Đề tài: “Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi ” doc - Pdf 14


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC

KHOA ^]
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Đề tài:

Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi


dụng tiết kiệm các nguồn lực cho doanh nghiệp, giúp hạ giá thành sản phẩm
tạo điều kiện để cho doanh nghiệp tích luỹ, góp phần cải thiện đời sống công
nhân viên. Chính vì vậy, để phát huy tốt chức năng của mình, việc tổ chức
công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần phải đợc cải
tiến và hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao của doanh
nghiệp.
Xuất phát từ nhu cầu và vai trò trên, qua thời gian thực tập tại công ty
Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi em đã lựa chọn đề tài:
Tổ chức công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty Cơ khí- Điện Thuỷ Lợi làm đề tài nghiên cứu
cho luận văn tốt nghiệp của em.
Ngoài lời nói đầu và kết luận, bố cục luận văn gồm các nội dung sau:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
2

Chơng 1 : Cơ sở lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm.
Chơng 2 : Thực trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty Cơ khí - Điện Thuỷ Lợi.
Chơng 3 : Biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty Cơ khí - Điện Thuỷ Lợi.
Sau đây là nội dung cụ thể của luận văn.

giá trị, quy luật cạnh tranh, quy luật cung cầuChính vì vậy, một doanh
nghiệp muốn tồn tại và tạo đợc một chỗ đứng vững chắc trên thị trờng thì
sản phẩm sản xuất ra phải phù hợp, đạt chất lợng cao và thu nhập phải bù đắp
chi phí, có lợi nhuận tức là việc xác định tập hợp chi phí sản xuất phải tuyệt
đối chính xác, đầy đủ sao cho chi phí sản xuất bỏ ra là tối thiểu, giá thành sản
phẩm thấp nhất nhng vẫn đảm bảo chất lợng. Tính toán chi phí sản xuất bỏ
ra để tính giá thành sản phẩm, doanh nghiệp phải chú trọng làm tốt công tác
tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo đúng chế độ nhà
nớc quy định và phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp mình. Công
tác này không chỉ có ý nghĩa đối với riêng từng doanh nghiệp mà còn có ý
nghĩa đối với nhà nớc và các bên liên quan.
- Đối với doanh nghiệp: Trong nền kinh tế thị trờng làm tốt công tác kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp cho doanh nghiệp
nhìn nhận đúng đắn thực trạng quá trình sản xuất, quản lý cung cấp các thông
tin một cách kịp thời chính xác cho bộ máy lãnh đạo của doanh nghiệp để có
những biện pháp, chiến lợc, sách lợc phù hợp nhằm tiết kiệm tối đa chi phí
góp phần hạ giá thành sản phẩm. Đồng thời làm tốt công tác tập hợp chi phí
sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp doanh nghiệp có kế hoạch sử
dụng vốn hiệu quả, đảm bảo tính chủ động trong sản xuất kinh doanh.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
4

- Đối với nhà nớc: Làm tốt công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sẽ giúp cho nhà nớc có cái
nhìn tổng thể toàn diện đối với sự phát triển của nền kinh tế, từ đó đa ra các
đờng lối chính sách phù hợp để phát triển các doanh nghiệp thực sự làm ăn
có hiệu quả và hạn chế quy mô các doanh nghiệp sản xuất thua lỗ triền miên
không có khả năng khắc phụcnhằm đảm bảo cho sự phát triển không ngừng

và tăng lợi nhuận. Để việc hạch toán chi phí kinh doanh đạt đợc hiệu quả,
các doanh nghiệp cần nắm bắt rõ và sâu sắc bản chất kinh tế của chi phí sản
xuất kinh doanh cũng nh phân loại nó theo những cách thức và mục đích
nhất định.
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ lao động
sống và lao động vật hoá mà doanh nghiệp bỏ ra liên quan đến hoạt động sản
xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm). Nói cách
khác, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí
mà doanh nghiệp phải tiêu dùng trong một thời kỳ để thực hiện quá trình sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực chất chi phí là sự dịch chuyển vốn- dịch
chuyển giá trị của các yếu tố sản xuất vào các đối tợng tính giá thành (sản
phẩm, lao vụ, dịch vụ).
1.1.2.2/ Kết cấu, nội dung chi phí sản xuất
Trong điều kiện kinh tế hiện nay, các doanh nghiệp sản xuất không chỉ
đơn thuần thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn thực hiện các hoạt
động dịch vụ thơng mại khác (nh mua bán hàng hoá, xúc tiến thơng
mại). Nh vậy, khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh của mình thì
các doanh nghiệp này phải bỏ ra những chi phí nhất định, bao gồm :
Chi phí sản xuất sản phẩm gồm có:
+ Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là các chi phí về nguyên liệu, vật
liệu, nhiên liệu đợc sử dụng trực tiếp vào việc chế tạo sản phẩm, hàng hoá,
dịch vụ.
+ Chi phí nhân công trực tiếp: Là các khoản trả cho ngời lao động trực
tiếp sản xuất nh tiền công, tiền lơng và các khoản phụ cấp có tính chất
lơng, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của công nhân trực
tiếp sản xuất.
+ Chi phí sản xuất chung: Là những chi phí chung phát sinh ở các phân
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
7

