Tư tưởng hồ chí minh về vấn đề dân
tộc thuộc địa và ý nghĩa của tư
tưởng đó.
1
Mục lục
Trang
Đặt vấn đề
Nội dung
Chương 1: Vấn đề dân tộc thuộc địa
1. Quan điểm của Mác-Ăngghen và Lênin về vấn đề dân tộc
2. Thực chất của vấn đề dân tộc thuộc địa
2.1. Đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân giải phóng phong kiến
2.2. Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc
3. Độc lập dân tộc nội dung cốt lõi của vấn đề dân tộc
3.1. Cách tiếp cận từ quyền con người
3.2. Nội dung của độc lập dân tộc
4. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của dân tộc
Chương 2: Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau
2. Giải phóng dân tộc là vấn đề trên hết, trước hết; độc lập dân tộc gắn liền với
chủ nghĩa xã hội
3. Giải phóng dân tộc tạo tiền đề để giải phóng giai cấp
4. Giữ vững độc lập của dân tộc mình đồng thời tôn trọng độc lập của các dân
tộc khác
Chương 3: Ý nghĩa của tư tuởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc
1. Ý nghĩa của tư tưởng đối với cách mạng dân tộc Việt Nam
1.1. Ý nghĩa của đối với cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trong nước
1.2. Con đường của Hồ Chí Minh so với các vị tiền bối
2. Ý nghĩa đối với phong trào cách mạng thế giới
3. Vận dụng tư tưởng trong công cuộc đổi mới hiện nay
27
27
28
29
29
2
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Dân tộc là một sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của lịch sử.
C.Mác, Ăngghen và Lênin đã có những quan điểm cơ bản có tính phương pháp
luận về vấn đề dân tộc. Trước dân tộc có những hình thức cộng đồng như thị tộc,
bộ tộc, bộ lạc, nhưng khi chủ nghĩa tư bản ra đời thì dân tộc mới xuất hiện theo
đúng ý nghĩa của nó.
Khi chủ nghĩa tư bản chuyển từ giai đoạn cạnh tranh tự do sang giai đoạn chủ
nghĩa đế quốc thì xuất hiện vấn đề dân tộc thuộc địa. Ở giai đoạn này vấn đề dân
tộc thuộc địa phát triển gay gắt đòi hỏi được giải quyết. Lê-nin cho rằng chỉ có chủ
nghĩa xã hội và cách mạng vô sản trên cơ sở không còn áp bức giai cấp và áp bức
dân tộc mới tạo điều kiện giải phóng cho các dân tộc thuộc địa, giúp cho các dân
tộc thuộc địa quyền dân tộc, quyền tự quyết và các quyền thiêng liêng khác.
C.Mác, Ph.Ăngghen, Lênin đã nêu lên những quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc
tạo cơ sở lý luận cho việc xác định chiến lược sách lược của các Đảng cộng sản về
vấn đề dân tộc và thuộc địa, nhưng từ thực tiển cách mạng vô sản ở châu Âu, các
ông vẩn tập trung nhiều vào vấn đề giai cấp. Điều kiện những năm đầu thế kỉ XX
trở đi đặt ra yêu cầu cần vânh dụng sáng tạo lý luận Mác-Lênin cho phù hợp với
thực tiễn ở các nước thuộc địa; chính Hồ Chí Minh đã đáp ứng yêu đó.
Trên cơ sở những quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn
đề dân tộc, Hồ Chí Minh đã căn cứ vào tình hình thực tiển ở Việt Nam và các thuộc
địa khác Người đã xây dựng nên một hệ thống về vấn đề dân tộc- là vấn đề dân tộc
thuộc địa, giải phóng dân tộc thuộc địa. Hệ thống luận điểm này của Hồ Chí Minh
có ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiển lớn.
II. NỘI DUNG.
đề đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, xóa bỏ ách thống trị, áp bức, bóc lột người
nước ngoài, giải phóng dân tộc, giành độc lập dân tộc, thực hiện quyền dân tộc tự
quyết, thành lập nhà nước dân tộc độc lập.
