Nghiên cứu khoa học " Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành (19612001) " - Pdf 14

Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam 40 năm xây dựng và trưởng thành (1961-
2001)
Đỗ Đình Sâm
PhầnI.40 năm xây dựng và trưởng thành Viện KHLN Việt Nam

1. Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Namvới 35 năm xây dựng và trưởng thành
(1961-1996)
Ngày 29/9/1961Viện Lâm nghiệp được thành lập theo Quyết định của Chính phủ.
Trong những ngày mới thành lập Viện đã tập hợp được một số cán bộ chủ chốt
nguyên là những cán bộ lâm nghiệp được đào tạo trong thời kỳ trước cách mạng đi
tham gia kháng chiến chống Pháp trở về cùng với lớp kỹ sư trẻ mới ra trường được
đào tạo dưới chế độ mới .
Ra đời chưa được bao lâu, cùng với cả nước cán bộ công nhân viên của Viện phải
đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Toàn Viện phải đi sơ
tán, cách xa thủ đô hàng trăm km dựng lán làm nhà tiếp tục công tác nghiên cứu
khoa học. Góp phần chi viện cho cuộc kháng chiến chống Mỹ, nhiều cán bộ của
Viện đã vào Nam chiến đấu có đồng chí đã vĩnh viễn yên nghỉ tại núi rừng phía
Nam. Chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt (1967-1971) nhưng hoạt động nghiên
cứu vẫn sôi nổi, đều đặn nhằm phục vụ trước mắt cho cuộc kháng chiến chống Mỹ
và xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa.
Năm 1971, khối nghiên cứu công nghiệp rừng được tách ra để thành lập Công ty
thiết kế công trình công nghiệp nhằm tăng cường cán bộ nghiên cứu trực tiếp phục
vụ sản xuất chi viện tiền tuyến và tới năm 1974 thành lập Viện Công nghiệp rừng.
Đến năm 1982, Viện kinh tế lâm nghiệp cũng được ra đời để nghiên cứu phục vụ
cho quản lý kinh tế của ngành. Từ đó hệ thống nghiên cứu của ngành bao gồm 3
Viện: Viện Lâm nghiệp, Viện Công nghiệp rừng, Viện Kinh tế lâm nghiệp cùng
với 2 Phân viện Đặc sản rừng và Công cụ cơ giới trồng rừng.
Thực hiện việc đổi mới tháng 8/1988 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã
quyết định hợp nhất 3 Viện thành Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Mặc dù
trong hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hoà bình, một Viện hay ba Viện thì các cán
bộ nghiên cứu của chúng ta cũng đã hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

KC07, KT12, bảo tồn gen, 15 đề tài cấp Ngành và đặc biệt là việc chuyển giao kỹ
thuật thông qua thực hiện các dự án phát triển miền núi do Bộ Khoa học Công
nghệ và Môi trường chủ trì các dự án khuyến lâm và các dự án sản xuất thử.
Đội ngũ cán bộ và công tác đào tạo là một nhân tố có tính quyết định những thành
tựu đạt được trong 35 năm qua. Trải qua nhiều thế hệ được đào tạo trong những
điều kiện khác nhau, các lớp đàn anh đào tạo từ trước cách mạng đi tham gia
kháng chiến trở thành cán bộ lãnh đạo, cán bộ chủ chốt trong nghiên cứu khoa học
như đ/c Trần Ngũ Phương, GS.TSKH.Đồng Sỹ Hiền, GS.TSKH. Thái Văn Trừng,
GS.TSKH. Nguyễn Văn Trương, PGS. Lâm Công Định, KS.Vương Tấn Nhị, KS.
Nguyễn Văn Viễn, KS. Phạm An, KS. Nguyễn Văn Cứ, KS. Lê Văn Chung, KS.
Nguyễn Sỹ Nguyên. Nhiều đ/c đã có các công trình có giá trị tầm cỡ quốc tế được
công bố.
Lớp sau cách mạng được đào tạo ở trong nước và ở các nước xã hội chủ nghĩa cũ
cũng đã trưởng thành với các công trình khoa học và hướng dẫn nghiên cứu sinh
bảo vệ thành công Luận án phó tiến sỹ (nay là tiến sỹ). Có một số đ/c đã trở thành
cán bộ lãnh đạo của Ngành, nhiều đ/c đạt học vị tiến sỹ khoa học, có những đóng
góp đáng kể cho sự nghiệp khoa học của Ngành.
Song song với công tác nghiên cứu khoa học, từ năm 1982 Viện là cơ quan đầu
tiên trong ngành Lâm nghiệp được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng
Chính phủ, ký Quyết định số 333/CT giao cho Viện nhiệm vụ đào tạo nghiên cứu
sinh theo 8 chuyên ngành chuyên sâu trong lâm nghiệp. Đối tượng đào tạo là các
cán bộ khoa học kỹ thuật trong và ngoài ngành lâm nghiệp từ trung ương đến địa
phương trên phạm vi toàn quốc.
Kết quả mở 9 khoá tuyển được 84 NCS, trong đó 44 NCS đã bảo vệ thành công
luận án để nhận bằng phó tiến sỹ, tính đến năm 1996 Viện đã có 15 cán bộ khoa
học đầu đàn được phong hàm giáo sư, phó giáo sư.
Cùng với đào tạo trong nước chúng ta đã gửi hàng trăm lượt cán bộ khoa học đi
tham quan đào tạo ở nước ngoài. Nhiều đồng chí đã bảo vệ thành công luận án tiến
sỹ-tiến sỹ khoa học ở Liên Xô, Cộng hoà dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Hungary
trong phe xã hội chủ nghĩa trước đây.

