Nghiên cứu khoa học " Khai thác bảo đảm tái sinh và sử dụng tre Lồ ô cho nguyên liệu giấy " potx - Pdf 14

Khai thác bảo đảm tái sinh và sử dụng tre Lồ ô cho nguyên liệu giấy
Hứa Vĩnh Tùng
Trung tâm NC Lâm sinh Lâm Đồng
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
Tại Việt Nam, theo số liệu thống kê có khoảng 100 loài tre nứa phân bố khắp cả
nước. Tre lồ ô là loài phong phú nhất trong rừng tre nứa tự nhiên ở miền Nam Việt
Nam. Loài này mọc thuần loại và còn khoảng 200.000 ha tập trung chủ yếu ở miền
Nam Tây Nguyên, Thuận Hải, Sông Bé, Đồng Nai.
Lồ ô được sử dụng trong xây dựng, làm đồ gia dụng, mỹ nghệ và nguyên liệu giấy.
Tuy vậy, việc khai thác bừa bãi và canh tác nương rẫy đã làm giảm diện tích và
khả năng sản xuất của rừng. Việc nghiên cứu các biện pháp lâm sinh thích hợp để
khai thác rừng Lồ ô hướng tới cấu trúc rừng ổn định và có năng suất cao, cũng như
nghiên cứu những tính chất lý hoá của nó phục vụ cho chương trình nguyên liệu
giấy của vùng là điều cần thiết.
I. Nghiên cứu khai thác đảm bảo tái sinh
Quần thể Lồ ô được hình thành từ quá trình diễn thế thứ sinh bởi 2 nguyên nhân:
Sau khi khai thác rừng gỗ và hiệu quả sau khai thác nương rẫy.
Cách thức khai thác đơn giản nhất là khai thác trắng, nhưng điều này có tác hại là:
- Lãng phí nguồn tài nguyên.
- Làm giảm sự sinh trưởng của thân ngầm (không có cây mẹ cung cấp dinh
dưỡng).
- Xói mòn đất.
- Cỏ dại xâm lấn nhanh chóng.
- Nguồn tài nguyên không được sử dụng liên tục.
Do đó các biện pháp kỹ thuật lâm sinh cần phải được áp dụng đối với quần thể Lồ
ô tự nhiên. Để thiết lập thí nghiệm ngoài thực địa, đề tài đã chọn khu rừng Lồ ô tự
nhiên ở tiểu khu 200 thuộc Ban Quản lý rừng phòng hộ Bắc Lâm Hà, huyện Lâm
Hà, tỉnh Lâm Đồng.
Vị trí các ô thí nghiệm để thu thập số liệu ở chân, sườn và đỉnh đồi. Lâm phần
được chia làm 3 tổ tuổi: non, vừa và già. Qua số liệu hu thập trong 4 lô (trừ lô số
II) thì lâm phần có quy luật phân bố số lượng theo tuổi là

đều tốt hơn cây măng Lồ ô không khai thác, nhưng không sai khác nhiều giữa các
lô có cường độ khai thác khác nhau.
Bảng 2. ảnh hưởng của cường độ khai thác đến sản lượng măng mọc
Công thức