Hồ Chí Minh viết nhiều tác phẩm như : Tâm địa thực dân, Bình đẳng, Vực thẳm
thuộc địa, Công cuộc khai hóa giết người , tố cáo chủ nghĩa thực dân, vạch trần
cái gọi là “khai hóa văn minh”của chúng. Người viết: Để che đậy sự xấu xa của
chế độ bóc lột chết người, chủ nghĩa tư bản thưc dân luôn điểm trang cho cái huy
chương mục nát của nó bằng những châm ngôn lí tưởng: Bác ái, Bình đẳng,
Trong những bài có tiêu đề Đông Dương và nhiều bài khác, Người lên án mạnh
mẽ chế độ cai trị hà khắc, sự bóc lột tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương trên
4
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục Người chỉ rõ sự đối kháng giữa
các dân tộc bị áp bức với chủ nghĩa đế quốc thực dân là mâu thuẫn chủ yếu ở thuộc
địa, đó là mâu thuẫn không thể điều hòa được.
Nếu như C.Mác bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản, V.I.Lênin
bàn nhiều về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, thì Hồ Chí Minh tập trung
bàn về cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. C.Mác và Lênin bàn nhiều về đấu
tranh giai cấp ở các nước tư bản chủ nghĩa, thì Hồ Chí Minh bàn nhiều về đấu
tranh giải phóng dân tộc ở thuộc địa.
2.2. Lựa chọn con đường phát triển của dân tộc.
Để giải phóng dân tộc, cần xác định một con đường phát triển của dân tộc, vì
phương hướng phát triển dân tộc quy định những yêu cầu và nội dung trước mắt
của cuộc đấu tranh giành độc lập. Mỗi phương hương phát triển gắn liền với một
hệ tư tưởng và một giai cấp nhất định.
Từ thực tiễn phong trào cứu nước của ông cha và lịch sử nhân loại, Hồ Chí
Minh khẳng định phương hướng phá triển của dân tộc trong thời đại mới là chủ
nghĩa xã hội.
Hoạch định con đường phát triển của dân tộc thuộc địa là một vấn đề hết sức
mới mẻ. Từ một nước thuộc địa đi lên chủ nghĩa xã hội phải trải quan nhiều giai
đoạn chiến lược khác nhau.Trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản
định: ““Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được
tự do và bình đẳng về quyền lợi”.Như vậy, từ quyền con người mà thành tựu các
cuộc cách mạng Pháp Mỹ mang lại, Hồ Chí Minh đã khái quát và nâng cao thành
quyền dân tộc, Người khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra
bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Từ lý luận về quyền con người mà hai cuộc cách mạng Pháp và Mỹ xác lập, trở
thành giá trị phổ biến, khi lý luận xâm nhập vào thực tiễn, cụ thể là thực tiễn cảu
cách mạng Việt Nam đã hinh thành một khái niệm mơi đó là quyền dân tộc.
Hồ Chí Minh nâng cao quyền con người lên thành quyền dân tộc là hợp với lẽ
tự nhiên, vì quyền con người nằm trong quyền dân tộc, vi phạm quyền dân tộc điều
đó cũng có nghĩa là vi phạm quyền con người. Điều này nó trái với chân lý đã
được khẳng định trong Tuyên ngôn của cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp.
Với cách tiếp cận này Hồ Chí Minh đã đặt quyền con người vào trong quyền
dân tộc, một bộ phận trong quyền dân tộc, muốn giải phóng con người thì phải giải
6
phóng dân tộc, vì không thể có tự do cho mỗi con người, nếu dân tộc đó còn nô lệ,
mất độc lập tự do; không thể có tự do hạnh phúc cho mỗi con người nếu dân tộc
còn nghèo nàn lạc hậu.
3.2. Nội dung của độc lập dân tộc.
Vấn đề dân tộc mà Hồ Chí Minh đề cập là vấn đề dân tộc thuộc địa, được đặt ra
ở thế kỉ XX, khi cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân bước vào thời kỳ mới
dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và Cách mạng tháng Mười Nga năm
1917.