được những kết quả từ các đề tài, dự án trở thành các tiến bộ kỹ thuật, các qui
trình qui phạm triển khai áp dụng vào sản xuất.
Sự nỗ lực đó thể hiện qua 449 công trình khoa học bao gồm các đề tài nghiên cứu,
các dự án trong nước và quốc tế chưa kể đến các công trình luận án của các nhà
khoa học đã bảo vệ thành công luận án của mình theo các trình độ phó tiến sỹ, tiến
sỹ trước đây ở các Hội đồng khoa học trong và ngoài nước. Chính vì sự nỗ lực đó
mà Đảng và Chính phủ đã tặng cho cán bộ công nhân viên của Viện:
- 458 Huân, Huy chương các loại.
- 372 Huy chương vì sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng.
- 32 Huy chương vì sự nghiệp khoa học và công nghệ và hàng chục bằng lao động
sáng tạo.
2. Bước phát triển của Viện trong 5 năm qua(1996-2001)
Trong 5 năm qua (1996-2001) kể từ khi kỷ niệm 35 năm thành lập Viện chúng ta
đã thừa kế những kết quả nghiên cứu trước kia và tiếp tục hoàn thiện bổ sung
những kết quả nghiên cứu mới đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sản xuất và của
Ngành, đồng thời tăng cường xây dựng tiềm lực nghiên cứu của Viện.
Kỷ niệm 40 năm thành lập Viện chúng ta hãy điểm lại những thành tựu chủ yếu đã
đạt được trong thời gian qua.
2.1. Những thành tựu chủ yếu trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam cũng như các Viện nghiên cứu khác trong
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham gia thực hiện các đề tài trong
chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước, các đề tài độc lập cấp Nhà nước,
các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, các dự án sản xuất thử cấp ngành, chuyển giao tiến
bộ kỹ thuật vào sản xuất theo yêu cầu của Bộ.
Trong giai đoạn 1996-2001 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đã và đang thực
hiện 4 đề tài và 1 nhiệm vụ khoa học cấp Nhà nước.
- Đề tài về cải thiện giống cây rừng trong chương trình khoa học công nghệ cấp
Nhà nước KC-08 (1996-2000).
- Đề tài độc lập cấp Nhà nước về phục hồi rừng tự nhiên nghèo kiệt và thâm canh

