Vai trò và ý nghĩa của những phát
minh lớn về kỹ thuật của nền văn
minh Trung Quốc
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lí do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương Pháp nghiên cứu 3
6. Đóng góp của đề tài 3
7. Cấu trúc của đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC 4
1.1. Giới thuyết thuật ngữ 4
1.1.1. Khái niệm về văn hóa và văn minh 4
1.1.2. Khái niệm về vai trò và ý nghĩa 5
1.2. Vài nét về lịch sử và những thành tựu của nền văn minh
Trung Quốc 5
1.2.1. Về lịch sử 5
1.2.2 Những thành tựu của nền văn minh Trung Quốc 9
Chương 2: VAI TRÒ VÀ Ý NGHĨA CỦA NHỮNG PHÁT MINH LỚN
VỀ KỸ THUẬT CỦA NẾN VĂN MINH TRUNG QUỐC 18
2.1. Những yếu tố ảnh hưởng đến những thành tựu về khoa học kỹ thuật
của văn minh Trung Quốc 18
2.1.1. Yếu tồ về điều kiện tự nhiên 18
2.1.2. Yếu tố về kinh tế, xã hội 19
2.2 Những phát minh lớn về kỹ thuật của nền văn minh Trung Quốc 22
2.2.1 Giấy 22
2.2.2 In 24
2.2.3 La bàn 25
nói riêng và nhân loại nói chung. Bốn phát minh lớn này không chỉ có vai trò và
ý nghĩa lớn đối với thời đại xưa, mà nó còn được nhân loại không ngừng cải tiến
phục vụ cho nhu cầu của con người thời đại ngày nay.
Nhận thức được điều đó nên chúng tôi chọn đề tài “Vai trò và ý nghĩa của
những phát minh lớn về kỹ thuật của nền văn minh Trung Quốc”. Để một lần
khẳng định những đóng góp, vai trò to lớn của nền văn minh Trung Quốc đối với
nền văn hóa, văn minh nhân loại. Qua việc tìm hiểu những phát minh đó cũng
cho phép chúng tôi hiểu hơn về con người và đất nước Trung Quốc. Qua đó, có
cái nhìn về nền văn hóa, văn minh dân tộc ta trong sự đối sánh với nền văn minh
Trung Quốc.
2. Lịch sử vấn đề
Nghiên cứu về nền văn minh Trung Quốc ở nước ta, từ xưa đã có nhiều công
trình nghiên cứu khác nhau có giá trị lớn. Trong đó, tập trung nhiều nhất là các
công trình nghiên cứu tập trung về vấn đề lịch sử, tư tưởng… hoặc đó là các công
trình nghiên cứu về văn hóa, văn minh dân tộc Việt Nam trong quá trình tiếp biến
với nền văn hóa, văn minh Trung Quốc.
Tuy nhiên, việc nghiên cứu về nền văn minh Trung Quốc, đặc biệt là những
thành tựu của nền văn minh này trong thời kỳ cổ đại thì lại còn rất hạn chế, chỉ
mới bắt đầu trong vài thập kỷ trở lại đây. Đã có một số công trình nghiên cứu có
giá trị như: Đàm Gia Kiện (1993), Lịch sử văn hóa Trung Quốc, Nxb Khoa học
xã hội, Hà Nội. Đỗ Đình Hãng (1993), Những nền văn minh rực rỡ cổ xưa, tập II:
Văn minh Trung Quốc, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. Hoàng Minh Thảo
(1997), Almanach những nền văn minh thế giới, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Vũ Dương Minh (2007), Lịch sử văn minh thế giới, Nxb Giáo dục… Những công
trình trên bước đầu đã chỉ ra được những thành tựu của nền văn minh Trung
Quốc, trong đó có dành các bài viết nhỏ nói về bốn phát minh lớn về kỹ thuật của
nền văn minh Trung Quốc. Chứ chưa có một tác giả nào dành thời gian, công sức
và tâm huyết để xây dựng một công trình chuyên sâu về bốn phát minh lớn này.