điều kiện tự nhiên, loại hình sản xuất, trình độ tổ chức quản lý của mỗi doanh
nghiệp.
Việc nghiên cứu kết cấu chi phí sản xuất kinh doanh có ý nghĩa rất quan
trọng, không những cho ta biết tỷ trọng các loại chi phí trong tổng số chi phí
sản xuất kinh doanh mà còn biết đợc đặc điểm sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp cũng nh trình độ công nghệ, trình độ quản lý của doanh
nghiệp. Kết cấu chi phí sản xuất kinh doanh còn là tiền đề để kiểm tra giá
thành sản phẩm, xác định phơng hớng cụ thể cho việc phấn đấu hạ giá
thành, mà làm đợc điều đó thì doanh nghiệp phải biết tiết kiệm bất kỳ một
loại chi phí nào.
1.1.2.3/ Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, có nội dung
kinh tế, mục đích, công dụng khác nhau. Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý ngời
ta tiến hành phân loại chi phí sản xuất kinh doanh theo những tiêu thức thích
hợp.
Phân loại chi phí là việc xắp xếp chi phí sản xuất vào từng loại, từng
nhóm theo những đặc trng nhất định. Xét về mặt lý luận cũng nh thực tế, có
nhiều cách phân loại chi phí khác nhau, tuy nhiên lựa chọn tiêu thức phân loại
chi phí nào là phải dựa vào yêu cầu của công tác quản lý và hạch toán. Ta có
thể tiến hành phân loại chi phí xuất kinh doanh theo một số tiêu thức phân loại
chủ yếu sau:
* Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế
Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung kinh tế và tính chất của chi
phí để chia ra thành các yếu tố chi phí, mỗi yếu tố chi phí có cùng nội dung
kinh tế không phân biệt chi phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào, ở đâu, mục đích,

trong kỳ để làm căn cứ để lập thuyết minh báo cáo tài chính phần: Chi phí
sản xuất kinh doanh theo yếu tố phục vụ cung cấp thông tin cho quản trị
doanh nghiệp và phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí trong doanh
nghiệp.
* Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng
Cơ sở của phơng pháp này là dựa vào công dụng kinh tế của chi phí, địa
điểm phát sinh cũng nh mức phân bổ chi phí cho từng đối tợng. Theo quy
định, giá trị toàn bộ của sản phẩm bao gồm các yếu tố sau:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
9

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Bao gồm chi phí về các loại nguyên
vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệusử dụng trực tiếp vào việc sản
xuất, chế tạo sản phẩm hay thực hiện các công việc lao vụ, dịch vụ. Không
tính vào khoản mục này những chi phí nguyên vật liệu dùng vào mục đích
phục vụ nhu cầu sản xuất chung hay cho những hoạt động ngoài lĩnh vực sản xuất.
- Chi phí nhân công trực tiếp: Bao gồm chi phí về tiền lơng, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT và KPCĐ, trích trớc tiền lơng
nghỉ phép trên tiền lơng của công nhân trực tiếp sản xuất theo quy định.
Không tính vào khoản này khoản tiền lơng phụ cấp và các khoản trích trên
tiền lơng của nhân viên phân xởng, nhân viên bán hàng, nhân viên quản lý
doanh nghiệp hay nhân viên khác.
- Chi phí sản xuất chung: Là chi phí dùng vào việc quản lý và phục vụ
sản xuất chung tại bộ phận sản xuất (phân xởng, đội trại); bao gồm các
điều khoản sau:
+ Chi phí nhân viên phân xởng: Gồm các chi phí về tiền lơng, phụ cấp
phải trả và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trên tiền lơng của nhân
viên quản lý, nhân viên thống kê, nhân viên bảo vệtại phân xởng sản xuất