kinh tế đa dạng với nhóm các loài cây có giá trị kinh tế với tốc độ sinh trưởng
nhanh, làm giàu rừng bằng các biện pháp khác nhau đặc biệt bổ sung các loài kinh
tế theo các đám trống. Các biện pháp lâm sinh được hình thành trên cơ sở thực
nghiệm và nghiên cứu, có kiến thức và hiểu biết về sinh thái quần thể và sinh thái
cá thể loài. Mỗi biện pháp lâm sinh thực hiện còn dựa trên cơ sở phân loại các
trạng thái rừng nghèo, rừng kiệt sau khai thác.
- Xác định mối quan hệ giữa phân bố rừng ngập mặn và đặc điểm đất đai ở miền
Bắc, các mô hình lâm ngư kết hợp trên thực tiễn làm cơ sở phục hồi phát triển hệ
sinh thái rừng ngập mặn ở ngoài Bắc.
- Kết quả trồng rừng cây bản địa đặc biệt họ Sao, Dầu ở miền Nam, các đề tài thử
nghiệm trồng rừng cây họ Dầu như vên vên, dầu rái trong thời gian qua của Viện
Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có thể khẳng định rằng: Bằng các biện pháp lâm
sinh phù hợp tạo lớp áo phủ ban đầu trên đất đồi trọc đã thoái hoá (ví dụ sử dụng
keo lá tràm, đậu tràm ), các rừng trồng cây bản địa họ Dầu có thể thành công đã
mở ra triển vọng về khả năng phục hồi dần hệ sinh thái rừng lá rộng trên đất đồi
trọc bị thoái hoá.
- Các kết quả nghiên cứu về cải thiện giống đặc biệt lựa chọn các dòng ưu việt keo
lai, bạch đàn và bạch đàn lai cùng các biện pháp thâm canh, làm đất, bón phân có
thể tạo rừng trồng có năng suất cao, đạt tới 25-30m
3
/ ha/ năm hoặc hơn. Yếu tố
quyết định năng suất rừng trồng đó là việc chọn giống và cải thiện giống. Tuy
nhiên, rừng trồng với các nguồn giống được cải thiện chỉ đạt được năng suất cao
trong quá trình thâm canh khi lựa chọn những lập địa gây trồng thích hợp, thoả
mãn những điều kiện tối thiểu cho sự phát triển của rừng.
- Các nghiên cứu về khảo nghiệm loài, xuất xứ, nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật
lâm sinh gây trồng rừng, điều tra, đánh giá các mô hình thực tiễn trong thời gian
qua đã cho phép thiết lập danh mục hàng trăm loài cây có khả năng gây trồng ở
nước ta trong các vùng sinh thái khác nhau với các mục tiêu khác nhau: phòng hộ,
đặc dụng, sản xuất Song song đó là các nghiên cứu về cải thiện giống, thâm canh

- Mở các lớp tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật về giâm hom keo lai, phổ biến
các xuất xứ keo lai, tràm úccó năng suất cao, chuyển giao kỹ thuật trồng ba kích,
bếp lâm nghiệp cải tiến, kỹ thuật trồng dó trầm, kỹ thuật nhân giống tre tàu lấy
măng, kỹ thuật trồng luồng, tập huấn về nhân giống vô tính, bảo tồn đa dạng sinh
học
- Xây dựng các tiêu chuẩn, hướng dẫn kỹ thuật, qui trình qui phạm về trồng luồng,
nhiều loài cây bản địa khác cho trồng rừng phòng hộ và rừng sản xuất, đặc sản
rừng như giổi xanh, phi lao, trám trắng, quế, trầm hương đặc biệt kỹ thuật tạo trầm
nhân tạo đã đạt được kết quả bước đầu khả quan.
- Xác định các khu rừng giống đủ tiêu chuẩn phục vụ cung cấp giống cho chương
trình 5 triệu ha (cùng phối hợp với Công ty giống cây trồng lâm nghiệp).
- Qui trình xác định các lập địa cho trồng rừng và khả năng thích hợp các loài cây
trồng chủ yếu.
2.1.2. Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực công nghiệp rừng
Trong những năm 1996-2001 đáng chú ý là các nghiên cứu, hoạt động chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực chế biến, bảo quản và cơ khí lâm nghiệp có
nhiều tiến triển do những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn sản xuất. Viện đã chuyển
giao các tiến bộ kỹ thuật chủ yếu sau:
- Chế tạo máy băm dăm gỗ cỡ nhỏ, lưu động, máy ép, lò sấy phục vụ các cơ sở chế
biến qui mô nhỏ.
- Các kỹ thuật chích nhựa thông 2 lá, cải tiến thiết bị chưng cất nhựa thông, thiết bị
nhỏ phục vụ chế biến tinh dầu quế.
- Xây dựng các vườn ươm công nghiệp phục vụ chương trình trồng mới 5 triệu ha
rừng.
- Kỹ thuật chống mối cho các công trình xây dựng, chuyển giao các thuốc bảo
quản cho sản xuất và Bộ đã công nhận 11 loại thuốc bảo quản gỗ.
2.1.3 Kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế lâm nghiệp
- Đã xây dựng một số định mức cho trồng rừng phòng hộ và đặc dụng các loài cây
trồng chủ yếu.
- Cung cấp các tài liệu điều tra cơ bản về đặc điểm các vùng đệm các vườn quốc