Là người dân mất nước, nhiều lần được chứng kiến tội ác dã man của chủ nghĩa
thực dân đối với đồng bào mình và nhân dân các dân tộc bị áp bức trên thế giới, Hồ
Chí Minh thấy rõ một dân tộc không có quyền bình đẳng chủ yếu là do dân tộc đó
mất độc lập. Vì vậy, theo Người, các dân tộc thuộc địa muốn có quyền bình đẳng
thực sự phải tự đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại độc lập thật sự, độc
lập hoàn toàn cho dân tộc mình.
Độc lập dân tộc là làm cho dân tộc ấy thoát khỏi ách áp bức bóc lột của giặc
đồng minh thắng trận trong chiến tranh thế giới thứ nhất thừa nhận, thay mặt
những người Việt Nam yêu nước, Người gửi tới hội nghị Véc-xây bản yêu sách
gồm tám điểm, đòi các quyền tự do dân chủ cho nhân dân Việt Nam.
Trong cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh xác định
mục tiêu “Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến”, “làm cho nước
Việt Nam hoàn toàn độc lập”. Đây là cương lĩnh đầu tiên của Đảng, một cương
lĩnh giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, có tư tưởng cốt lõi là độc lập, tự do
cho dân tộc.
Tháng 5-1941, Hồ Chí Minh chủ trì hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung
ương Đảng nêu cao vấn đề giải phóng dân tộc. Tháng 6/1941 Người viết thư kính
cáo đồng bào, chỉ rõ : “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết
thảy”. Người chỉ đạo thành lập Việt Nam độc lập đồng minh, ra báo Việt Nam độc
lập, ban bố mười chính sách của Việt Minh, trong đó mục tiêu đầu tiên là “Cờ treo
độc lập, nền xây bình quyền”. Tháng 8-1945, khi thời cơ cách mạng chín muồi,
Người khẳng định quyết tâm: “Dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường
Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập dân tộc”.
8
Cách mạng tháng Tám thành công Người thay mặt Chính phủ lâm thời đọc
tuyên ngôn độc lập, long trọng khẳng định trước toàn thế giới: “ Nước Việt Nam có
quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn
thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải
để giữ vững quyền tự do độc lập ấy”.
- Độc lập dân tộc phải thống nhất với sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.
Trong các thư và điện văn gửi tới Liên hợp quốc và Chính phủ các nước trong
thời gian sau Cách mạng Tháng Tám, Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố: “ Nhân
dân chúng tôi thành thật mong muốn hòa bình. Nhưng nhân dân chúng tôi cũng
kiên quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: toàn vẹn
lãnh thổ cho Tổ quốc, độc lập cho đất nước”.
Cuộc kháng chiến toàn quốc chốn thực dân Pháp bùng nổ, thể hiện quyết tâm
bảo vệ độc lập và chủ quyền dân tộc, Người ra lời kêu gọi vang dội núi sông:
với người châu âu. Cụ thể là phải xóa bỏ các tòa án đặc biệt dùng làm công cụ
khủng bố, đàn áp bô phận trung thực nhất trong nhân dân tức là những người yêu
nước; phải xóa bỏ chế độ cai trị bằng sắc lệnh và thay thế băng chế độ ra các đạo
luật.
10
+ Đòi quyền tự do dân chủ tối thiểu cho nhân dân, đó là các quyền tự do ngôn luận,
quyền tự do báo chí, tự do lập hội tự do cư trú,
Bản yêu sách đấy không được bọn đế quốc chấp nhận. Người đã kết luận và cũng
là bài học: “Muốn giải phóng dân tộc, không thể bị động trông chờ từ sự giúp đỡ
bên ngoài mà trước hết phải dựa vào sức mạnh của chính dân tộc mình”.
- Nền độc lập thực sự hoàn toàn, theo Hồ Chí Minh còn phải được thể hiện ở ấm no,
tự do, hạnh phúc của nhân dân.
Suốt đời Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được
hoàn độc lập, dân tộc ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai có cơm ăn áo mặc, ai
cũng được học hành”.
Người nói: “Chúng ta đã hy sinh, đã giành được độc lập, dân chỉ thấy giá trị của
độc lập khi ăn đủ no, mặc đủ ấm”. Tư tưởng này thể hiện tính nhân văn cao cả và
triệt để cách mạng của Hồ Chí Minh.
