Sinh thái và kỹ thuật trồng vẹt tách
Hoàng Văn Thơi
Trung tâm nghiên cứu rừng ngập Minh Hải
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam
I. Giới thiệu
Cây vẹt tách (Bruguiera parviflora Rox&Arn.ex Giff) thuộc chi Bruguiera, họ
Rhizophoracea. Vẹt tách là loài cây ưa sáng, phát triển nhanh, chịu được đất ngập
nước theo thuỷ triều lên xuống tại các vùng ven biển nhiệt đới. Vẹt tách có vị trí
quan trọng trong tập đoàn cây trồng phục hồi rừng tại các vùng ven biển. Nó cung
cấp gỗ phục vụ xây dựng, chất đốt phục vụ đời sống sinh hoạt cho cộng đồng cư
dân địa phương. Tuy nhiên, cùng với việc giảm diện tích và chất lượng rừng,
giống như các loài cây ngập mặn khác, việc phục hồi rừng vẹt tách đang gặp phải
nhiều thách thức to lớn. Do nhận thức về giá trị của vẹt tách của người dân chưa
cao, tâm lý thích trồng cây đước và trong thời gian dài các cơ quan nhà nước
không chú trọng đến trồng loại cây này…đã dẫn đến tình trạng suy thoái nghiêm
trọng về chất lượng, số lượng và giống vẹt tách.
1. Đặc điểm về thực vật
Vẹt tách là loài cây thân gỗ cao từ 15-20m, đường kính thân cây ((D
1,3m
) 30-45cm.
ở một số vùng đất cao, nghèo dinh dưỡng, không ngập triều chúng thường có kích
thước nhỏ hơn và tăng trưởng chậm hơn.
Rễ có đặc trưng cho thực vật sống trong vùng có thuỷ triều lên xuống, nhưng ít bị
tác động bởi sóng biển, kết cấu của đất tương đối ổn định. Rễ phát triển chủ yếu là
hệ thống rễ gối đầu, nhô lên khỏi mặt đất 2-5cm. Ngoài nhiệm vụ giữ cho cây
đứng vững trước gió bão, còn có nhiệm vụ hút nước và chất dinh dưỡng nuôi cây.
Thân cây thẳng, nhưng không được tròn, phía gốc có bạnh vè nhỏ theo hướng
đông bắc tây nam. Vỏ dày màu nâu đỏ và có nhiều nốt như là các nốt sần, theo
một số tác giả thì nốt sần là cơ quan hô hấp và thải nuôi của cây. Cây có đặc tính
phân cành cao và có tán lá hình dù lúc nhỏ (1-5 tuổi), biến đổi thành hình tháp lúc
kiểu rừng thuần loài. Cũng có thể kết hợp với một số loài cây rừng ngập mặn khác,
tạo ra quần xã thực vật rất phong phú như quần xã hỗn giao đước-vẹt tách, quần xã
vẹt tách – vẹt dù, quần xã dà - vẹt tách…
4. Sinh trưởng và sinh khối
Trên thế giới có rất nhiều tác giả nghiên cứu về sinh trưởng và sinh khối rừng
đước như Barry Clough (1996), Ong (1985), Putz&Chan (1986).
ởViệt Nam, vẹt tách tăng trưởng khá nhanh và có sinh khối lớn, nhưng ít thấy tác
giả nào nghiên cứu.
Về tăng trưởng:
Tăng trưởng đường kính 0,63cm/năm, tăng trưởng chiều cao 1,02m/năm và lượng
tăng trưởng bình quân 10,1m
3
/ha/năm ở Tam Giang, Ngọc Hiển, Cà Mau.
Tăng trưởng của vẹt tách có thể tham khảo theo số liệu ở bảng sau:
Tuổi Mật độ
(c/ha)
D
1.3
(cm)
Hvn
(m)
Trữ lượng
(m
3
/ha)
Zd
(cm/năm)
chống gió bão, sóng thần…. phòng hộ cho nuôi trồng thuỷ sản và sản xuất nông
nghiệp, cung cấp oxy, điều hoà khí hậu, tạo môi trường trong sạch, phục vụ du lịch
sinh thái và nghiên cứu khoa học.
II. Đánh giá các mô hình trồng rừng
2.1. Mô hình Lâm – Ngư kết hợp với loài cây vẹt tách thuần loài
Mô hình này thích hợp cho vùng đất có độ ngập triều trung bình, thành phần cơ
giới chủ yếu là sét, hàm lượng hữu cơ không quá cao, tầng sinh phèn sâu. Mô hình
này gặp ở các Lâm Ngư trường Tam Giang I, Lâm Ngư trường Đầm Dơi, Kiến
Vàng, tỉnh Cà Mau.
Diện tích chung thường từ 5-10ha.