Cũng chính vì vậy, việc nghiên cứu về “Vai trò và ý nghĩa của những phát
minh lớn về kỹ thuật của nền văn minh Trung Quốc”. Đang còn là một vấn đề
và ý nghĩa của những phát minh lớn về kỹ thuật của nền văn minh Trung Quốc
và kho tàng tri thức của nhân loại.
- Việc nghiên cứu đề tài này góp phần giúp cho sinh viên có những hiểu biết
sâu sắc hơn về những phát minh lớn về kỹ thuật cuả văn minh Trung Quốc. Từ
đó hiểu thêm về nền văn minh Trung Quốc và con người nơi đây.
7. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận ra, bài tiểu luận của chúng tôi chia
thành hai chương.
Chương 1: Tổng quan về nền văn minh Trung Quốc
Chương 2: Vai trò và ý nghĩa của những phát minh lớn về kỹ thuật của nền
văn minh Trung Quốc
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1 : TỔNG QUAN VỀ NỀN VĂN MINH TRUNG QUỐC
1.1. Giới thuyết thuật ngữ.
1.1.1. Khái niệm về văn hóa và văn minh
Văn minh là trạng thái tiến bộ về cả hai mặt vật chất và tinh thần của xã hội loài
người, tức là trạng thái phát triển cao của nền văn hoá. trái với văn minh là dã
man.
Ví dụ: Văn minh Phương Đông, văn minh Hy Lạp…
Thuật ngữ “civilazation” còn có nghĩa là hoạt động khai hoá làm thoát khỏi
trạng thái nguyên thuỷ.
Như vậy , khi định nghĩa văn minh người ta buộc phải đề cập đến khái niệm
“văn hoá”. Vậy văn hoá là gì? Hiện nay đa số học giả đều cho rằng “văn hoá là
tổng thể nhữmg giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá
trình lịch sử. Nói khác đi, tất cả những cái gì không phải là tự nhiên thì là văn
hoá.
Như vậy chúng ta có sự phân biệt giữa văn minh và văn hoá
Văn minh là khái niệm chỉ trình độ hiện thực hoá khả năng con người thành
sức mạnhvật chất và tinh thần để khám phá và chiêm nghiệm và đánh giá thế
giới. Do đó, khi đánh giá văn minh của một cộng đồng nào đó là đánh giá trình
kĩ thuật của văn minh Trung Quốc chúng ta phải tìm hiểu giá trị nội dung chứa
đựng trong bốn phát minh đó đối với sự phát triển của đất nước Trung Quốc và
giá trị của nó đối với nhân loại.
1.2. Vài nét về lịch sử và những thành tựu của nền văn minh Trung Quốc
1.2.1. Về lịch sử
Trung Quốc là đất nước có bề dày lịch sử lâu đời trải qua các thời kì lịch
sử : Thời kì tiền sử, thời kì cổ đại và thời kì trung đại.
1.2.1.1 Thời kì tiền sử
Thời tiền sử (thượng cổ) bắt đầu từ thiên niên kỷ X đến giữa thiên niên kỉ
II TCN, xã hội nguyên thuỷ hình thành và phát triển trên chặng đường tiến hoá
tới các xã hội văn minh.
1.2.1.2 Thời kì cổ đại
Nhà Hạ (XXI – XVII TCN)
Đây là nhà nước đầu tiên của thời kỳ xã hội cổ đại ở Trung Hoa.
Triều đại mở đầu thời kì chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc. Về kinh tế thời đại này
người Hạ đã biết chế tạo, sử dụng những công cụ, vũ khí bằng đồng và có dấu
hiệu xuất hiện văn tự, các tri thức mới ở giai đoạn phôi thai. Lúc cường thịnh
nhất, nhà Hạ đã thống trị cả một vùng đất đai rộng lớn ở vùng trung lưu sông
Hoàng Hà. Vương triều trung ương theo chế độ thế tập, đóng đô ở Am ấp (nay
thuộc tỉnh Sơn Tây). Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp quý tộc, bộ máy quan lại,
nhà tù, quân đội đã được thiết lập tuy còn rất đơn giản. Mặc dù vậy, tổ chức thiết
chế xã hội của triều Hạ đã là một bước tiến lớn, là một tiêu chí để đánh dấu xã
hội Trung Quốc đã vượt qua giai đoạn “dã man” sang giai đoạn văn minh.