- Chi phí khả biến hoặc biến phí: Là các khoản chi phí thay đổi tỷ lệ
thuận với khối lợng sản xuất ra. Sự thay đổi này chỉ đúng khi ta xét về tổng
thể chi phí trên khối lợng tổng sản phẩm hàng hoá sản xuất ra nhng nếu tính
cho một đơn vị sản phẩm thì lại không đổi. Những chi phí thuộc về chi phí khả
biến gồm có: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhiên liệu, động lực, tiền lơng
công nhân trực tiếp sản xuất, hoa hồng đại lý và các khoản chi phí khác.
- Chi phí bất biến (hay còn gọi là định phí): Là các khoản chi phí
không đổi khi khối lợng sản phẩm sản xuất ra thay đổi trong một phạm vi
nhất định nào đó. Ngợc lại, chi phí bất biến tính về tổng thể (trong phạm vi
giới hạn khối lợng sản phẩm sản xuất ra) là không đổi nhng chi phí bất biến
tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi khi khối lợng sản phẩm sản xuất ra
tăng lên và ngợc lại. Những chi phí thuộc về biến phí bao gồm : Chi phí khấu
hao tài sản cố định, chi phí bảo dỡng máy móc thiết bị, tiền lơng bộ phận
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
11
quản lý doanh nghiệp, tiền thuê nhà xởng, đất đai máy móc, chi phí bảo
hiểm
- Chi phí hỗn hợp: Là các khoản chi phí vừa thể hiện đặc tính định phí
vừa thể hiện đặc tính của biến phí. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí về
tiền điện, điện thoại, fax, chi phí sửa chữa thờng xuyên tài sản cố định.
Việc phân loại chi phí theo phơng pháp này có ý nghĩa lớn đối với công
tác quản lý doanh nghiệp. Qua việc xem xét mối quan hệ giữa khối lợng sản
xuất với chi phí bỏ ra giúp các nhà quản lý tìm ra những biện pháp quản lý
thích hợp với từng loại chi phí để tiến tới hạ thấp giá thành sản phẩm. Đồng
thời việc phân loại này có tác dụng xây dựng các mô hình chi phí trong mối
quan hệ với sản lợng và lợi nhuận, xác định điểm hoà vốn và phục vụ các
quyết định quan trọng khác trong quá trình sản xuất kinh doanh.
* Phân loại chi phí sản xuất theo phơng pháp tập hợp chi phí

chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra, hai là kết quả sản xuất mà doanh nghiệp thu
đợc. Những sản phẩm, công việc, lao vụ nhất định đã hoàn thành phục vụ cho
nhu cầu tiêu dùng của xã hội cần đợc tính giá thành.
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao
động sống và lao động vật hoá có liên quan đến khối lợng công tác, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành trong kỳ (tháng, quý, năm). Những khoản chi phí
nào phát sinh (bao gồm cả kỳ trớc chuyển sang và phát sinh trong kỳ) và chi
phí trích trớc có liên quan đến khối lợng sản phẩm dịch vụ trong kỳ sẽ tạo
nên giá thành sản phẩm. Hay nói cách khác bản chất của giá thành sản phẩm
là tập hợp các chi phí sản xuất nhng đợc kết tinh trong sản phẩm đã hoàn
thành. Do đó khi muốn xác định giá thành của sản phẩm thì ta phải xác định
và tập hợp chi phí đợc một cách chính xác các khoản chi phí sản xuất đã phát
sinh từ đó tiến hành quy nạp các chi phí.
* Chức năng của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lợng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng
đối với công tác quản lý doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Tính tổng hợp của chỉ tiêu này đợc biểu hiện ở chỗ thông qua nó ngời
ta có thể đánh giá đợc hiệu quả của quá trình sản xuất, chứng minh đợc khả
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
13
năng phát triển và sử dụng các yếu tố vật chất đã thực sự tiết kiệm và hợp lý
cha.
Tính tổng hợp còn đợc biểu hiện ở chỗ thông qua nó ngời ta có thể
đánh giá đợc toàn bộ các biện pháp kinh tế, tổ chức kỹ thuật mà doanh
nghiệp đã đầu t trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Do tính chất quan trọng nh vậy nên chỉ tiêu giá thành luôn đợc xem là
một trong những chỉ tiêu cần đợc xác định một cách chính xác, trung thực để
giúp các doanh nghiệp có căn cứ xem xét, đánh giá, kiểm tra và đề xuất các