Cường độ
khai thác
N/ ha trước
khai thác
N/ ha sau
khai thác
Số măng/ ha

Tỷ lệ (%)
1
2
3
4
25
50
75
0
5333
6467
7533
7955
4000
3234
1884
7955

Bảng trên cho thấy, đối với Lồ ô, lượng khai thác lấy ra có thể từ 50 – 75% số cây
trong lâm phần. Việc điều chỉnh mật độ đó trước hết cần loại khỏi lâm phần cây
sâu bệnh, còi cọc, cây già rồi đến cây vừa. Chỉ khi khai thác tối đa vào nhóm cây
vừa không quá 10% mới bảo đảm sinh trưởng cho lâm phần.
Mùa khai thác ở phía Nam từ đầu mùa khô (tháng 11) đến cuối mùa khô (tháng 3):
Thời gian này không những thuận lợi cho vận xuất, vận chuyển mà cũng là lúc cây
măng đã định hình, do đó ít ảnh hưởng đến sinh trưởng của rừng.
II. Nghiên cứu tính chất cơ lý và thành phần hoá học của Lồ ô
Việc nghiên cứu công nghệ sản xuất giấy có độ bền cao: Việc sản xuất giấy từ Lồ
ô đã được tiến hành từ lâu, nhưng việc tạo ra giấy có độ bền cao để nâng cao hiệu
quả sử dụng nguyên liệu Lồ ô thì chưa được đề cập đến. Đề tài đã đi sâu nghiên
cứu tính chất vật lý, thành phần hoá học nguyên liệu cũng như công nghệ chế biến
trong phòng thí nghiệm và thử nghiệm ở qui mô sản xuất, tính toán giá thành.
+ Tính chất vật lý:
- Tỷ trọng trung bình 0,68g/ cm
3
là tỷ trọng lớn hơn những loại giấy như bồ đề,
bạch đàn, keo.
- Sợi Lồ ô dài, hai đầu nhọn, nếu phối chế tốt có thể sản xuất giấy có độ bền cao.
- Mấu mắt chiếm 15 – 20%, chiều dài sợi 1,9mm.
+ Thành phần hoá học:
Hàm lượng cellulose của Lồ ô khá cao (trên 50%), nhưng chất hoà tan trong
NaOH 1% lớn hơn 19,2%, hàm lượng lignin cũng lớn hơn 22,37%.
+ Về công nghệ chế biến: 3 Phương án nấu bột đã được tiến hành trong phòng thí
nghiệm:
- Nấu với tỷ lệ hoá chất khác nhau
- Nấu với tỷ lệ cái và nước khác nhau;
- Nấu với thời gian thẩm thấu khác nhau.
Từ 3 phương án nấu thí nghiệm trên, đề tài đưa ra phương án nấu bột có hiệu suất
cellulose cao và có độ cứng vừa phải, đó là:

- Thời gian tẩy: 130 phút;
- PH trong quá trình tẩy: 9 – 11
- Xủ lý Na
2
SO
4
để tránh phục hồi màu.
Nghiền bột theo phương pháp những thớ dài ở nồng độ bột cao để tránh cắt sợi
ngắn.
Nên xeo ở nồng độ loãng và áp dụng chế độ sấy êm dịu tránh đột ngột sẽ phá vỡ
kết cấu tờ giấy.
Tiến hành sản xuất thử tại Nhà máy Giấy Viễn Đông với 2 loại giấy viết và giấy
mỏng và tính toán theo định mức thực tế tiêu hao thấy:
- Giá thành nội bộ: Giấy viết là 9.001.410 đ/ tấn
Giấy mỏng là 10.556.486 đ/ tấn
- Giá thành sản phẩm: Giấy viết 7.800.000 đ/ tấn
Giấy mỏng: 11.500.000đ/ tấn
Như vậy: Nếu sản xuất giấy viết từ Lồ ô sẽ bị lỗ 1.201.410đ/ tấn, nhưng nếu sản
xuất giấy mỏng có thể lãi 933.514đ/ tấn.
III. Kết luận
Để việc sản xuất giấy từ Lồ ô có hiệu quả cần gắn kết từ phương pháp khai thác
nguyên liệu hợp lý đến việc chọn quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm có giá trị
cao, việc làm này không những mang lại hiệu quả kinh tế mà còn có ý nghĩa bảo
vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt.
Summary: Research has been conducted in natural bambusa procera forest, forest
subdivision 200, managed by North Lam Ha (Lam Dong prov.) Protection Forest
Management Board on suitable silvicultural measures for exploitation of bambusa
procera forest in the direction of stable Forest structure and high productivity. The
author points out that 50 - 75% of the culms in the forest stand can be harvested.
However the medium - sized culms harvested must not exceed 10% their total


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status