Nhà Thương (XVI – XII TCN)
Khoảng nửa đầu thế kỷ XVII tr.CN, Thành Thang - người đứng đầu bộ tộc
Thương đã lật đổ vua Kiệt nhà Hạ, lập nên nhà Thương đặt đô ở đất Bạc (thuộc
tỉnh Hà Nam bây giờ). Đến thế kỷ XIV tr.CN, Bàn Canh dời đô về đất Ân (thuộc
huyện An Dương, Hà Nam ngày nay). Vì vậy nhà Thương còn gọi là nhà Ân
Triều. Nhà nước trung ương tập quyền của triều Thương được tổ chức chặt chẽ,
vua được đề cao. Các vua nhà Thương mở rộng lãnh thổ bằng cách chinh phục
Thời Xuân Thu - Chiến Quốc
Đây là thời kỳ chuyển biến từ chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong
kiến, còn gọi là thời Đông Chu, do Chu Bình Vương dời đô về phía Đông (Lạc
Dương, Hà Nam ngày nay).Thời Xuân Thu (khoảng 770 – 475 tr.CN). Thời
Chiến Quốc (475 – 221 tr.CN): Về lực lượng sản xuất: Đồ sắt phát triển khá phổ
biến, kỹ thuật canh tác phát triển. Nền sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công
nghiệp phát triển mạnh mẽ. Sự phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất
ngày càng cao. Sự phát triển của lực lượng sản xuất, của kinh tế đã có tác động
mạnh đến hình thức sở hữu ruộng đất, kết cấu và địa vị kinh tế của các giai tầng
trong xã hội.
Về chính trị: Thời Xuân Thu, mệnh lệnh của Thiên tử nhà Chu không còn được
tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, kỷ cương xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi. Sự tranh
giành địa vị xã hội của các thế lực cátcứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại vào tình
trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi hỏi giải
thể chế độ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể nhà
nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng lực
lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển. Sự biến chuyển sôi động đó của
thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ sĩ”
luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội
tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm
thầy), “Bách gia minh tranh” (trăm nhà đua tiếng). Chính trong quá trình ấy đã
sản sinh các tư tưởng lớn và hình thành nên các trường phái triết học khá hoàn
chỉnh.
1.2.1.3 Thời trung đại
Thời kì trung đại nói chung là thời kì thống trị của các vương triều phong
kiến Trung Quốc thống nhất. Thời kì này bắt đầu từ nhà Tần (221 TCN) đến năm
1840 tức là năm xảy ra cuộc chiến tranh thuốc phiện giưa Trung Quốc và Anh
lam cho Trung Quốc từ một nước phong kiến trở thành một nước nửa phong
kiến nửa thuộc địa
Trong thời gian hơn 2.000 năm đó, Trung Quốc đã trải qua các triều đại
lâu nhưng chữ Lệ có ý nghĩa rất quan trọng vì đó là giai đoạn quá độ để phát
triển thành chữ chân tức là chữ Hán ngày nay.
1.2.2.2 Văn học
Văn học Trung Quốc là một nền văn học rất phong phú và đa dạng, phát
triển linh hoạt qua mỗi thời, phản ánh chân thực mmõi thời kì lịch sử, mỗi vương
triều.
- Thời cổ đại, trước khi thống nhất các vương triều, văn học thời này quen
gọi là văn học tiền Tần, trong nền văn học Trung Quốc đã xuất hiện nhiều tác
phẩm kiệt xuất, trong đó nổi tiếng nhất là bộ Kinh thi và Sở từ.