phải căn cứ vào giá thành sản phẩm.
Tuy nhiên giá thành sản phẩm không phải là căn cứ duy nhất để doanh
nghiệp xác định giá cả sản phẩm của mình mà còn phải căn cứ vào giá thành
bình quân của ngành, tính hợp lý của chi phí và quá trình sản xuất.
Giá cả là biểu hiện mặt giá trị của sản phẩm chứa đựng trong nó nội dung
bù đắp hao phí vật chất dùng để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nên việc lấy giá
thành làm căn cứ lập giá là yêu cầu khách quan, vốn có trong nền sản xuất
hàng hoá và đợc biểu hiện đầy đủ trong nền kinh tế thị trờng, mọi sự thoát
ly cơ sở lập giá thành sẽ làm cho giá cả không còn tính chất đòn bẩy để phát
triển sản xuất kinh doanh mà sẽ kìm hãm sản xuất, gây ra những rối loạn
trong sản xuất và lu thông hàng hóa.
- Chức năng đòn bẩy
Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá
thành sản phẩm. Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng
doanh lợi tạo nên tích luỹ để tái sản xuất và mở rộng sản xuất.
Cùng các phạm trù kinh tế nh giá cả, lãi, chất lợng, thuếgiá thành
sản phẩm thực tế đã trở thành đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy các doanh
nghiệp tăng cờng hiệu quả kinh doanh phù hợp với nguyên tắc hạch toán
kinh doanh. Trong điều kiện nền kinh tế thị trờng tính chất đòn bẩy kinh tế
của giá thành đặt ra yêu cầu cho từng bộ phận sản xuất và phải có biện pháp
hữu hiệu vừa tiết kiệm đợc chi phí, vừa sử dụng chi phí một cách hợp lý nhất
đối với từng loại hoạt động, từng khoản chi phí cụ thể.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
15
1.1.3.2/ Phân loại giá thành sản phẩm
Để đáp ứng các yêu cầu về quản lý, kế toán và kế hoạch hoá giá thành
cũng nh yêu cầu xây dựng giá bán hàng hoá, giá thành đợc xem xét dới
nhiều góc độ, nhiều phạm vi tính toán khác nhau.

nghiệp.
* Phân loại giá thành theo phạm vi các chi phí cấu thành
Để phục vụ cho quyết định cụ thể, chỉ tiêu giá thành tính toán theo các
phạm vi chi phí khác nhau, theo tiêu thức này có các loại giá thành sau:
- Giá thành sản xuất (giá thành công xởng): Là chỉ tiêu phản ánh
toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản
phẩm trong phạm vi phân xởng sản xuất. Các chi phí này gồm có chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung
tính cho những sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành. Nó là căn cứ để
tính giá vốn hàng bán và lãi gộp.
- Giá thành toàn bộ (hay giá thành tiêu thụ): Là chỉ tiêu phản ánh toàn
bộ các khoản chi phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Giá thành tiêu thụ đợc xác định theo công thức sau:
Giá thành toàn bộ chỉ đợc xác định khi sản phẩm, công việc, lao vụ
đợc tiêu thụ, đây là căn cứ để tính toán xác định lãi trớc thuế của doanh
nghiệp.
Cách phân loại này có tác dụng giúp cho nhà quản lý biết đợc kết quả
kinh doanh (lãi, lỗ) của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp
kinh doanh. Tuy nhiên, do những hạn chế nhất định khi lựa chọn tiêu thức
phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý cho từng loại mặt hàng, từng loại
dịch vụ nên cách phân loại này chỉ còn mang ý nghĩa học thuật, nghiên cứu.
1.1.3.3/ Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với giá thành sản phẩm
Khi xem xét về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp
sản xuất thực chất là ta xem xét hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất. Do
đó giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng giống nhau về chất vì
Giá thành toàn
bộ sản phẩm

thể bao gồm chi phí phát sinh ở kỳ kế toán trớc (trờng hợp có sản phẩm dở
dang đầu kỳ), chi phí phát sinh trong kỳ và loại trừ đi chi phí tính cho sản
phẩm dở dang cuối kỳ (trờng hợp có sản phẩm dở dang cuối kỳ hạch toán).
Qua sự phân tích trên ta thấy rằng chi phí sản xuất đợc xác định là chi phí
phát sinh kỳ này có liên quan cả tới các sản phẩm hoàn thành ở kỳ sau (nếu có
sản phẩm dở dang) còn giá thành sản phẩm không những liên quan đến các
chi phí đã phát sinh trong kỳ mà còn liên quan đến các chi phí đã phát sinh ở
kỳ kế toán trớc (trờng hợp có sản phẩm dở dang đầu kỳ hạch toán). Mối
quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm đợc thể hiện khái quát

