nhà nước trong việc quản lý thị trường nhưng việc thực hiện
quá yếu cần đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa để đảm bảo
lợi ích của người tiêu dùng và uy tín của nhà sản xuất, Nhà nước
bộ trong quá trình phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên để có một
môi trường vốn thực sự và hoàn chỉnh thì cần phải mở rộng thị
trường vốn gắn với việc đổi mới chính sách, luật có liên quan đến
các thị trường tài chính, tín dụng, tiền tệ. Lãi suất phải để thị
trường quyết định, giảm dần sự độc quyền chi phối của ngân hàng
thương mại quốc doanh. Tỷ giá cũng phải để thị trường quyết định;
tỷ giá tuy đã nới lỏng biên độ nhưng vẫn chưa do thị trường quyết
định.
- Có chính sách thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi trên dân cư đưa
vào đầu tư phát triển .
- Mở rộng và gia tăng nguồn vốn tính dụng cho các ngân hàng
thương mại nhà nước, phát triển các ngân hàng cổ phần để tư nhân
tham gia, mở rộng hoạt động với ngân hàng nước ngoài nhằm tăng
sức cạnh tranh.
- Sớm có lộ trình cho thị trường chứng khoán phát triển , thị trường
chứng khoán ra đời nhưng hoạt động còn mờ nhạt, người dân chưa
quen với thị trường chứng khoán, cơ chế, chính sách đối với thị
trường còn lúng túng.
4. Thị trường bất động sản
Thị trường bất động sản đang hoạt động ngầm dưới nhiều hình
thức. Để thị trường này phát triển lành mạnh cần sớm có một
khung pháp lý thích hợp và ổn định cho cả thị trường bất động sản
và thị trường vốn hoạt động.
Cho đến nay luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành còn
nhiều bất cập so với thực tiễn cuộc sống. Các quy định của luật đất
đai tập trung chủ yếu giải quyết những vấn đề thuộc về cơ chế
chính sách liên quan đến việc quản lý và sử dụng đất nông nghiệp,
đất lâm nghiệp, đất đô thị chưa được quy định cụ thể, rõ ràng.
Thực tế việc hình thành các khu đô thị, khu công nghiệp được phát
triển nhanh nhưng luật đất đai đã bộc lộ sự hạn chế kìm hãm, chưa
trường mới. Cùng với các thị trường thông thường như thị trường
hàng hóa dịch vụ, các thị trường tài chính, thị trường lao động, thị
trường bất động sản, thị trường khoa học va công nghệ đang được
hình thành. Nhìn chung các loại thị trường này ở nước ta còn sơ
khai, chưa hình thành đồng bộ xét về trình độ, phạm vi và sự phối
hợp các yếu tố thị trường trong tổng thể toàn bộ hệ thống. Các loại
thị trường như thị trường hàng hoá-dịch vụ thông thường đáp ứng
nhu cầu thường xuyên của người tiêu dùng như ăn uống, khách
sạn, du lịch, háng hoá tiêu dùng … đã phát triển nhanh. Trong khi
đó một số loại thị trường còn đang rất sơ khai, thông tin không đầy
đủ. Có những thị trường bị biến dạng, không theo quy luật của thị
trường , sự kiểm soát của Nhà nước kém hiệu quả như thị trường
bất động sản đang hoạt động “ngầm”. Một số thị trường đang bị
chi phối bởi cơ chế thị trường và tính bao cấp của cơ chế cũ như
thị trường sức lao động. Tiền lương, tiền công của công chức một
phần được trả từ ngân sách theo cơ chế bao cấp, một phần được bù
đắp bằng chế độ trả thêm, ngoài giờ hoặc các khoản khác từ các
nguồn khác nhau. Thu nhập của công chức hầu hết cao hơn tiền
lương vì chế độ tiền lương đã quá lạc hậu.
Nguyên nhân thị trường nước ta phát triển còn thấp, chưa đồng bộ
là :
- Bản thân nền kinh tế phát triển từ một nước nông nghiệp lạc hậu,
lực lượng sản xuất yếu, kết cấu hạ tầng bất cập, cơ cấu kinh tế
chưa hình thành một nền kinh tế hàng hóa hiện đại của một nền
kinh tế công nghiệp.
- Nền kinh tế nước ta đang trong giai đoạn chuyển đổi từ nền kinh
tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa , nhiều vấn đề còn bất cập song trùng.
- Hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế thị trường mới hình thành
chưa theo kịp cuộc sống thực tế và luật pháp quốc tế.