Kinh thi là bộ tổng tập thơ ca đầu tiên của Trung Quốc, tập thơ cổ nhất
của văn học Trung Quốc được viết dưới thời Chu. Kinh thi gồm những bài thư,
ca dao, dân ca của nhân dân lao động và tầng lớp quý tộc(305 bài). Ngoài ra có 6
bài gọi là sinh thi (bài hát có tiếng sinh đệm theo) có đề mục mà không có lời.
Kinh thi chia là ba phần : Phong, Nhã , Tụng. Phong là dân ca cấc nước
(gồm 15 nước) nên gọi là Quốc Phong (15 Quốc Phong). Nhã là âm nhạc vùng
vương triều nhà Chu trực tiếp thống trị, do tầng lớp quý tộc sáng tác gồm Đại
Nhã (phản ánh sinh hoạt của tầng lớp quý tộc) và Tiểu Nhã (phản ánh sinh hoạt
của tiểu quý tộc). Tụng là loại thơ ca tán tụng công đức của các triều vua dùng
trong tế tự ở tông miếu và dùng để bói toán, gồm Thương Tụng, Chu Tụng và Lỗ
Tụng. Trong Kinh thi, Quốc Phong chiếm một nửa số bài và cũng là phần có giá
trị nhất của Kinh thi bởi giá trị nội dung , tư tưởng và nghệ thuật của nó. Trước
nhất nó phản ánh chân thực xã hội đương thời. Đây cũng là khởi điểm sáng chói
truyền thống chủ nghĩa hiện thực trong văn học cổ Trung Quốc. Đặc biệt là
những bài dân ca trong đó “người đói ca hát về miếng ăn, người lao động ca hát
về công việc” đã phản ánh nhiều tư tưởng và tình cảm của nhân dân lao động,
phản ánh cảnh đói nghèo, cùng khổ đồng thời cũng diễn tả lòng căm ghét của
nhân dân đối với chiến tranh, tinh thần phản kháng đối với sự bóc lột. Bên cạnh
đó, trong Kinh thi còn có những bài phản ánh tình yêu, hôn nhân của quần chúng
đương thời (lớp giữa và lớp giữa xã hội), phản ánh tình cảm thẳng thắn, tình yêu
lành mạnh của họ; lại cũng có bài biểu hiện nỗi thống khổ của người phụ nữ do
(Nguyên), Tiểu thuyết (Minh – Thanh)
Thơ Đường chiếm vị trí nổi bật trong các thành tựu văn hoá Đường, là
đỉnh cao của văn hoá Trung Quốc và nhân loại thời bấy giờ (VII –X), với 50.000
bài thơ của 2300 thi sĩ thể hiện bằng những quy phạm chặt chẽ. Trong hằng hà sa
số các nhà thơ đó, nổi tiếng nhất là ba nhà thơ lớn : Lý Bạch, Đỗ Phủ và Bạch Cư
Dị.