thông qua công thức tính giá thành sản phẩm giản đơn sau:
Z = Dđk + C - Dck
Trong đó:
Z : Tổng giá thành sản phẩm
Dđk, Dck : Trị giá sản phẩm làm dở đầu kỳ, cuối kỳ
C : Tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ
1.1.3.4/ Nhiệm vụ kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Xuất phát từ yêu cầu quản lý và tầm quan trọng của quản lý, hạch toán
chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm cần thực hiện tốt các nhiệm vụ
sau:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
18
- Xác định đối tợng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tợng tính
giá thành phù hợp với đặc thù của doanh nghiệp và yêu cầu quản lý.
- Tổ chức vận dụng các tài khoản kế toán để hạch toán chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm phải phù hợp phơng pháp kế toán hàng tồn kho mà
doanh nghiệp đã chọn.
- Tổ chức tập hợp, kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất theo đúng

chi phí, yêu cầu hạch toán kinh doanh nội bộ, theo đặc điểm quy trình công
nghệ từng doanh nghịêp và yêu cầu tính giá thành theo đơn vị quy định. Có
thể nói việc phân chia quá trình hạch toán thành hai giai đoạn là do sự khác
nhau cơ bản về giới hạn tập hợp chi phí sản xuất và sản phẩm hoàn thành cần
phải tính giá thành một đơn vị tức là đối tợng tính giá thành.
Để phân biệt đợc đối tợng hạch toán chi phí sản xuất và đối tợng tính
giá thành ngay cả trong khi chúng đồng nhất là một cần phải dựa vào các cơ
sở sau:
- Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Theo tiêu thức này đợc phân thành:
+ Đối tợng sản xuất giản đơn: Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có
thể là từng giai đoạn công nghệ hoặc toàn bộ quy trình công nghệ (nếu sản
xuất một loại sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sản phẩm (nếu nhiều loại sản
phẩm cùng tiến hành trong cùng 1 quá trình lao động). Đối tợng tính giá
thành ở đây là sản phẩm cuối cùng.
+ Đối tợng sản xuất phức tạp: Đối tợng hạch toán chi phí sản xuất có
thể là bộ phận, chi tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, các phân xởng sản
xuất hoặc nhóm chi tiết sản xuất bộ phận sản phẩm, còn đối tợng tính giá
thành là thành phẩm ở từng bớc chế tạo.
- Căn cứ vào loại hình sản xuất ta chia thành:
+ Với loại hình sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt với khối lợng
nhỏ: Đối tợng hạch toán chi phí là các đơn đặt hàng riêng biệt, còn đối tợng
tính giá thành là sản phẩm của từng đơn đặt hàng.
+ Với sản xuất hàng loạt, khối lợng lớn: Đối tợng hạch toán chi phí
sản xuất phụ thuộc vào quy trình công nghệ sản xuất (giản đơn hay phức tạp).
Đối tợng tính giá thành sản phẩm có thể là sản phẩm cuối cùng hoặc bán
thành phẩm nh trên.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh

- Bớc 4: Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
21
Tuỳ theo phơng pháp hạch toán hàng tồn kho áp dụng trong doanh
nghiệp mà nội dung cách thức hạch toán chi phí sản xuất có những điểm khác
nhau.
1.2.3/ Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong trờng hợp doanh nghiệp kế
toán hàng tồn kho theo phơng pháp kê khai thờng xuyên
1.2.3.1/ Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị nguyên vật liệu chính,
vật liệu phụ, nhiên liệudùng trực tiếp cho việc sản xuất chế tạo sản phẩm.
Trờng hợp doanh nghiệp mua nửa thành phẩm để chế tạo, lắp ráp, gia công
thêm thì nửa thành phẩm mua ngoài cũng đợc hạch toán vào chi phí nguyên
vật liệu trực tiếp.
Với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tợng
khác nhau thì phải áp dụng phơng pháp phân bổ chi phí cho các đối tợng và
phải xác định đợc tiêu thức phân bổ hợp lý, tiêu thức này phải đảm bảo mối
quan hệ tỉ lệ thuận giữa tổng số chi phí cần phân bổ với tiêu thức phân bổ của
các đối tợng.
Đối với chi phí nguyên vật liệu tiêu thức phân bổ thờng sử dụng là:
- Với chí nguyên vật liệu chính nửa thành phẩm mua ngoài có thể chọn
tiêu thức phân bổ là chi phí định mức, chi phí kế hoạch, khối lợng sản phẩm
sản xuất.
- Với chi phí nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, vật liệu có thể lựa chọn tiêu
thức phân bổ là chi phí định mức,chi phí kế hoạch, chi phí thực tế của nguyên
vật liệu chính, khối lợng sản phẩm sản xuất.
Trình tự phân bổ nh sau:
+ Xác định hệ số phân bổ