Độc lập, tự do là mục tiêu chiến đấu là nguồn sức mạnh làm nên chiến thắng
của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, đồng thời cũng là nguồn động viên lớn đối
với các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới, là một tư tưởng lớn trong độc lập giải
phóng dân tộc. “ Không có gì quý hơn độc lập tự do” là khẩu hiệu hành động của
dân tộc Việt Nam, đồng thời cũng là nguồn cổ vũ các dân tộc bị áp bức trên thế
giới đang đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân. Có thể nói, tinh thần “không có gì
quí hơn độc lập tự do” là tư tưởng và lẽ sống của Hồ Chí Minh. Nó là nguồn sức
mạnh làm nên chiến thắng không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của các dân tộc
bị áp bức trên thế giới. Vì vậy Người không chỉ được tôn vinh là “Anh hùng giải
phóng dân tộc” của Việt Nam mà còn được thừa nhân là “Người khởi xướng cuộc
đấu tranh của các dân tộc thuộc địa trong thế kỷ XX”.
4. Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước.
dân tộc chân chính. Muốn cách mạng thành công thì người cộng sản phải biết nắm
lấy và phát huy.Và Người cho đó là “ một chính sách mang tính hiện thực tuyệt
vời.”
CHƯƠNG 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ VẤN ĐỀ
GIAI CẤP
12
1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau.
Khẳng định vai trò lịch sử của giai cấp công nhân và quyền lãnh đạo duy nhất
của Đảng Cộng sản trong quá trình cách mạng Việt Nam. Giai cấp công nhân lãnh
đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản Việt Nam, nói
tới giai cấp công nhân là giai cấp như một chỉnh thể chứ không phải từng nhóm,
từng người. Để có thể lãnh đạo, giai cấp công nhân phải có lực lượng, có tổ chức
tiêu biểu cho sự tự giác và bản chất giai cấp của mình. Lực lượng đó là Đảng Cộng
sản. Xét về thành phần xuất thân thì nước ta có nhiều đảng viên không phải là công
nhân. Nhưng, bất cứ đảng viên nào cũng phải đứng trên lập trường giai cấp công
nhân thể hiện ở lý tưởng, ở chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối cách mạng, ở tinh
thần kiên quyết cách mạng trong cuộc đấu tranh để thực hiện sứ mệnh của giai cấp
công nhân vì lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân
tộc. Điều này được Đảng ta khẳng định rất rõ: “Đảng Cộng sản Viêt Nam là đội
tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành
lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”. Đảng của giai
cấp công nhân nước ta đã lãnh đạo toàn dân hoàn thành thắng lợi trọn vẹn cuộc
cách mạng giải phóng dân tộc và đang tiến hành công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã
hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ lịch sử khó khăn, phức
tạp nhất. Đồng thời họ là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện
đại hoá, là cơ sở xã hội chủ yếu nhất của Đảng và Nhà nước ta, là hạt nhân vững
chắc trong liên minh công nhân – nông dân – trí thức, nền tảng của khối đại đoàn
kết dân tộc.
Chủ trương đại đoàn kết dân tộc rộng rãi trên nền tảng liên minh công nhân,
trang.
Thiết lập chính quyền nhà nước của nhân dân, do dân và vì dân. Hồ Chí Minh
muốn thiết lập một chính quyền kiểu mới, thành quả của Cách mạng Tháng tám,
xoá bỏ chế độ áp bức bóc lột hơn 80 năm của thực dân, đế quốc và hàng nghìn năm
phong kiến. Kể cả trong điều kiện khó khăn nhất Hồ Chủ tịch vẫn xác định mục
tiêu phấn đấu của Nhà nước là:
“1. Làm cho dân có ăn.
2. Làm cho dân có mặc.
3. Làm cho dân có chỗ ở.
4 . Làm cho dân có học hành”.
