Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ VETIVER và lục bình bằng mô hình đất ngập nước - Pdf 14

Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHÊ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
o0o
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
KHẢ NĂNG XỬ LÝ NƯỚC THẢI SINH HOẠT CỦA CỎ
VETIVER VÀ LỤC BÌNH BẰNG MÔ HÌNH ĐẤT NGẬP NƯỚC
Chuyên ngành: CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Mã Ngành: 105
GVHD: TH.S NGUYỄN VĂN ĐỆ
SVTH: TRẦN NGỌC NAM
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
1
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
TP. HỒ CHÍ MINH, THÁNG 7 NĂM 2009
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Khi nhắc đến “Đất ngập nước” là người ta nghó ngay đến những vùng đất
không có năng suất và thậm chí bẩn thỉu chứa đầy bệnh tật, côn trùng,… Sự phát
triển ngày một cao của nền kinh tế đi đôi với quá trình đô thò hóa đã làm cho diện
tích đất ngày càng thu hẹp, trong đó có quá trình chuyển hóa Đất ngập nước sang
sản xuất nông nghiệp thâm canh hoặc nuôi trồng thuỷ sản hay san lấp để tạo ra
các vùng đất cho phát triển công nghiệp, đô thò.
Trong khi đó, Đất ngập nước lại có một vai trò hết sức quan trọng đối với
cuộc sống con người, nhất là đối với những người dân sống trong và gần những
vùng Đất ngập nước như là: lương thực, thực phẩm, vật liệu làm nhà cửa, đồng
thời cũng là đòa bàn sinh sống và sản xuất của con người. Đất ngập nước bảo vệ

1.2. Tên đề tài
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô
hình Đất ngập nước.
1.3. Cơ quan quản lý
Khoa Môi trường và Công nghệ Sinh học của Trường Đại học Kỹ thuật
Cộng nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh.
1.4. Giáo viên hướng dẫn
Thạc só khoa học Nguyễn Văn Đệ
Trưởng phòng Đất – Nước – Môi trường
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
3
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
Viện Đòa lý Tài nguyên TP. Hồ Chí Minh.
1.5. Người thực hiện
Sinh viên Trần Ngọc Nam – lớp 05DSH1
Mã số sinh viên: 105111043
Khoa Môi trường – Công nghệ Sinh học
Trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP. Hồ Chí Minh.
1.6. Lý do chọn đề tài
Ô nhiễm môi trường từ các nguồn nước thải sinh hoạt ở các khu dân cư đô
thò, các nguồn từ những con kênh, cống… đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi
trường sống sức khoẻ cuả con người, song nhà nước đã bỏ ra một số chi phí không
ít cho việc xử lý nước thải nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để, mặt khác lượng ô
nhiễm lại ngày càng gia tăng.
Khác với những công nghệ hóa lý thì công nghệ sinh học sử dụng hệ thống
Đất ngập nước để xử lý nước thải sinh hoạt là điều khá khả thi. Đất ngập nước có
vai trò xử lý chất ô nhiễm cao mà đặc biệt là ô nhiễm hữu cơ, vừa mang tính hiệu
quả mà chi phí lại ít tốn kém, rất thích hơp cho tình hình kinh tế hiện nay.
Trên thế giới, việc sử dụng hệ thống Đất ngập nước để xử lý nước thải đã

1.10.1. Phương pháp luận:
Từ những vấn đề bức xúc của môi trường Thành phố nói chung và môi
trường khu dân cư sinh sống nói riêng. Đặc biệt là môi trường nước của các hệ
thống kênh, cống, rạch ở vùng ngoại thành đang đô thò hóa bò ô nhiễm khá nặng;
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
5
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
đến việc tìm hiểu những công nghệ xử lý hóa lý có thể sử dụng để xử lý nước thải
sinh hoạt cho thấy còn nhiều hạn chế, do chi phí cao và vận hành khá phức tạp.
Do đó, việc lưa chọn một công nghệ có khả năng xử lý tốt, chi phí thấp có thể
xem là tối ưu và thích hợp với tình hình kinh tế hiện nay:
 Ứng dụng khả năng xử lý nước thải của hệ thống Đất ngập nước.
 Ứng dụng một số thực vật Đất ngập nước, đặc biệt là thực vật bản đòa có
khả năng xử lý ô nhiễm để xử lý nước thải sinh hoạt.
1.10.2. Phương pháp chứng minh:
1.10.2.1. Phương pháp chứng minh trực tiếp
Đưa ra dẫn chứng gồm các điều đã được công nhận, lý luận, số liệu, tài liệu
thu thập, hình ảnh nhằm chứng minh cho cần điều cần thể hiện.
1.10.2.2. Phương pháp chứng minh gián tiếp
Khi không thể nối trực tiếp với điều cần chứng minh với các điều đã được
công nhận thì đưa ra một điều mâu thuẫn với điều cần chứng minh. Từ cái “sai”
này sẽ đưa đến cái “ đúng” của vấn đề.
Ví dụ:
- Không thể nói trực tiếp thực vật thân thảo, trôi nổi có thích hợp xử lý hơn
thân gỗ cao, to thì đưa ra đặc tính của thực vật thân gỗ, thân cỏ, thân trôi nổi cho
thấy sự mâu thuẫn của thân gỗ với diện tích nhỏ hẹp vùng tiến hành thí nghiệm
dẫn đến việc phải dùng cây thân cỏ, trôi nổi.
- Hay không thể nói nước đi ra cần làm sạch thêm bằng thực vật Đất ngập
nước thì đưa ra mâu thuẫn các thông số không đạt của nước thải và nhu cầu cấp