Lý Bạch (701 – 762) được gọi là Thi tiên (ông tiên trong làng thơ).Ông
đã dể lại 1200 bài thơ về đủ mọi đề tài: vịnh cảnh, thưởng hoa, tình bạn, nỗi khổ
đau của người nông dân, nỗi đáng cay của chinh phụ, thương phụ… Nỗi cay
đắng vì có tài mà không được dùng. Tác phẩm tiêu biểu : “Hành lộ nan” (đường
đi khó), “Vọng lí Sơn bộc bố” (Xa ngắm thác núi Lư)
Đỗ Phủ (712 – 770) được gọi là Thi thánh - vị thánh trong làng thơ. Thơ
Đỗ Phủ thấm đẫm máu và nước mắt của nhân dân trong thời buổi loạn ly - Người
đời gọi thơ ông là một tập Thi Sử, bởi người viết sử đứng trên quan điểm của dân
đen, coi nỗi đau của họ như nỗi đau của chính mình. Thơ ông thể hiện tư tưởng
nhân đạo lớn lao. Ông để lại 1400 bài thơ
Bạch Cư Dị (772 – 846): Kế thừa truyền thống thơ ca hiện thực của Đỗ
Phủ, góp phần đưa thơ Đường đến tột đỉnh vinh quang. Tiêu biểu là “Trường hận
ca” và “Tỳ Bà Hành”
Tiểu thuyết : Đặc biệt phát triển vào thế kỉ XIV – XVII. Thời kì này thuộc
hai triều đại Minh (1368 -1644) và Thanh (1644 – 1911) bởi vậy còn gọi là tiểu
thuyết Minh – Thanh . Thời kì này, kinh tế thương nghiệp phát triển, nhiều đô thị
lớn hình thành. Trong các buổi hội hè thường xuất hiện các nghệ nhân kể chuyện,
đề tài của họ thường là những sự tích lịch sử. Các nhà văn thời Minh và Thanh đã
sưu tầm các truyện kể ấy, gia công thêm bớt trau chuốt văn chương, hình thành
hàng loạt bộ tiểu thuyết có giá trị. Trong hơn 300 bộ tiểu thuyết, nổi tiếng là các
tác phẩm :
Thuỷ Hử - kể về một số nhân vật anh hùng cuối thời Bắc Tống, do bị bức
hại mà phải lên Lương Sơn Bạc , qua đó phản ánh sâu sắc sự áp bức giai cấp ở
thời Bắc Tống, vạch trần tội ác của xã hội phong kiến, biểu hiện lòng bất mãn và
vẫn được mệnh danh là cha đẻ của sử học Trung Quốc. Thời Đường, có cơ quan
biên soạn sử sách gọi là Sử Quán. Từ đó về sau các bộ sử đều do nhà nước biên
soạn Thời Minh – Thanh, Trung Quốc biên soạn nhiều bộ sử sách quí (26bộ): Sử
thông, Thông điển, Vĩnh Lạc Đại Điển, Tứ Khố Toàn Thư.
Sử kí còn có giá trị văn học, mở đầu cho một thể loại văn học. Đó là
truyện kí lịch sử. Cũng chúnh bắt đầu từ sử ký mà Trung Quốc trở thành nước có
nhiều truyện lịch sử nhất thế giới.
Từ đời Hán trở đi việc viết sử được tiến hành liên tục. Các tác phẩm tiêu
biểu: Hán Thư, Hậu Hán Thư, Tuỳ Thư, Đường Thư, Tống Sử, Minh Sử, Thanh
Sử.
Từ đời Đường, nhà nước đã quan tâm đến sử học bằng các hình thức lập
Quốc sử quán trở thành một hệ thống, soạn ra bộ bách khoa toàn thư đầu tiên của
nhân loại : “Vĩnh lạc đại điển” do 2000 học giả biên soạn trong năm năm (thời
nhà Minh/Minh Thành tổ/Vĩnh Lạc)
1.2.2.4 Nghệ thuật
Về nghệ thuật đất nước Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu. Hai lĩnh vực
lớn đạt nhiều thành tựu là kiến trúc và hội hoạ
Kiến trúc : Trung Quốc là nơi lưu giữ được nhiều công trình đời xưa nhất,
sử dụng nhiều nguyên vật liệu khác nhau. Các công trình kiến trúc bao giờ cũng
có nhiều mái, thường theo lối mái cong.
Gắn liền với kiến trúc là điêu khắc. Trên các công kiến trúc có nhiều tác
phẩm điêu khắc, không phô trương, không có quy mô to lớn. Tiêu biểu có các
công trình sau :
Cố đô Bắc Kinh (Tử Cấm Thành) : xây dựng khoảng 1406 – 1420 (đời
vua Vĩnh Lạc). Cố kinh từ đó trở thành nơi ở của 24 triều vua Minh Thanh. Hiện
nay vẫn còn 100 toà cung điện, và 8600 gian. Trong quần thể kiến trúc này, lớn
nhất là điện Thái Hoà và điện Trung Hoà
Di Hoà Viên : Một vườn hoa xây dựng cách thành phố Bắc Kinh 18km về
phía Tây Bắc, xây dựng từ năm 1888 để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60 của Từ Hy
Thái Hậu. Vườn hoa được xây dựng bằng số tiền 35 triệu lạng bạc mà Quang Tự
hữu ích cho cuộc đời.
