PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Môi trường luôn đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống con
người. Nó đảm nhận 3 chức năng chính: Cung cấp tài nguyên, cung cấp
không gian sống và là nơi chứa đựng rác thải. Môi trường xanh sạch
không chỉ đơn thuần tạo nên vẻ mỹ quan cho xã hội mà còn ảnh hưởng
tích cực đến sức khỏe của con người. Tuy nhiên, trong hoạt động sống
thường ngày con người đã thải ra môi trường một khối lượng rác rất lớn
và ngày càng nhiều. Điều này đã làm cho môi trường bị ô nhiễm nghiêm
trọng.
Theo thống kê mới nhất của Hội thảo xây dựng chiến lược kiểm
soát ô nhiễm ở Việt Nam vào tháng 12 năm 2004, trung bình tổng lượng
chất thải hàng năm trên 49 ngàn tấn thì trong đó có 55% chất thải công
nghiệp, 1% chất thải y tế và 44% chất thải gia cư
i
. Bên cạnh đó, ở Đô thị
trong cả nước số chất thải rắn mỗi năm là 9.939.103 tấn rác thải rắn,
trong đó có tới 76,31% là chất thải rắn sinh hoạt từ các khu dân cư
ii
. Điều
này cho thấy, ngoài tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải từ các khu
công nghiệp, nhà máy, khu chế xuất thì một vấn đề đáng báo động hiện
nay là tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt chưa được
phân loại, thu gom và xử lý theo đúng quy định. Đây là một trong những
nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ở các khu
dân cư, khu đô thị.
Page 1 of 271
Những năm gần đây, Bình Dương là một trong những tỉnh
thuộc khu vực phía Nam đi đầu trong việc phát triển công nghiệp, cùng
với quá trình tăng trưởng kinh tế, xu hướng đô thị hóa đang ngày càng
diễn ra mạnh mẽ, tỉ lệ dân cư gia tăng làm tăng lượng rác thải sinh hoạt,
gom và xử lý rác thải sinh hoạt.
Khách thể nghiên cứu:
Người dân đang sống ở phường Phú Thọ, Thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dương.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài chỉ dừng lại ở việc khảo sát và đánh giá thái độ, nhận thức của
người dân phường Phú Thọ – Thị xã Thủ Dầu Một- tỉnh Bình Dương
trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt.
Page 3 of 271
Qua đó nhóm tác giả muốn chứng minh việc nâng cao nhận thức của
người dân đối với vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải là một điều
rất cần thiết và cấp bách.
Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nhóm tác giả chưa thể nghiên
cứu sâu vào nhiều khía cạnh của ô nhiễm môi trường mà chỉ có thể
nghiên cứu một mảng nhỏ. Với mong muốn đề tài này sẽ được mở rộng
hơn trong tương lai.
1.3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu:
Đề tài tập trung chủ yếu vào việc tìm hiểu nhận thức và thái độ của
người dân trong vấn đề phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt,
trên cơ sở đó làm rõ vai trò của các cơ quan chức năng, cơ quan truyền
thông trong việc quản lý môi trường.
Đề ra những giải pháp nhằm góp phần nâng cao nhận thức từ đó góp
phần thay đổi hành vi của người dân.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu thái độ nhận thức của người dân trong việc phân loại, thu gom
và xử lý rác thải sinh hoạt.
- Thực trạng phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của người dân.
- Tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn trong việc phân loại, thu gom và
xử lý rác thải của người dân.
thứ cấp được thu thập từ các nguồn chính sau: Các báo cáo và công trình
nghiên cứu trước đây và các tài liệu có sẵn được đăng tải trên báo, tạp chí
(Báo Tuổi Trẻ, Báo Thanh Niên, tạp chí Xã Hội Học,Vietnam.net, và
những công trình có liên quan)
- Phương pháp quan sát:
Quan sát địa bàn và các khu phố thuộc khu vực phường Phú Thọ nhằm
tìm hiểu về việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt của các hộ
gia đình.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp liên ngành khác như:
Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp…
1.5. Mô tả về mẫu
- Nguyên tắc chọn mẫu định lượng:
Biến số độc lập: Tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp, tôn giáo của người
trả lời và thu nhập gia đình.