Chi phí nguyên vật
liệu phân bổ cho
từng đối tợng
=

Tiêu thức phân
bổ cho từng đối
tợng
x

Hệ số
phân
bổ
TK 152, 153, 142

TK 621


1.2.3.2/ Kế toán chi phí nhân công trực tiếp
Chi phí nhân công trực tiếp là những khoản tiền phải trả cho công nhân
trực tiếp sản xuất sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các loại lao vụ, dịch vụ
gồm: Tiền lơng chính, lơng phụ, các khoản phụ cấp, tiền trích bảo hiểm xã
hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo số tiền lơng của công nhân sản xuất.
Với chi phí này nếu tiền công đã trả theo sản phẩm hoặc tiền công tiền
công thời gian có quan hệ với từng đối tợng cụ thể thì hạch toán trực tiếp cho
từng đối tợng chịu chi phí đó. Còn nếu tiền lơng công nhân sản xuất trực
tiếp có liên quan đến nhiều đối tợng thì ta tiến hành phân bổ.
Trong trờng hợp phân bổ gián tiếp thì tiêu thức phân bổ chi phí nhân
công trực tiếp có thể là: Chi phí tiền công định mức, công giờ định mức, công
thực tế, khối lợng sản phẩm sản xuất
Kế toán sử dụng tài khoản 622- Chi phí nhân công trực tiếp để tập hợp và
phân bổ chi phí nhân công trực tiếp.
Kết cấu:
Bên nợ: Chi phí nhân công trực tiếp trong kỳ
Bên có: Số kết chuyển (hoặc phân bổ) chi phí nhân công trực tiếp cho các
đối tợng chịu chi phí vào cuối kỳ.
Tài khoản 622 không có số d cuối kỳ và đợc mở chi tiết theo từng đối
tợng tập hợp chi phí.
Sơ đồ 1.2
kế toán chi phí nhân công trực tiếp
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Hoàng Hạnh
24
1.2.3.3/ Kế toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là các chi phí liên quan đến phục vụ quản lý sản
xuất trong phạm vi phân xởng, bộ phận, tổ, đội sản xuất.
Để kế toán tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung, kế toán sử dụng
tài khoản 627- Chi phí sản xuất chung.
Kết cấu:
Bên nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung phát sinh trong kỳ
Bên có: - Các khoản giảm chi phí sản xuất chung (nếu có)
- Số kết chuyển hoặc phân bổ chi phí sản xuất chung cho các đối tợng chịu chi phí
Tài khoản 627 đợc mở thành 6 tài khoản cấp hai:
+ TK 627(1) - Chi phí nhân viên phân xởng
+ TK 627(2) - Chi phí vật liệu
+ TK 627(3) - Chi phí dụng cụ sản xuất
+ TK 627(4) - Khấu hao tài sản cố định
+ TK 627(5) - Chi phí dịch vụ mua ngoài
+ TK 627(8) - Chi phí khác bằng tiền
Tài khoản 627 không có số d cuối kỳ và đợc mở chi tiết cho từng đối
tợng, từng loại sản phẩm, từng phân xởng, từng loại hoạt động, từng bộ phận.
Sơ đồ 1.3
Kế toán chi phí sản xuất chung


TK214

Chi phí khấu hao

TSCĐ
TK111,112,331

Chi phí khác liên
quan
Kết chuyển
( hoặc phân bổ)

chi phí SXC
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
http://www.foxitsoftware.com For evaluation only.

Trích đoạn Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cơ khí-Điện Thuỷ Lợ Phiếu sản xuất Về hệ thống tài khoản sử dụng Về đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giáthành sản phẩm Về áp dụng máy vi tính vào công tác kế toán tại công ty Cơ khí-Điện Thủy Lợ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status