7
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
1.11. Giới hạn của đề tài
Kết quả thu được từ mô hình tương đối khả quan, song trong quá trình thực
hiện còn nhiều hạn chế:
- Thời gian: thực hiện gần 3 tháng từ ngày 1/04/2009 đến ngày 24/06/2009
- Số chỉ tiêu khảo sát chất lượng nước thải không nhiều ( COD, BOD
5
, SS,
DO, Eh, pH, EC, TDS) phần nào ảnh hưởng đến đánh giá của thí nghiệm.
- Đối tượng: cỏ Vetiver, Lục bình
- Chưa có điều kiện thực hiện mô hình thực nghiệm ở một diện tích đất và
cây trồng đủ lớn để có thể thấy rõ hơn mức độ xử lý nước thải của cỏ
Vetiver, Lục bình trên thực tế.
1.12. Ý nghóa của đề tài
Thông qua nghiên cứu của đề tài để góp phần làm sáng tỏ thêm việc sử
dụng thực vật của đất ngập nước như là một công cụ xử lý nước thải. Có thể xem
đây là một phương thức xử lý – hài hòa giữa lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường,
mang tính kinh tế cao và phù hợp với điều kiện nước ta, đặc biệt là vùng ngoại
thành đang đô thò hóa.
Hạn chế đưa vào môi trường các nguồn chất thải gây ô nhiễm, đảm bảo mục
tiêu phát triển bền vững và đảm bảo chất lượng môi trường sống con người.
Đồng thời đưa ra một số thông số cơ bản trong việc thiết kế hệ thống xử lý
nước thải bằng thực vật.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
8
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ ĐẤT NGẬP NƯỚC VÀ THỰC

nước, có thực vật thuỷ sinh và các hoạt đông sinh học thích hợp với môi trường
ẩm ướt.”
Theo các nhà khoa học New Zealand : “Đất ngập nước là một khái niệm
chung để chỉ những vùng đất ẩm ướt từng thời kỳ hoặc thường xuyên. Những
vùng đất ngập nước ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nước.
Nước có thể là nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn. Đất ngập nước ở trạng thái tự
nhiên hoặc đặc trưng bởi các loại thực vật và động vật thích hợp với điều kiện
sống ẩm ướt.”
Theo các nhà khoa học Ôxtrâylia : “Đất ngập nước là những vùng đầm lầy,
bãi lầy than bùn, tự nhiên hoặc nhân tạo, thường xuyên, theo mùa hoặc theo chu
kỳ, nước tónh hoặc nước chảy, nước ngọt, nước lợ hoặc nước mặn, bao gồm những
bãi lầy và những khu rừng ngập mặn lộ ra khi thuỷ triều xuống thấp.”
Đònh nghóa do các kỹ sư quân đội Mỹ đề xuất và là đònh nghóa chính thức tại
Mỹ : “Đất ngập nước là những vùng đất bò ngập hoặc bão hoà bởi nước bề mặt
hoặc nước ngầm một cách thường xuyên và thời gian ngập đủ để hỗ trợ cho tính
ưu việt của thảm thực vật thích nghi điển hình trong điều kiện đất bão hoà nước.
Đất ngập nước nhìn chung gồm: đầm lầy, đầm phá, đầm lầy cây bụi và những
vùng đất tương tự.”
Những đònh nghóa trên theo nghóa hẹp, nhìn chung đều xem Đất ngập nước
như đới chuyển tiếp sinh thái, những diện tích chuyển tiếp giữa môi trường trên
cạn và ngập nước, những nơi mà sự ngập nước của đất gây ra sự phát triển của
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
10
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
một hệ thực vật đặc trưng. Hiện nay đònh nghóa theo công nước Ramsar là đònh
nghóa được nhiều người sử dụng.
2.1.2. Các chức năng của đất ngập nước
2.1.2.1. Chức năng sinh thái của đất ngập nước.
− Nạp nước ngầm : nước được thấm từ các vùng Đất ngập nước xuống các tầng