Tư tưởng giáo dục : Khổng Tử có những đóng góp rất quan trọng, là
người đầu tiên sáng lập ra chế độ giáo dục tư thục ở Trung Quốc – Giáo dục mở
rộng từ tầng lớp quý tộc đến tầng lớp thứ dân. Ông đã đào tạo nhiều thế hệ học
trò (3000 người), trong đó có 72 người nổi tiếng tham gia trong tất cả các lĩnh
vực.
Nho gia đã ảnh hưởng sâu sắc rộng trong mọi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực
chính trị trị trong xã hội phong kiến cũng như các nước đồng văn như Triều Tiên,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam
1.2.2.6 Khoa học tự nhiên
Cách ngày nay trên bốn ngàn năm, khoa học tự nhiên của Trung Quốc đã
có những thành tựu rực rỡ
* Thời cổ đại
Thiên văn học ra đời rất sớm, đạt nhiều tiến bộ ở thời Xuân Thu - Chiến
Quốc. Đó là sự ghi chép lại các lần nhật thực (37 lần trong vòng 242 năm), các vì
tinh tú (800 vì tinh tú, trong đó có 120 vì tinh tú được xác định). Bảng ghi chép
các hành tinh khác của người Trung Quốc – “Cam Thạch Tinh” có từ thời Xuân
Thu, được coi là bảng ghi chép các vì sao xưa nhất thế giới. Thế kỉ VII TCN,
người Trung Quốc đã biết dùng một cái cọc đứng để đo bóng mặt trời (gọi là Thổ
khuê), qua đó đã xác định được ngày hạ chí và đông chí, làm cho cách tính lịch
ngày càng chính xác.
Lịch: Yêu cầu của sản xuất nông nghiệp đã làm cho người Trung Quốc
biết làm lịch từ rất sớm. Đến đời Thương, họ đã phát minh ra lịch - âm lịch. Lich
pháp âm lịch cho đến nay, vẫn còn đang được sử dụng song song với dương lịch
ở Trung Quốc.
Y học: Từ thời Chiến Quốc, các thầy thuốc đã biết giải phẫu cơ thể người,
biết nội tạng và bộ máy tuần hoàn của người, chuẩn đoán bệnh qua bắt mạch,
châm cứu, sắc thuốc để chữa bệnh. Đặc biệt, thời kì này đã xuất hiện nhiều cuốn
sách có tính chất tổng kết về y học và dược học như: “Hoàng đế nội kinh”, “Sơn
hải kinh”
văn minh Trung Quốc.
2.1.1. Yếu tồ về điều kiện tự nhiên
Trung Quốc là một nước lớn nằm ở Đông bắc Á, có hai con sông lớn chảy
qua: Hoàng Hà và Trường Giang (Dương Tử), hai con sông đã bồi đắp cho Trung
Quốc những vùng đất phù sa rất màu mỡ, thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đặc
biệt là nông nghiệp. Do lãnh thổ trải rộng nên Trung Quốc có phong cảnh tương
đối đa dạng, phía tây có nhiều cao nguyên và núi non, trong khi phía đông đất đai
bằng phẳng và thấp hơn. Do vậy, hầu hết các con sông chính đều chảy từ tây
sang đông, trong đó có Dương Tử, Hoàng Hà và Hắc Long Giang cũng như chảy
từ phía tây về phía nam như Châu Giang, Mê Kông, và Brahmaputra), và tất cả
các sông này đều đổ ra Thái Bình Dương, trừ Brahmaputra đổ ra Ấn Độ Dương.