Người giải thích: “Chúng ta đã hy sinh phấn đấu để dành độc lập. Chúng ta đã
tranh được rồi… Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết
14
rét, thì tự do độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, độc lập
khi mà dân được ăn no, mặc đủ”. Là người sáng lập Đảng và Nhà nước ta, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đích thân lãnh đạo việc xây dựng bộ máy nhà nước và hệ thống pháp
luật Việt Nam. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây nhà nước pháp quyền dựa trên một
hệ thống quan điểm rõ ràng, nhất quán và phù hợp với truyền thống dân tộc Việt
Nam. Người cho rằng, xây dựng nhà nước pháp quyền là xuất phát từ yêu cầu dân
chủ triệt để; với một nhà nước hợp hiến, hợp pháp; có hệ thống pháp luật dân chủ,
nhân văn, là công cụ phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ và phát huy
quyền con người.
Gắn kết mục tiêu độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã xác
định mục tiêu chiến lược của cách mạng Việt Nam là hướng tới xây dựng chủ
nghĩa xã hội cộng sản, mà trước hết là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Cách
mạng là sự đổi mới toàn diện trên cơ sở phá bỏ tận gốc chế độ xã hội cũ lạc hậu,
phản động, cuộc cách mạng nào cũng có tính chất đó. Người đã tiếp thu và chấp
nhận tính hiện đại của học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học, bởi Người nhận thức
rằng, chỉ có chủ nghĩa này nới có thể giúp các dân tộc thuộc địa tiến hành giành
độc lập hoàn toàn và từ đó đưa nhân dân của mình tiến tới tự do, hạnh phúc thực
phóng dân tộc, để dân tộc được độc lập, nhân dân được no ấm hạnh phúc và quyền
công dân được đảm bảo. Tư tưởng ấy nhất quán từ khi Người bắt đầu cuộc đời hoạt
động cách mạng cho tới khi Người mãi mãi ra đi.
Như chúng ta đã biết Hồ Chí Minh đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ
nghĩa Mác- Lênin. Từ đó, Người đã phát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền
thống Việt Nam, trong sự thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Sự phát triển tư
tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ đạo sự phát triển của thực tiễn cách mạng Việt Nam,
trong sự thúc đẩy lẫn nhau giữa dân tộc và giai cấp ; ý thức giác ngộ về cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc là tiền đề quyết định nhất cũng là động lực chủ yếu để
Nguyễn Ái Quốc đến với chủ nghĩa Mác- Lênin và tiếp thu quan điểm Mác- xít về
giai cấp. Đó chính là nhân tố đảm bảo tính khoa học và cách mạng cho sự phát
triển tinh thần dân tộc đúng đắn ở người chiến sĩ cộng sản Nguyễn Ái Quốc- Hồ
Chí Minh.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự kết hợp, gắn bó hữu cơ giữa hai quá trình đấu
tranh cách mạng: giải phóng dân tộc và cách mạng vô sản không phải chỉ là chứng
minh cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác- Lênin mà còn là sự phát triển mang
định hướng rất cơ bản. Trong bối cảnh quốc tế hết sức phức tạp lúc bấy giờ và mặc
dù chịu rất nhiều sức ép, nhưng bao giờ Hồ Chí Minh cũng nắm vững tư tưởng độc
16
lập, tự chủ trong tư duy chính trị và hành động thực tiễn. Ngay từ năm 1920 Bác đã
xác định con đường phải đấu tranh rồi.Tại sao Bác lại phải vào Đảng cộng sản
Pháp và sau này khi sang Liên Xô, Bác tán thành nghị quyết Quốc tế cộng sản III.