Long, vận chuyển thủy đóng vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cũng
như phát triển kinh tế của các cộng đồng dân cư đòa phương.
− Giải trí, du lich : các khu bảo tồn Đất ngập nước như Tràm Chim ( Tam Nông,
Đồng Tháp), và Xuân Thuỷ (Nam Đònh), nhiều vùng cảnh quan đẹp như Bích
Động và Vân Long, cũng như nhiều đầm phá ven biển miền Trung… thu hút
nhiều du khách đến tham quan giải trí.
2.1.2.2. Chức năng kinh tế
− Tài nguyên rừng : các loài động vật thường rất phong phú ở các vùng Đất
ngập nước, tạo nên nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có thể khai thác
để phục vụ lợi ích kinh tế. Tài nguyên rừng cung cấp một loạt các sản phẩm
quan trọng như : gỗ, than, củi và các sản phẩm khác như nhựa, tinh dầu, tanin,
dược liệu. Nhiều vùng Đất ngập nước rất giàu động vật hoang dã đặc biệt là
các loài chim nước, cung cấp nhiều loại sản phẩm, trong đó có nhiều loại có
giá trò thương mại cao (da cá sấu, đồi mồi).
− Thuỷ sản : các vùng Đất ngập nước là môi trường sống và là nơi cung cấp thức
ăn cho các loài thủy sinh có giá trò kinh tế cao như cá, tôm, cua, động vật thân
mềm…
− Tài nguyên cỏ và tảo biển : nhiều diện tích Đất ngập nước ven biển có những
loại tảo, cỏ biển là nguồn thức ăn của nhiều loài thủy sinh vật và còn được sử
dụng làm thức ăn cho người và gia súc, làm phân bón và dược liệu…
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
12
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
− Sản phẩm nông nghiệp : các ruộng lúa nước chuyên canh hoặc xen canh với
các cây hoa màu khác đã tạo nên nhiều sản phẩm quan trọng khác của vùng
Đất ngập nước.
− Cung cấp nước ngọt : nhiều vùng Đất ngập nước là nguồn cung cấp nước ngọt
cho sinh hoạt, cho tưới tiêu, cho chăn nuôi gia súc và sản xuất công nghiệp.
− Tiềm năng năng lượng : than bùn là một nguồn nhiên liệu quan trọng, các đập,

này góp phần không nhỏ tạo nên văn hoá truyền thống của người dân đòa
phương. Bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên trong đó có các hệ sinh thái Đất
ngập nứơc cũng là bảo vệ cái nôi văn hoá truyền thống.
2.1.3. Các loại hình đất ngập nước và cơ chế các quá trình xử lý trong đất
ngập nước
2.1.3.1. Lòch sử sử dụng đất ngập nước để làm sạch nước.
− Đất ngập nước được sử dụng để cải thiện chất lượng nước đã được biết đến
vào những thập kỷ 20 của thế kỷ trước, nhưng hầu hết là các Đất ngập nước tự
nhiên (U.S. EPA, 1999). Những nghiên cứu xây dựng Đất ngập nước ( Đất
ngập nước nhân tạo) để xử lý nước thải bắt đầu vào những năm 1950 ở Đức
(Seidel, 1976), ở Hoa kỳ vào những năm 1970 đến 1980 và phát triển mạnh
trong những năm 1990, người ta xây dựng nhiều hệ thống xử lý nước thải bằng
Đất ngập nước và áp dụng rộng rải không chỉ để xử lý nước thải đô thò mà còn
để xử lý nước thải cho các khu công nghiệp vùng khai khoáng và nước thải
nông nghiệp.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
14
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
Hình 2.1 : Mẫu mô hình đất ngập nước
2.1.3.2. Các loại hình đất ngập nước
Các hệ thống bãi lọc khác nhau bởi dòng chảy, môi trường và các loài thực
vật trồng trên bãi lọc. Một cách tổng quát ta có thể phân loại bãi lọc trồng cây
(Đất ngập nước) thành ba loại:
a. Đất ngập nước tự nhiên:
Dù ĐNN nhân tạo hiện nay được dùng thường hơn ĐNN tự nhiên, việc sử
dụng ĐNN tự nhiên cho xử lý vẫn nên được cân nhắc kỹ khi phác thảo tổng thể
chi phí xây dựng. Để xác đònh rõ nếu một vùng ĐNN tự nhiên có thể được sử
dụng, cần tính toán đến số lượng kích thước của dự án. Thêm vào đó, cần xử lý sơ
bộ, xác đònh rõ loại ống dẫn nước, điều khiển dòng ngập lũ và rủi ro sinh thái để