Page 6 of 271
Biến số phụ thuộc: Những biểu hiện về nhận thức, thái độ, hành vi và tình
hình phân loại, thu gom rác trong gia đình của người trả lời thể hiện trong
nội dung nghiên cứu.
Nguyên tắc chọn mẫu định tính : Chọn mẫu phi xác suất theo chỉ tiêu.
Từ đó các mẫu được chọn như sau:
- Mẫu chính : 44 hộ gia đình
- Mẫu phụ : 10 hộ gia đình
- Đề tài khảo sát 4 khu phố : khu phố 3; khu phố 2; khu phố 7 và khu
phố 8 của phường Phú Thọ, Thị xã Thủ Dầu Một - Tỉnh Bình Dương.
Mỗi khu phố chọn 14 hộ gia đình (trong đó 11 hộ thuộc mẫu chính và
3 hộ thuộc mẫu phụ)
Theo các tiêu chí sau:
Gia đình công nhân viên chức( làm trong các công ty, tổ
chức…) 4 hộ
Gia đình trí thức: 4 hộ
Từ 31 – 40 12 27.3
Page 8 of 271
Từ 41 – 50 15 34.1
Từ 51 – 60 9 20.5
Tổng 44 100.0
Bảng 1.3: Trình độ học vấn của người tham gia phỏng vấn
Trình độ học vấn N Tỷ lệ %
Biết đọc, biết viết 2 4.2
Tiểu học 2 4.1
Trung học cơ sở 15 31.3
Trung học phổ thông 12 25.0
Trung cấp/ cao đẳng 8 16.7
Đại học/ trên đại học 9 18.8
Tổng 48 100.0
Bảng 1.4: Nghề nghiệp của người tham gia phỏng vấn
Nghề nghiệp N Tỷ lệ %
Cán bộ, công viên chức nhà nước 19 38.8
Tiểu thủ công nghiệp 2 4.1
Nghề tự do 20 40.8
về hưu, già yếu, không làm việc 8 16.3
Tổng 49 100.0
(kết quả điều tra của nhóm tác giả , thực hiện tháng 9/2009)
1.6 Mô tả địa bàn nghiên cứu
Bình Dương là tỉnh thuộc vùng Miền Đông Nam Bộ, được tách
ra từ tỉnh Sông Bé (cũ) nằm ở vị trí chuyển tiếp giữa Nam Trường Sơn,
giữa các tỉnh như Tây Ninh, Bình Phước, Đồng Nai với các tỉnh còn lại
của Nam bộ. Là một trong các tỉnh đi đầu về phát triển kinh tế. Trung tâm
tỉnh – Thị xã Thủ Dầu Một cách TP. HCM 30km, nằm trên quốc lộ 13 nối
Page 9 of 271
vào quốc lộ 14 đi Tây Nguyên và các tỉnh Miền Trung.[Thủ Dầu Một –
người dân đối với môi trường.
Qua các số liệu thu thập từ cuộc khảo sát thực tế của nhóm tác giả thông
qua việc sử dụng các công cụ như: Bảng hỏi, phỏng vấn sâu…Thông qua
việc xử lý và phân tích dựa trên số liệu thu thập được cho thấy thực trạng
Page 11 of 271
việc xử lý, thu gom và phân loại rác thải sinh hoạt của người dân hiện
nay. Từ đó phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực
của người dân trong việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt.
Cho thấy được ý thức cộng đồng của người dân hiện nay qua nhận thức,
thái độ và hành vi của người dân về việc phân loại, thu gom và xử lý rác
thải sinh hoạt nói chung.
Thông qua các số liệu đã thu thập được giúp cho người dân nói chung và
các cơ quan nhà nước nói riêng có những chỉnh đốn kịp thời phù hợp
hoàn cảnh đất nước hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Việc nghiên cứu đề tài là một cơ hội để nhóm tác giả được thực tập và
hiểu rõ hơn về phương pháp nghiên cứu xã hội học. Đề tài này cho thấy
rõ thái độ, nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường thông
qua việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải. Cung cấp những thông tin
và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức của người dân trong việc
bảo vệ môi trường.
Đề tài mang tính chất thăm dò nhận thức và thái độ của người dân về vấn
đề ô nhiễm môi trường thông qua việc phân loại, thu gom rác thải sinh
hoạt hàng ngày và qua công tác xử lý rác thải sinh hoạt.