Tỷ lệ diện tích rừng trồng từ 60-70%, diện tích kênh bờ nuôi tôm từ 30-
40%.
Hệ thống kênh mương nuôi tôm.
- Kênh bao được đào đắp bằng cơ giới hoặc bằng thủ công, rộng 4-8m, sâu từ 1-
1,5m, bờ bao phía ngoài tạo ra một khuông hộ khép kín.
- Kênh bên trong hay kênh ruột thường nhỏ hơn, đào đắp bằng thủ công thường
rộng từ 2,5-3,0m, sâu từ 1,0-1,2m. Hướng đào theo chiều dài của đầm, kênh cách
kênh từ 20-40m.
- Để điều tiết nước cần thiết xây dựng hai cống; 1 cống lấy nước và một cống xả,
cống có kích thước dài 3-5m, rộng 1,0-1,5m, sâu 1,5m.
Chăm sóc và kinh doanh rừng vẹt tách.
- Rừng trồng theo từng băng xen kẽ với các kênh.
- Mật độ trồng 10.000 cây/ha.
- Trong 3 năm đầu chăm sóc rừng chủ yếu là điều tiết nước, tra dặm cho đủ mật
độ. Sau khi rừng khép tán từ 1-2 năm tiến hành dọn vệ sinh, chặt tỉa bớt cành
nhánh, thân phụ.
- Tỉa thưa rừng lần thứ nhất vào năm thứ 6-7; chủ yếu là chặt cây dưới tán, cây bị
chèn ép, sâu bệnh; hoặc tỉa thưa theo phương pháp cơ giới, cường độ tỉa từ 30-
50% số cây.
- Rừng vẹt tách chủ yếu là cây tái sinh với mật độ ban đầu rất cao, khoảng 19.300
cây/ha; đước trồng xen trên diện tích mà vẹt không tái sinh với mật độ trồng
10.000 cây/ha.
- Trong 3 năm đầu chăm sóc rừng chủ yếu là điều tiết nước, tra dặm cho đủ mật
độ, sau khi rừng khép tán từ 1-2 năm tiến hành dọn vệ sinh chặt tỉa bớt cành
nhánh, thân phụ.
- Tỉa thưa rừng lần thứ nhất vào năm thứ 8-9, tỉa thưa rừng lần thứ hai vào năm
thứ 12-14, chủ yếu là chặt cây dưới tán, cây bị chèn ép, sâu bệnh.
- Khai thác rừng nên thực hiện vào năm thứ 16-18, chủ yếu là chặt trắng, hoặc
chừa khoảng 100 cây gieo giống.
- Nuôi tôm: Kỹ thuật giống như mô hình trên.
Nhận xét:
- Mô hình này giống như mô hình trên là ít tốn kém, không đòi hỏi kỹ thuật canh
tác cao, có thể áp dụng rộng rãi.
- Môi trường ổn định hơn mô hình trên.
- Lượng vật dụng như lá, cành, hoa…. hàng năm nhiều hơn nên gây tác động xấu
đến tôm nuôi.
III. Các giải pháp kỹ thuật áp dụng
3.1. Giống trồng rừng
Chọn cây mẹ
Cây mẹ có tuổi từ 12-15 năm, sinh trưởng và phát triển tốt, không sâu bệnh, không
khuyết tật, phân cành cao, tán cân đối.
Kỹ thuật thu hái bảo quản
Quả chín vào tháng 7-10, nhưng thời gian thu vớt quả giống tốt nhất vào tháng 8,
quả giống phải còn nguyên vẹn, chưa đâm rễ, dài 10-12cm, trọng lượng bình quân
160-180 trái/kg.
Khi thu hái xong nên đem trồng ngay. Nếu chưa trồng được ngay phải để quả
giống ngâm dưới nơi nước chảy có bóng mát và không nên giữ lâu quá 10 ngày.
3.2. Kỹ thuật trồng rừng
Số ngày ngập
Tính chất đất
Khả năng sinh
trưởng của vẹt
Hàng ngày
Bùn lỏng
Không thích
300-340
Bùn
Không thích
100-300
Bùn chặt - sét
mềm
<100
Sét cứng
ít thích
Rất ít
Đất rắn chắc
Không thích
tách hợp hợp Thích hợp hợp hợp
Tài liệu tham khảo
1. Nguyễn Ngọc Bình, 1999; Trồng rừng ngập mặn. Nhà XB Nông nghiệp, Hà
Nội, 1999
2. Bali & Lombok, 1997. Hand book of Mangroves in Indonesia, The
Development of Sustainable Mangrove Management Project.
3. Phan Nguyên Hồng, 1997. Vai trò của RNM Việt Nam. Nhà XB Nông
nghiệp, Hà Nội, 1997.