Đó là vì trong các cương lĩnh ấy có nói tới cuộc cách mạng đánh đổ giai cấp thống
trị. Để tranh thủ sự ủng hộ của phong trào cộng sản thế giới và nhằm mục đích
thực hiện cho kỳ được cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Bác đã đề xướng thuyết
“ hai cuộc cách mạng”: cách mạng dân tộc và cách mạng vô sản. Bác đã nói với
các đồng chí cộng sản Pháp rằng “ Các đồng chí nói thế giới chỉ có một cuộc cách
mạng- cuộc cách mạng vô sản. Đấy là cuộc cách mạng ở các nước châu Âu, hay
nói đúng hơn là các nước công nhiệp châu Âu, còn chúng tôi là các nước thuộc địa
mênh mông như thế này, có phải các đồng chí giải phóng là đã đồng thời giải
thống trị. Do đó việc nghiên cứu, khảo sát thế giới và khu vực cũng chỉ nhằm
hướng tới giải phóng và phát triển dân tộc mình , đặt cách mạng Việt Nam trong
phong trào cách mạng thế giới sao cho phù hợ với trào lưu, xu thế chung của lịch
sử thế giới và thời đại. Bước ngoặt lớn trong sự hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh là khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác- Lênin và lựa chọn con đường
cách mạng vô sản. Sự kiện lịch sử đánh dấu bước ngoặt đó là năm 1920, tại đại hội
lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tours Người đã cùng với những
đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân Pháp tán thành quốc tế III và tham gia thành
lập Đảng cộng sản Pháp. Từ một Người yêu nước tiến bộ Bác trở thành người
chiến sĩ xã hội chủ nghĩa. Ở Hồ Chí Minh đã có sự gắn bó thống nhất giữa dân tộc
và giai cấp, dân tộc quốc tế, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Năm 1923,
Nguyễn Ái Quốc đến Liên Xô, thấy rõ sự hình thành của chủ nghĩa xã hội, nhất là
những cải cách kinh tế với chính sách kinh tế mới (NEP) do Lênin khởi xướng làm
hồi sinh nước Nga. Người có điều kiện nghiên cứu sâu hơn chủ nghĩa Lênin cũng
như ảnh hưởng rộng lớn của cách mạng tháng mười, mở ra thời đại mới - quá độ
lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Những tư tưởng đó đã được
Người nghiền ngẫm sâu sắc, đã củng cố và khẳng định niềm tin của Người về cách
mạng giải phóng dân tộc. Theo Người lực lượng lãnh đạo cách mạng đó chỉ có thể
là giai cấp công nhân thông qua đội tiên phong của nó là Đảng Cộng sản.
Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội diễn ra trong suốt quá trình cách
mạng, ở mỗi giai đoạn cách mạng; thống nhất ở mục tiêu trước mắt cũng như lâu
dài. Bởi vì đối với một dân tộc đã phải trải qua một ngàn năm đô hộ của phong
kiến phương Bắc và gần một trăm năm dưới gót sắt của chủ nghĩa thực dân thì khát
vọng cao nhất và trực tiếp nhất là giành độc lập dân tộc. Nhưng để có được độc lập
thực sự phải đi lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để
thực hiện chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng là điều kiện đảm
bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, là nhân tố đảm bảo vững
chắc của nền độc lập dân tộc. Chính, vì vậy trong “ Chính cương vắn tắt” Người
18
chủ trương tiến hành tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã
dài. Bởi vì đối với một dân tộc đã phải trải qua một ngàn năm đô hộ của phong
kiến phương Bắc và gần một trăm năm dưới gót sắt của chủ nghĩa thực dân thì khát
19
vọng cao nhất và trực tiếp nhất là giành độc lập dân tộc. Nhưng để có được độc lập
thực sự phải đi lên chủ nghĩa xã hội. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để
thực hiện chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng là điều kiện đảm
bảo cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, là nhân tố đảm bảo vững
chắc của nền độc lập dân tộc. Tư tưởng của Hồ Chí Minh sâu sắc ở chỗ, độc lập
dân tộc không chỉ là khẩu hiệu mà phải độc lập thực sự, phải gắn liền với thống
nhất Tổ quốc. Độc lập bao giờ cũng gắn liền với tự do dân chủ và ấm no hạnh phúc
của nhân dân, nhất là đối với một nước thuộc địa nửa phong kiến có trên 90% là
nông dân. Dân chủ trước hết lúc này phải giành lại ruộng đất cho dân cày và xác
định quyền làm chủ của nông dân trên đồng ruộng của chính họ. Độc lập dân tộc
và dân chủ là hai mục tiêu cơ bản, hai nội dung lớn mà cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân phải thực hiện. Như vậy rõ ràng tư tưởng Hồ chí Minh về con đường
cách mạng Việt Nam là tư tưởng cách mạng không ngừng, là sự thống nhất giữa
độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy chủ nghĩa xã hội là con đường
phát triển tất yếu của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh
đạo, sau khi đã căn bản thực hiện thắng lợi các mục tiêu đã đề ra. Đó là sự lựa chọn
của Hồ Chí Minh, của nhân dân việt Nam và của chính thực tiễn lịch sử cách mạng
Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội
là quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, là xu thế phát triển của xã hội Việt
Nam phù hợp với xu thế chung của lịch sử, của thời đại ngày nay.