· Phân theo ngạch bâc:
- Nghiên cứu viên cao cấp: 01 người
- Nghiên cứu viên chính: 39 người
- Nghiên cứu viên: 160 người
Trong những năm 1996-1998 Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam có 30 tiến sỹ,
5 giáo sư, 4 phó giáo sư. Hiện số các nhà khoa học có học hàm giáo sư, phó giáo
sư và học vị tiến sỹ đã giảm đi do đến tuổi về hưu. Hiện nay, số tiến sỹ là 25 và
giáo sư là 1.
Trong thời gian qua việc đào tạo thạc sỹ đươc tăng cường mạnh. Số thạc sỹ hiện
nay có 17 người và đang theo học thạc sỹ là 21 người và tiến sỹ là 11 người .
Nhà nước đã có chủ trương xét phong học hàm từ năm 2001 là điều kiện thuận lợi
bổ sung các phó giáo sư, giáo sư kế cận cho Viện.
Trong năm tới thực hiện kế hoạch tinh giảm biên chế những vẫn phải tăng cường
công tác đào tạo sau đại học để đến 2005 sẽ có ít nhất 80 người có trình độ trên đại
học.
Giai đoạn 1996-2001 là thời kỳ đào tạo theo Luật giáo dục mới đào tạo tiến sỹ
chính thức bắt đầu từ tháng 7/1997, tính đến nay mở 4 khoá, tuyển thêm 17 NCS
tốt nghiệp từ 1997 đến nay là 13 người, bao gồm 5 PTS và 8 TS, nâng tổng số
NCS tốt nghiệp lên 57 TS. Số nghiên cứu sinh đang học tập nghiên cứu là 32.
Công tác đào tạo sau đại học sau gần 20 năm đã lập được nhiều thành tựu to lớn có
tác động ảnh hưởng quan trọng góp phần nâng cao số lượng, chất lượng đội ngũ
cán bộ khoa học kỹ thuật lâm nghiệp trên bình diện toàn quốc gia.
Đảm bảo chất lượng đào tạo được coi là phương châm quán triệt hàng đầu cho mọi
hoạt động đào tạo sau đại học của Viện. Nhờ đó các cán bộ có trình độ TS do Viện
đào tạo ra hầu hết đều là những cán bộ chủ chốt, cán bộ đầu đàn trên mọi vị trí
công tác.
Nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ nghiên cứu đã được Viện quan tâm kết
hợp với Trường cán bộ quản lý nông nghiệp và PTNT 1 mở nhiều lớp Anh văn
nâng cao trình độ ngoại ngữ về chuyên môn.
2.2.2. Tăng cường cơ sở hạ tầng và trang thiết bị

Các Trung tâm, Phân viện đã xây dựng được nhiều mô hình nghiên cứu thực
nghiệm có giá trị về trồng rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh và phục hồi rừng,
chăm sóc, nuôi dưỡng và làm giàu rừng tự nhiên. Xây dựng được các vườn sưu tập
thực vật, khu bảo tồn gen.
Những hiện trường thí nghiệm này là những mô hình trình diễn quan trọng để các
đơn vị khác có thể tham quan học tập kinh nghiệm cũng như để sinh viên thực tập
như ở Ba Vì, Cầu Hai, Đông Nam Bộ, Kon Hà Nừng, Những mô hình phục hồi
rừng tự nhiên cây lá rộng đã có ở Cầu Hai và Kon Hà Nừng nay đã được nhân
rộng ở các Trung tâm như Lâm Đồng, Tây Bắc, Minh Hải và thậm chí ở Đại Lải-
nơi đất bị thoái hoá nghiêm trọng. Những mô hình về rừng trồng công nghiệp đã
được phát triển mạnh ở Trung tâm Đông Nam Bộ, Trung tâm Bắc Trung Bộ và
bước đầu triển khai thử nghiệm ở Trung tâm Lâm nghiệp Nhiệt Đới, Đông Bắc
Bộ.
Mô hình gây trồng cây đặc sản đã được Trung tâm Nghiên cứu Lâm đặc sản xây
dựng ở nhiều nơi như mô hình trồng và tạo trầm ở Lâm trường Chúc A.
Bên cạnh những khu rừng thí nghiệm đó, các Trung tâm có hệ thống vườn ươm,
nhà giâm hom, cấy mô một mặt phục vụ nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật nhân
giống, mặt khác có thể kinh doanh giống cây trồng, tạo thêm nguồn phúc lợi cho
Trung tâm và nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên.
Cơ sở hạ tầng và bộ mặt chung của Viện, Phân viện và các Trung tâm đã thay đổi
rõ nét khang trang hơn nhiều.
2.3. Hợp tác quốc tế
Trong giai đoạn 1996-2001 đã và đang thực hiện 12 dự án, đề tài hợp tác quốc tế
với nhiều lĩnh vực được phát triển mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng.
Những dự án hợp tác có kết quả từ giai đoạn trước như dự án “Nghiên cứu cải
thiện giống cây rừng” với Thuỵ Điển và dự án “Phát triển kỹ thuật trồng rừng trên
đất phèn vùng đồng bằng sông Cửu Long” với Nhật được tiếp tục đầu tư giai đoạn
2 hoặc 3 trong các năm gần đây.
Các dự án mới với nội dung bao hàm nhiều lĩnh vực như:
- Dự án lâm sản ngoài gỗ ( IUCN)