Hầu hết các vùng đất trồng trọt được đều nằm dọc theo hai con sông chính là
Dương Tử và Hoàng Hà, và đây cũng là trung tâm phát sinh các nền văn minh cổ
đại rực rỡ của Trung Quốc Khi mới thành lập Trung Quốc chỉ là một vùng đất
nhỏ ở lưu vực sông Hoàng Hà, lãnh thổ của Trung Quốc được mở rộng dần. Từ
thế kỉ III TCN, Trung Quốc trở thành một nước phong kiến, không ngừng đẩy
mạnh các cuộc chiến tranh xâm lược để mở rộng lãnh thổ. Đến thế kỉ XVIII, lãnh
thổ của Trung Quốc cơ bản như ngày nay.Về phía đông, dọc theo bờ biển Hoàng
Hải và Đông Hải là các đồng bằng phù sa rất đông dân; còn bờ biển của Biển
Đông ("Nam Hải Trung Quốc") và miền nam Trung Quốc có nhiều đồi núi và
dãy núi thấpVề phía đông, dọc theo bờ biển Hoàng Hải và Đông Hải là các đồng
bằng phù sa rất đông dân; còn bờ biển của Biển Đông ("Nam Hải Trung Quốc")
và miền nam Trung Quốc có nhiều đồi núi và dãy núi thấp. Về phía tây, miền bắc
có đồng bằng phù sa lớn (bình nguyên Hoa Bắc), còn miền nam có cao nguyên
đá vôi mênh mông bao phủ bởi các ngọn đồi với độ cao tương đối, trong đó dãy
Himalaya có đỉnh cao nhất là ngọn Everest. Phía tây bắc cũng có các cao nguyên
khá cao trong các vùng đất sa mạc khô cằn như Takla-Makan và sa mạc Gobi
ngày càng mở rộng. Do hạn hán kéo dài và có thể là kỹ thuật canh tác kém nên
các cơn bão cát đã ngày càng phổ biến vào mùa xuân ở Trung Quốc. Các trận
bão cát thổi xuống tận phía nam Trung Quốc, Đài Loan, và có cả dấu vết ở Bờ
ruộng đất và mọi thành viên đều thuộc quyền quản lý của vua nhà Chu. Trong xã
hội có sự phân chia thành hai hạng người, đó là quân tử (quý tộc) và tiểu nhân
(kẻ hèn) Sự phân công lao động, chia tách xã hội lần thứ nhất chưa triệt để. Về tư
tưởng có sự gắn chặt giữa thần quyền và thế quyền
Thời Xuân Thu (khoảng 770 – 475 tr.CN).
Thời Chiến Quốc (475 – 221 tr.CN):
Về lực lượng sản xuất: Đồ sắt phát triển khá phổ biến, kỹ thuật canh tác
phát triển. Nền sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp phát triển mạnh mẽ.
Sự phân công lao động và chuyên môn hoá sản xuất ngày càng cao. Sự phát triển
của lực lượng sản xuất, của kinh tế đã có tác động mạnh đến hình thức sở hữu
ruộng đất, kết cấu và địa vị kinh tế của các giai tầng trong xã hội.
Về chính trị: Thời Xuân Thu, mệnh lệnh của Thiên tử nhà Chu không còn
được tuân thủ, trật tự lễ nghĩa, kỷ cương xã hội bị đảo lộn, đạo đức suy đồi. Sự
tranh giành địa vị xã hội của các thế lực cát cứ đã đẩy xã hội Trung Hoa cổ đại
vào tình trạng chiến tranh khốc liệt liên miên. Đây chính là điều kiện lịch sử đòi
hỏi giải thể chế độ thị tộc nhà Chu, hình thành xã hội phong kiến; đòi hỏi giải thể
nhà nước của chế độ gia trưởng, xây dựng nhà nước phong kiến nhằm giải phóng
lực lượng sản xuất, mở đường cho xã hội phát triển. Sự biến chuyển sôi động đó
của thời đại đã đặt ra và làm xuất hiện những tụ điểm, những trung tâm các “kẻ
sĩ” luôn tranh luận về trật tự xã hội cũ và đề ra những hình mẫu của một xã hội
tương lai. Lịch sử gọi thời kỳ này là thời kỳ “Bách gia chư tử” (trăm nhà trăm
thầy), “Bách gia minh tranh” (trăm nhà đua tiếng). Từ thời cổ đại, trên lưu vực
Hoàng Hà và Trường Giang có nhiều quốc gia nhỏ của người Trung Quốc. Giữa
các nước này thường xuyên xảy ra các cuộc xung đột thôn tính lẫn nhau.