Đề tài cũng có thể làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn tìm hiểu
vấn đề này sâu hơn và cho các sinh viên khoá sau.
Page 12 of 271
Qua đề tài nhóm tác giả cũng đề ra những biện pháp giúp địa phương
tham khảo trong việc quản lý và hướng dẫn người dân trong việc phân
loại, thu gom và xử lý rác thải.Và điều quan trọng nhất là thông qua đề tài
Phần Kết luận và khuyến nghị.
Ngoài 3 phần chính đề tài có thêm các phần phụ như danh mục các bảng
biểu và phần phụ lục (các công cụ thu thập thông tin và hình ảnh minh
họa)
Page 14 of 271
Page 15 of 271
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1: Cơ sở lý luận:
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Về lĩnh vực môi trường
1.1.2 Về lĩnh vực thu gom, phân loại và xử lý rác thải
1.2 . Lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết hành động xã hội
Page 16 of 271
1.2.2 Lý thuyết lối sống
1.2.3 Lý thuyết kiểm soát xã hội
1.3. Các khái niệm
1.3.1/ Nhận thức
1.3.2/ Thái độ
1.3.3/ Ý thức
1.3.4/ Hành vi
1.3.5/ Đô thị
1.3.6/ Môi trường
1.3.7/ Ô nhiễm Môi trường
1.3.7.1/ Ô nhiễm không khí
1.3.7.2/ Ô nhiễm môi trường đất
1.3.7.3/ Ô nhiễm nước
1.3.8/ Rác thải( chất thải)
1.3.9/ Quản lý rác thải
1.3.10/Vệ sinh
và xử lý chất rắn tại nguồn”. Đề tài được thực hiện tại hai địa bàn :
Phường 3, Thị xã Bến Tre và xã Tân Trạch, huyện Châu Thành. Trong đề
tài, tác giả đã đánh giá hiện trạng phân loại, thu gom chất thải rắn trên 2
địa bàn nghiên cứu, cho thấy rằng tình trạng ô nhiễm do rác thải sinh hoạt
còn nhiều phức tạp, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe cộng đồng. Nhưng chưa
có biện pháp xử lý hữu hiệu, nhất là ở những khu vực đông dân cư, chợ,
thị trấn. Việc thu gom, phân loại, xử lý chất rắn tại nguồn còn nhiều bất
cập, khó khăn do ý thức người dân còn thấp, kinh phí đầu tư còn ít.
Thông qua phương pháp nghiên cứu lý thuyết thu thập thông tin, dự báo,
tham khảo ý kiến các chuyên gia kết hợp với phương pháp nghiên cứu
thực nghiệm như tìm hiểu thực địa, tham vấn cộng đồng, liên doanh, liên
kết tập hợp lực lượng và phân tích tổng hợp, xử lý số liệu. Đồng thời, đề
xuất 3 mô hình thu gom, phân loại, xử lý rác sinh hoạt tại nguồn; xử lý
chất thải rắn tối ưu cho cấp thị xã, cấp huyện, cơ sở y tế và mô hình thu
gom, ủ rác thành phân hữu cơ cho hộ gia đình, cơ sở sản xuất kinh doanh.
Trong đó tác giả nhấn mạnh biện pháp nâng cao nhận thức của người dân
trong vấn đề bảo vệ môi trường.
ThS. Hoàng Thị Kim Chi cùng nhóm tác giả: KS. Đào Thị Hồng
Hoa, Ths. Trần Phi Hùng, Ths.Võ Thị Thanh Hương, CN.Trần Nhật
Page 20 of 271
Nguyên, Ths.Lê Văn Thành, CN. Nguyễn Thị Tường Vân trong đề tài
“Các hình thức thu gom rác sinh hoạt trên địa bàn TP.HCM – thực trạng
và các đề xuất bổ sung”. Qua đề tài nhóm tác giả đưa ra các mặt tích cực
và hạn chế của các hình thức thu gom rác tại địa bàn TP.HCM, cụ thể là:
Mức độ thu gom rác thải còn rất hạn chế, khả năng thu gom rác thải của
một số đơn vị có thể bị thu hẹp do việc thực hiện sắp xếp lại theo hướng
cổ phần hóa trong thời gian tới; Số lượng hợp tác xã thu gom rác đã hình
thành còn rất ít; Phần lớn phương tiện thu gom rác không đạt yêu cầu vệ
sinh; Công tác kiểm tra giám sát xử lý các vi phạm về vệ sinh môi trường,
đặc biệt là các vi phạm của người dân và lực lượng thu gom rác chưa
khoa xã hội học trường đại học Mở bán công, 2004 tại quận 12 Tp.HCM.