các đơn vị được nhanh chóng.
Tạp chí Lâm nghiệp của Ngành được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
giao cho Viện quản lý giúp đã được phát hành với nội dung và số lượng đúng hạn,
ngoài ra Viện còn xuất bản Thông tin khoa học kỹ thuật Lâm nghiệp 6 số /năm để
đăng tải các kết quả nghiên cứu của Viện và bản tin điện tử chọn lọc trung bình 2
số/tháng.
Đã xuất bản và phát hành được 12 đầu sách về các kết quả nghiên cứu của Viện,
góp phần đẩy mạnh sự nghiệp hoạt động KHCN của Ngành.
Để nâng cao trình độ cán bộ thông tin được tham gia nhiều lớp đào tạo trong và
ngoài nước do FORSPA và TREELINK tài trợ.
Tuy nhiên, công tác thông tin của Viện còn nhiều hạn chế chủ yếu do kinh phí và
chưa xây dựng được mạng lưới thông tin về khoa học và sản xuất, dịch vụ các
Trung tâm với các địa phương để nắm bắt được yêu cầu của sản xuất trên cơ sở đó
tiếp cận và đề xuất các dự án, đề tài thực sự phục vụ sản xuất.
2.5. Sự lãnh đạo của Đảng uỷ và các tổ chức công đoàn, thanh niên, nữ công,
tự vệ và các phong trào thi đua của Viện
Quán triệt các Nghị quyết của các đại hội Đảng, của Bộ Chính trị về đẩy mạnh
nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá nông nghiệp và nông thôn. Đảng uỷ Viện đã có những Nghị quyết trong từng
kỳ Đại hội Đảng, cùng với lãnh đạo Viện đề ra phương hướng chiến lược để cán
bộ Đảng viên và quần chúng thực hiện các chương trình, dự án, đề tài và chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất.
Các tổ chức công đoàn, thanh niên, nữ công, tự vệ là các tổ chức chính trị đã động
viên toàn thể cán bộ công nhân viên tham gia vào công tác bảo vệ trật tự trị an,
hoạt động văn thể gây được khí thế sôi nổi trong toàn Viện.
Thành tích đã đạt được là:
- Được Đảng bộ cấp trên liên tục công nhận là Đảng uỷ vững mạnh và trong sạch.
- Tổ chức công đoàn, đoàn thanh niên CSHCM, nữ công được Bộ khen thưởng
nhiều năm.
- Đại đội tự vệ của Viện với quân số 60-80 người nhiều năm đạt cờ quyết thắng,