Xuất phát từ đặc điểm xã hội Việt Nam, một nươc nông nghiệp lạc hậu, thuộc
địa, nửa phong kiến bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, quá độ lên chủ nghĩa xã hội
nên trong quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Người không phải là đưa ra những ý
tưởng cao xa mà là đề cập đến những lợi ích rất cụ thể, gần gũi với những nhu cầu
đời thường của nhân dân lao động. Những quan niệm về chủ nghĩa xã hội được
diễn đạt rất dễ hiểu, dễ đi vào lòng người và cổ vũ họ đấu tranh giành độc lập dân
tộc, dân chủ cho nhân dân và hướng tới chủ nghĩa xã hội. Để quần chúng đễ hiểu
vấn đề giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Trong khi khẳng định
nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ là đánh cả đế quốc phong kiến
nhưng xuất phát từ một nước thuộc địa, Hồ Chí Minh đã không coi hai nhiệm vụ
đó ngang nhau, mà đặt lên hàng đầu nhiệm vụ chống đế quốc để giải phóng dân
tộc; đảm bảo mục tiêu trước hết, trọng tâm là độc lập dân tộc, còn nhiệm vụ chống
phong kiến đem lại ruộng đất cho dân cày thì được tiến hành từng bước để phục vụ
cho nhiệm vụ phản đế Bởi vì, theo Hồ Chí Minh có độc lập dân tộc thì mới giành
chính quyền bình đẳng dân tộc, quyền tự quyết. Vả lại, kẻ áp bức bóc lột nặng nề
nhất đối với công nhân, nông dân và cũng là đối với cả dân tộc Việt Nam là bọn đế
quốc và bè lũ tay sai của chúng. Do đó, Người đặt vấn đề là phải tập trung ngọn
21
lửa vào chúng. Xét về quan hệ lợi ích, trong cuộc cách mạng này, Hồ Chí Minh
cho rằng phải đặt lợi ích giai cấp, lấy mục tiêu giải phóng độc lập lên hàng đầu.
Nói như vậy không có nghĩa là Hồ Chí Minh quên mất lợi ích của giai cấp, mà
thực chất chính tư tưởng đó thể hiện sâu sắc quan điểm giai cấp của chủ nghĩa
Mác-Lênin.
Như vậy nó thoả mãn yêu cầu hàng đầu của các giai cấp là đánh đuổi đế quốc
tay sai, giành độc lập cho Tổ quốc. Tháng 5-1941, Người cùng với Trung ương
Đảng khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải dặt dưới
sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết
vấn đề dân tộc được giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc
thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền
lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”. Trong cách mạng
giải phóng dân tộc đặt lợi ích dân tộc lên lợi ích giai cấp không vì thế mà làm suy
giảm động lực của cách mạng. Nói về điều đó , Hồ Chí Minh viết: “ đừng tưởng
rằng chưa giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân sẽ giảm bớt sức chiến đấu.
Không, nông dân càng không giảm bớt sự hăng hái đấu tranh mà vẩn nổ lực đấu
tranh mạnh hơn vì trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, họ cũng được hưởng
nhiều quyền lợi to tát”. Theo Người không nên chỉ hô hào thợ thuyền, dân cày
chung chung, không nên nói vô sản một cách cứng nhắc. Ở đây Hồ Chí Minh đã
lập của dân tộc. Hồ Chí Minh nói: “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân gắn liền với yêu
chủ nghĩa xã hội, vì có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì nhân dân mình mỗi ngày một
no ấm thêm. Tổ quốc mình mỗi ngày một giàu mạnh thêm”.
Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm: độc lập cho dân tộc mình, đồng thời độc lập
cho tất cả các dân tộc. Theo Hồ Chí Minh, độc lập tự do là quyền thiêng liêng, bất
khả xâm phạm của tất cả các dân tộc. Hồ Chí Minh là một chiến sỹ quốc tế chuyên
chính, Người không chỉ đấu tranh cho độc lập của dân tộc mình mà còn đấu tranh
cho độc lập của tất cả các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Năm 1914, khi chiến tranh thế giới thứ nhất vừa nổ ra, Hồ Chí Minh đã đem
toàn bộ số tiền dành dụm được từ đồng lương ít ỏi của mình ủng hộ quỹ kháng
chiến người Anh. Theo Người chúng ta phải đấu tranh cho độc lập, tự do của các
dân tộc khác như là đấu tranh cho dân tộc ta vây.
Nêu cao tinh thần tự quyết, nhưng Hồ Chí Minh không quên nghĩa vụ quốc tế
trong việc ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng các dân tộc trên thế giới. Người
ủng hộ cuộc kháng chiến chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, cuộc kháng chiến
23
chống Pháp của nhân dân Lào và Cam-Pu-chia, đề ra khẩu hiệu: “giúp bạn là tự
giúp mình”, và chủ trương phải bằng thắng lợi của cách mạng mỗi nước mà góp
phần vào thắng lợi chung của cuộc cách mạng thế giới.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc mang tính khoa học và cách mạng sâu
sắc, thể hiện sự kêt hợp nhuần nhuyễn giữa dân tộc và giai cấp, chủ nghĩa yêu nước
chân chính với chủ nghĩa yêu nước trong sáng. Ph.Ăngghen nói: Những tư tưởng
dân tộc chân chính trong phong trào công nhân bao giờ cũng là những tư tưởng
quốc tế chân chính. Do điều kiện lich sử Mác-ăngghen chỉ nhấn mạnh vấn đề giai
cấp quan tâm tới giải quyết lợi ích giai cấp trên toàn thế giới. Lê nin cũng ưu tiên
vấn đề giai cấp lợi ích vô sản trong một nước phải phục tùng lợi ích vô sản trên
toàn thế giới. Quốc tế cộng sản đề cao vấn đề giai cấp coi nhẹ vấn đề dân tộc
không quan tâm tới chủ nghĩa yêu nước của các dân tộc thuộc địa, thậm chí coi đó
là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi.
Hồ Chí Minh xuất phát từ điều kiện cụ thể của Việt Nam, Người cho rằng phải
Mục tiêu và con đường đi lên của cách mạng Việt Nam là chủ nghĩa xã hội,
muốn xoá bỏ chế độ người bóc lột người, muốn có tự do, hạnh phúc, bình đẳng
thật sự thì phải qua hai cuộc cách mạng: cách mạng giải phóng dân tộc và cách
mạng xã hội chủ nghĩa. Hai cuộc cách mạng này có quan hệ mật thiết với nhau.
Về lực lượng cách mạng, công nông là gốc của cách mệnh, học trò, nhà buôn
nhỏ, điền chủ nhỏ là bầu bạn của công nông. Ai mà bị áp bức càng nặng, thì lòng
cách mệnh càng bền, chí cách mệnh càng quyết. Cách mệnh là việc chung của cả
dân chúng chứ không phải là việc của một hai người.
Về phương pháp cách mạng. Cùng với việc hoạch định đường lối cách mạng,
Nguyễn Ái Quốc phác thảo cả phương pháp cách mạng. Người cho rằng giải
phóng gông cùm nô lệ cho đồng bào, cho nhân loại là công việc “to tát”, cho nên
phải “dùng hết sức”, phải “quyết tâm làm thì chắc được”, “thà chết tự do hơn sống
làm nô lệ”. Nhưng phải “biết cách làm thì mới chóng”. “Cách mệnh trước hết phải
làm cho dân giác ngộ”. Tiếp theo tư tưởng khởi nghĩa vũ trang quần chúng giành
chính quyền đề ra từ năm 1924, trong tác phẩm này, Nguyễn Ái Quốc phát triển
thêm: “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại nổi”.
Đời này làm chưa xong, đời sau nối theo làm thì phải xong”. Về phương pháp cách
mạng, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc là quan điểm cách mạng bạo lực. Người chỉ
ra những thiếu sót của những người đi trước như “xúi dân bạo động mà không bày
25