Ở đề tài này, Tác giả dùng phương pháp định tính và định lượng : thu
thập thông tin, số liệu cụ thể chính xác, có những buổi tiếp xúc, quan sát,
phỏng vấn (bán cơ cấu và không cơ cấu) để hiểu được quan niệm và thái
độ vủa các đối tượng nhằm tìm hiểu và đánh giá thực trạng hệ thống thu
Page 22 of 271
gom rác thải tại Tp.HCM. Tìm hiểu các mặt hoạt động của lực lượng thu
gom rác, vai trò và những khó khăn của lực lượng này. Tìm hiểu đánh giá
về vấn đề thể chế hoá lực lượng thu gom rác thải dân lập: Cụ thể là
nghiên cứu tình hình thực hiện nghị quyết, nghiệp đoàn công nhân vệ
sinh dân lập, định hướng để lực lượng thu gom rác thải hoạt động có tổ
chức, có tư cách pháp nhân. Ngoài ra, đề tài còn đề cập đến vấn đề nhận
thức của người dân và vai trò của họ trong việc xây dựng và bảo vệ một
môi trường sạch đẹp nhưng cũng chỉ là đóng góp một phần nhỏ trong việc
nâng cao nhận thức của người dân hoặc là chỉ mới đứng trên khía cạnh xã
hội mà chưa đi sâu vào thực tế. Vì vậy mà nhóm tác giả nghiên cứu đề tài
này muốn thử nghiên cứu đi sâu hơn vào thực tế trong quá trình thể hiện
nhận thức và thái độ của người dân trong việc phân loại và xử lý rác thải.
Tác giả Tăng Thị Chính trong đề tài “Mô hình xử lý rác thải sinh
hoạt nông thôn tại Hà Tây”, Viện công nghệ môi trường, Viện KH&CN
Việt Nam.
Trong đề tài, tác giả đề xuất mô hình xử lý rác thải sinh hoạt tại xã
Kim Chung, tỉnh Hà Tây, bằng phương pháp đồng tham gia, tác giả kết
hợp với chính quyền địa phương tuyên truyền, vận động cho người dân từ
khâu phân loại, bỏ rác vào thùng đến thói quen đổ rác như ở các thành
phố và đóng góp kinh phí xây dựng trạm xử lý rác cho nông thôn theo
quy trình công nghệ của các nhà khoa học Viện Khoa Học và Công Nghệ
Việt Nam.
Page 23 of 271
Tác giả Vũ Thế Long trong bài viết “ Về tập quán xử lý rác thải
tâm của người dân Tp.Cao Lãnh đối với vấn đề môi trường, đồng thời đề
xuất những giải pháp nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường của người
dân nơi đây.
Nhìn chung, các đề tài trên đã đi sâu vào nghiên cứu, tập trung vào
các hoạt động, chính sách liên quan đến lực lượng thu gom, phân loại rác
thải sinh hoạt, đồng thời đã phần nào đề cập đến nhận thức của người dân
trong việc phân loại thu gom và xử lý rác thải hàng ngày. Tuy nhiên các
đề tài trên chỉ đi sâu vào nghiên cứu về lực lượng thu gom rác, các chính
sách thể chế hoá hay môi trường xanh đô thị nên đóng góp của các đề tài
về nghiên cứu nhận thức, thái độ và hành vi của người dân về ô nhiễm
môi trường chỉ ở mức độ tổng quát và sơ bộ.
Như vậy trong nghiên cứu này nhóm tác giả sẽ kế thừa những
thành quả khoa học từ các cuộc nghiên cứu trước; Đồng thời trong nghiên
cứu sẽ cố gắng đi sâu vào thực trạng thái độ, nhận thức và hành vi của
Page 25 of 271