bộ công nhân viên chức, các nhà khoa học đầu đàn thế hệ đi trước và kế tục sau
này, các nhà lãnh đạo Viện đầy nhiệt tình và tâm huyết xây dựng Viện trong nhiều
giai đoạn. Đào tạo cán bộ, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị của Viện, tìm
tòi và hình thành hệ thống tổ chức khoa học của Viện một cách phù hợp từ trung
ương tới địa phương cũng góp phần quan trọng tạo nên thành tích của Viện trong
40 năm qua. Thành tựu đạt được còn nhờ sự giúp đỡ, hậu thuẫn của Ngành, của
các Bộ trong mọi hoạt động nghiên cứu, xây dựng tiềm lực cho Viện.
Trong giai đoạn tới 2001-2010 đòi hỏi của Ngành rất lớn và đã được xác định
bước đầu một cách cơ bản. Trước hết là dự án trồng mới 5 triệu ha rừng tới năm
2010 đã được Quốc hội thông qua xác định các mục tiêu tổng quát về môi trường,
xã hội và kinh tế bằng cách bảo vệ rừng tự nhiên hiện có, thiết lập 2 triệu ha rừng
phòng hộ và đặc dụng, 2 triệu ha rừng kinh tế và 1 triệu ha cây công nghiệp dài
ngày nhằm nâng cao độ che phủ rừng lên 43%, đẩy mạnh chế biến và tạo công ăn
việc làm cho hàng triệu người góp phần xoá đói giảm nghèo ở vùng núi.
Ngành đã xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp tới năm 2010 để đệ trình
Chính phủ thông qua với những mục tiêu, nội dung, giải pháp chủ yếu và phát
triển lâm nghiệp theo từng vùng kinh tế-sinh thái.
Với dự án phục hồi 5 triệu ha rừng các tổ chức quốc tế hết sức quan tâm và đã
hình thành “đối tác dự án trồng mới 5 triệu ha rừng” và xây dựng chương trình hỗ
trợ Ngành Lâm nghiệp với sự tham gia của nhiều chuyên gia quốc tế và Việt Nam
có nhiều kinh nghiệm và hiểu biết về Ngành. Trong tháng 11 này Bộ lại tổ chức
hội thảo quốc gia về chiến lược nghiên cứu phục vụ dự án phục hồi 5 triệu ha rừng
với sự tham gia của các chuyên gia quốc tế và Việt nam.
Để thực hiện có hiệu quả dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, Ngành cũng đã xây
dựng chương trình trồng rừng kinh tế cây chủ lực nhằm tạo đột phá trong sự
nghiệp trồng rừng đóng góp đáng kể trong nền kinh tế quốc dân, nhằm cung cấp
nguyên liệu giấy, ván nhân tạo, đồ mộc, hàng xuất khẩu, gỗ trụ mỏ, đặc sản rừng.
Ngành cũng đang tiến hành xây dựng cơ chế và hệ thống tổ chức phù hợp để phát
huy hiệu quả hoạt động của Ngành.
Xây dựng tiềm lực nghiên cứu cho hệ thống các Viện trong Bộ cũng được Ban cán

rộng và có tiềm năng cạnh tranh nhiều hơn. Đó thực sự là những thách thức mới
trong giai đoạn tới.
Mặc dù có những thách thức nhưng thời cơ và thuận lợi vẫn là cơ bản nên chúng
ta có quyền hy vọng và tin tưởng rằng Viện chúng ta sẽ vươn lên hoàn thành
nhiệm vụ, xứng đáng là Viện trọng điểm của Bộ và ngang tầm với các Viện trong
khu vực.
Thưa Quí vị đại biểu!
Theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, hàng năm bắt đầu từ năm 1995 lấy
ngày 28/11 là “Ngày Lâm nghiệp Việt Nam” để động viên toàn dân, cán bộ, công
nhân viên và lao động lâm nghiệp, các cơ quan, trường học, lực lượng vũ trang
phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc, thực hiện tốt lời dạy thiêng
liêng của Bác Hồ ngày 28/11/1959 về “Tết trồng cây” và công tác lâm nghiệp.
Hôm nay vào dịp kỷ niệm ngày Lâm nghiệp Việt Nam cũng tại hội trường này, kỷ
niệm 40 năm ngày thành lập Viện, chúng ta vô cùng tự hào và sung sướng một lần
nữa đón nhận Huân chương lao động hạng Nhất, phần thưởng cao quí mà Đảng,
Nhà nước trao tặng cho Viện. Chúng ta vô cùng biết ơn Đảng, Bác Hồ và thấm
thía lời dạy của Bác về Tết trồng cây, về công tác lâm nghiệp, biết ơn các đồng chí
cán bộ công nhân viên của Viện đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng, vì sự phát
triển chung của Ngành Lâm nghiệp và sự nghiệp hoạt động khoa học lâm nghiệp
của Viện ta.
Chúng ta xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với các đ/c Lãnh đạo Bộ các cơ quan
cấp trên, cơ quan địa phương đã chỉ đạo, giúp đỡ Viện chúng ta hoàn thành sự
nghiệp của mình trong 40 năm qua và tiếp thêm sức mạnh vững bước vào những
năm đầu của thế kỷ 21 - Thế kỷ của khoa học công nghệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status