Thời kì trung đại
Chế độ phong kiến được xác lập dưới thời nhà Tần và sau đó tiếp tục phát
triển dưới thời nhà Hán. Vua Tần tự xưng là Hoàng đế, có ý coi mình là đấng tối
cao, vua của các vua. Vua đầu tiên là Tần Thuỷ Hoàng đã khởi đầu việc xây
dựng bộ máy chính quyền phong kiến, trong đó Hoàng đế có quyền tuyệt đối
Tần Thủy Hoàng đã thi hành một loạt chính sách như chia đất nước thành các
bán khá sầm uất. Các hoàng đế Trung Quốc sớm có tham vọng chiếm nhiều đất
đai của các nước khác. Nhà Tần và nhà Hán đã phát động nhiều cuộc chiến tranh
xâm lược để thôn tính, đồng hoá các nước xung quanh. Đó là các cuộc hành quân
xâm lấn bán đảo Triều Tiên, thôn tính các nước phương Nam, chiếm nước Nam
Việt. Nhưng các cuộc chiến tranh liên miên, hao người tốn của đã làm cho mâu
thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt. Trung Quốc lại bước vào thời kỳ loạn lạc kéo
dài hàng mấy thế
2.2 Những phát minh lớn về kỹ thuật của nền văn minh Trung Quốc.
2.2.1 Giấy
Kĩ thuật làm giấy, một trong bốn phát minh lớn cuả Trung Quốc đã có hai
ngàn năm lịc sử. Trước khi lam được giấy, người Trung Quốc đã viết trên thẻ tre,
thẻ trúc, phiến gỗ, lụa những văn bản này hoặc nặng nề, cồng kềnh, hoặc đắt
tiền, cho nên không thể dùng một cách rộng rãi. Trong quá trình nghiên cứu một
số ngôi mộ cổ có niên đại Tây Hán (206 tr. CN – 235 CN) ở Tây An, Cam Túc,
các nhà khoa học đã tìm thấy giấy, có loại thô ráp, có lẽ chỉ dùng để gói bọc; có
loại trắng, mịn, có thể dùng ghi chép. Đến khoảng cuối đời Hán sử sách đã ghi
việc dùng giấy để sao chép kinh Phật. Tuy nhiên nguyên liệu làm giấy ở thời đó
vẫn còn hiếm, giá thành cao, cho nên việc sản xuất giấy vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu của xã hội.
Cần phải tìm ra một nguyên liệu làm giấy dồi dào hơn, dễ kiếm do đó giá
rẻ hơn và một kĩ thuật làm giấy tiên tiến hơn. Đó là một yêu cầu bức thiết của
một thời đại mà các hoạt động ngôn ngữ viết đang trên đà phát triển mạnh mẽ.
Thái Luân - người Đông Hán (23 – 220) giữ chức Thượng phương lệnh, chuyên
quản việc chế tạo các vật phẩm cần dùng cho triều đình, đã dày công tìm tòi
nghiên cứu thí nghiệm, cuối cùng đã đáp ứng được nhu cầu nói trên. Ông dùng
sơ đay, giẻ rách, lưới đánh cá cũ hỏng , ngâm nước cho mủn ra, cho vào nồi
nấu rồi đem giã thành bột nhuyễn, tiếp đó đem thứ bột nhiễm này dàn thành
màng mỏng trên một tấm mành tre, rồi đem hong cho khô; cuối cùng nhẹ tay bóc
lớp màng mỏng đó ra khỏi mành, thế là thu được một tờ giấy khá mịn.
Năm Nguyên Hưng thứ sáu đời Hán Hoà Đế (năm 105) Thái Luân dùng