loài sinh trưởng nhanh
Tổng chất rắn hòa tan Đặc trưng vò trí Gây độc tới sự thích nghi
cuả cây và các loài vật
Kim loại và chất độc
khác
dưới mức gây độc clo Tích lũy nồng độ gây độc ,
mở rộng sinh học trong
chuỗi thức ăn
(Nguồn: tài liệu natural wetland treatment)
Nhân tố quan trọng nhất trong quyết đònh nếu một ĐNN sẽ hoạt động như
một cách xử lý thay thế phù hợp là thực vật. Nhiều loại cây thuộc ĐNN tự nhiên
không thể sống lâu trong ĐNN do gia tăng nhiều dòng chảy (theo EPA,1993).
Duy chỉ một số ít trong tổng số các loài vùng ĐNN thích nghi chòu được gia tăng
trong nước tự nhiên. Hầu hết các vùng ĐNN tự nhiên không thích hợp dùng xử lý
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
16
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
nước thải do các loài cây không có khả năng chống đỡ khi có sự tăng cao dòng
chảy, dù vậy có ba loại ĐNN tự nhiên thể hiện được khả năng xử lý nước thải và
nước mưa như: (1) đầm lầy, (2) vùng đất ngập lũ, (3) vùng đất bụi cây rậm. Nhìn
chung, đây là ba loại hình ĐNN cơ bản thích hợp xử lý: (1) dòng chảy ngang cố
đònh trong một hồ, (2) dòng chảy ngang cố đònh trong một con sông và (3) dòng
chảy thẳng đứng hay chéo vận chuyển trong mặt đất nghiêng và cố đònh trong
một vùng nhận nước.
b. Đất ngập nước dòng chảy bề mặt (surface flow wetland) hay bãi lọc trồng
cây ngập nước
Hệ thống này mô phỏng một đầm lầy hay Đất ngập nước tự nhiên. Dưới đáy
bãi lọc là một lớp đất sét tự nhiên hay nhân tạo, hoặc rải một lớp vải nhựa chống
thấm. Trên lớp chống thấm là đất hoặc vật liệu phù hợp cho sự phát triển của

xử lý nitơ bò hạn chế. Xử lý phốtpho cũng bò hạn chế do các vật liệu lọc được sử
dụng ( sỏi, đá dăm) có khả năng hấp phụ kém.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
18
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
Hình 2.3 : Bãi lọc trồng cây dòng chảy ngầm
2.1.3.3. Cơ chế các quá trình xử lý
Để thiết kế, xây dựng, vận hành bãi lọc trồng cây chính xác, đạt hiệu quả cao,
việc nắm rõ cơ chế xử lý nước thải của bãi lọc là hết sức cần thiết. Các cơ chế đó
bao gồm lắng, kết tủa, hấp phụ hoá học, trao đổi chất của vi sinh vật và sự hấp
thụ của thực vật. Các chất ô nhiễm có thể được loại bỏ nhờ nhiều cơ chế đồng
thời trong bãi lọc.
a. Loại bỏ các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học
Trong các bãi lọc, phân huỷ sinh học đóng vai trò lớn nhất trong việc loại bỏ
các chất hữu cơ dạng hoà tan hay dạng keo có khả năng phân huỷ sinh học (BOD)
có trong nước thải. BOD còn lại cùng các chất rắn lắng được sẽ bò loại bỏ nhờ quá
trình lắng. Cả bãi lọc ngầm trồng cây và bãi lọc trồng cây ngập nước về cơ bản
hoạt động như bể lọc sinh học. Tuy nhiên, đối với bãi lọc trồng cây ngập nước,
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
19
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
vai trò của các vi sinh vật lơ lửng dọc theo chiều sâu cột nước của bãi lọc đối với
việc loại bỏ BOD cũng rất quan trọng. Cơ chế loại bỏ BOD trong các màng vi
sinh vật bao bọc xung quanh lớp vật liệu lọc tương tự như trong bể lọc sinh học
nhỏ giọt. Phân hủy sinh học xảy ra khi các chất hữu cơ hoà tan được mang vào
lớp màng vi sinh bám trên phần thân ngập nước của thực vật, hệ thống rễ và
những vùng vật liệu lọc xung quanh, nhờ quá trình khuếch tán. Vai trò của thực
vật trong bãi lọc là:

+ Nitrat hoá/khử nitơ
+ Sự bay hơi của amoniăc(NH
3
)
+ Sự hấp thụ của thực vật
− Hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa thống nhất về tầm quan trọng của các
cơ chế khử nitơ như đặc biệt với hai cơ chế nitrat hoá/khử nitrat và sự hấp thụ
của thực vật.
− Trong các bãi lọc, sự chuyển hoá của nitơ xảy ra trong các tầng oxy hoá và
khử của bề mặt tiếp xúc giữa rễ và đất, phần ngập nước của thực vật có thân
nhô lên khỏi mặt nước. Nitơ hữu cơ bò oxy hoá thành NH
4
+
trong cả hai lớp đất
oxy hoá và khử. Lớp oxy hoá và phần ngập của thực vật là những nơi chủ yếu
xảy ra quá trình nitrat hóa, tại đây NH
4
+
chuyển hoá thành NO
2
-
bởi vi khuẩn
Nitrosomonas và cuối cùng thành NO
3
-
bởi vi khuẩn Nitrobacter. Ở môi trường
nhiệt độ cao hơn, một số NH
4
+
chuyển sang dạng NH

từ vùng thiếu khí khuếch tán vào.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
22
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước
Hình 2.6 : Đường đi của Nitơ trong đất ngập nước
d. Loại bỏ Phốtpho
− Cơ chế loại bỏ phốtpho trong bãi lọc trồng cây gồm có sự hấp thụ của thực
vật, các quá trình đồng hoá của vi khuẩn, sự hấp phụ lên đất, vật liệu lọc ( chủ
yếu là lên đất sét) và các chất hữu cơ, kết tủa và lắng các ion Ca
2+
, Mg
2+
, Fe
3+
,
và Mn
2+
. Khi thời gian lưu nước dài và đất sử dụng có cấu trúc mòn thì các quá
trình loại bỏ phốtpho chủ yếu là sự hấp phụ và kết tủa, do điều kiện này tạo
cơ hội tốt cho quá trình hấp phụ phốtpho và các phản ứng trong đất xảy ra
(Reed và Brown, 1992; Reed và nnk, 1998).
− Tương tự như quá trình loại bỏ nitơ, vai trò của thực vật trong vấn đề loại bỏ
phốtpho vẫn còn là vấn đề tranh cãi. Dù sao, đây cũng là cơ chế duy nhất đưa
hẳn phốtpho ra khỏi hệ thống bãi lọc. Các quá trình hấp phụ, kết tủa và lắng
chỉ đưa được phốtpho vào đất hay vật liệu lọc. Khi lượng phốtpho trong lớp vật
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
23
Khả năng xử lý nước thải sinh hoạt của cỏ Vetiver và Lục bình bằng mô hình Đất ngập nước

quá trình bay hơi là hàm số phụ thuộc của trọng lượng phân tử chất ô nhiễm
và áp suất riêng phần giữa hai pha khí-nước xác đònh bởi đònh luật Henry.
− Quá trình phân hủy các chất bẩn hữu cơ chính nhờ các vi khuẩn hiếu khí và kò
khí đã được khẳng đònh (Tabak và nnk, 1981; Bouwer&McCarthy, 1983),
nhưng quá trình hấp phụ các chất bẩn lên màng vi sinh vật phải xảy ra trước
quá trình thích nghi và phân hủy sinh học. Các chất bẩn hữu cơ chính còn có
thể được loại bỏ nhờ quá trình hút bám vật lý lên bề mặt các chất rắn lắng
được và sau đó là quá trình lắng. Quá trình này thường xảy ra ở phần đầu của
bãi lọc. Các hợp chất hữu cơ cũng bò thực vật hấp thụ ( Polprasert và Dan,
1994), tuy nhiên cơ chế này còn chưa được hiểu rõ và phụ thuộc nhiều vào
loài thực vật được trồng, cũng như đặc tính của các chất bẩn
g. Loại bỏ vi khuẩn và virut
− Cơ chế loại vỏ vi khuẩn, virut trong các bãi lọc trồng cây về bản chất cũng
giống như quá trình loại bỏ các vi sinh vật này trong hồ sinh học. Vi khuẩn và
virut có trong nước thải được loại bỏ nhờ:
+ Các quá trình vật lý như dính kết và lắng, lọc, hấp phụ.
GVHD: ThS. Nguyễn Văn Đệ
SVTH: Trần Ngọc Nam – MSSV: 105111043
25

Trích đoạn Ngoài nước Phương pháp sinh học Phương pháp khử trùng Tiến trình thực nghiệm So sánh khả năng xử lý ô nhiễm hữu cơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status