Phần I : ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Ô nhiễm môi sinh là một trong những mối lo ngại hàng đầu của nhân
loại hiện nay. Và nền kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, dân số tại các vùng
đô thị, trung tâm công nghiệp càng tăng nhanh thì môi trường càng bị đe doạ.
Với tình trạng môi trường sống bị các chất hóa học hay sinh học làm ô nhiễm
gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự sống của muôn loài mà nạn nhân chính so với
vô số nạn nhân của nó là con người và chính con người cũng là thủ phạm gây ra
nó. Và tổ chức y tế thế giới (WHO) đưa ra số liệu: hàng năm có khoảng 5 triệu
người (trong đó có 4 triệu trẻ em) chết vì các bệnh liên quan tới rác trên hành
tinh chúng ta. ở Việt Nam, ô nhiễm do rác gây ra còn nguy hại hơn nhiều quốc
gia khác. Trong khi đó, lâu nay tồn tại tâm lý thờ ơ với những nguy cơ từ rác.
Ở các thành phố, nước thải sinh hoạt đã trực tiếp xả ra nguồn tiếp nhận
như sông, hồ, kênh, mương mà không có hệ thống xử lý tập trung. Mặt khác,
những cơ sở sản xuất chẳng những đã không xử lý nước thải mà ngay cả phần
lớn các cơ sở y tế và bệnh viện vẫn chưa có hệ thống xử lý nước thải. Ngoài ra
còn có một lượng rác thải rắn không nhỏ khác trong thành phố có nguy cơ gây ô
nhiễm đã không thu gom hết được v.v… là những nguồn quan trọng gây ra ô
nhiễm nước. Hiện nay, mức độ ô nhiễm trong các kênh, sông, hồ ở các thành
phố lớn là rất nặng gây ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống con người: ô nhiễm môi
trường gây nên bậnh tật, làm giảm sức khoẻ cộng đồng, chiếm đất đai để chôn
lấp làm bãi rác, làm mất cảnh quan khu dân cư, đô thị…Đến năm 2005 Hà Nội
có hơn 850 nghìn tấn rác thải và đến năm 2020 con số này sẽ lên tới 1 triệu 600
nghìn tấn, đây là dự đoán mà Sở KHCN&MT Hà Nội đưa ra. Con số thực tế lúc
đó nhiều khả năng sẽ còn cao hơn. Người dân chưa có thói quen phân loại rác
thải tại nhà, nếu có ý thức cho rác vào túi mới đi vứt, thì cũng dồn nhiều loại rác
1
vào một túi. Tiền phí dịch vụ thu dọn rác quá thấp so với thực tế, và tất nhiên là
- Phân tích đánh giá mức chi trả cho công tác quản lý rác thải tại địa
bàn nghiên cứu.
- Đề xuất những định hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng
môi trường và quản lý thu gom rác thải tại khu vực.
1.2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề về rác thải ô nhiễm môi trường của khu vực
phường Đại Kim. Chủ đề nghiên cứu trực tiếp là những hộ dân sống tại địa
bàn nghiên cứu.
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung:
Đánh giá mức chi trả cho công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt
tại khu vực phường Đại Kim.
Xây dựng mục tiêu và đưa ra một số giải pháp chủ yếu để giảm thải
mức ô nhiễm môi trường.
- Phạm vi về không gian
Nghiên cứu đánh giá mức chi trả tại khu vực phường Đại Kim - Hoàng
Mai - Hà Nội.
- Phạm vi về thời gian
Đề tài thực hiện dựa vào thu thập tài liệu có liên quan đến các nội dung
nghiên cứu từ năm 2007- 2009.
3
Phần II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số lý luận cơ bản về môi trường và chất thải
2.1.1.1 Khái niệm cơ bản về môi trường
Môi trường là một khái niệm rất rộng, được định nghĩa theo nhiều cách
nhiên” (Điều 1. Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam).
Để thống nhất về mặt nhận thức chúng ta sử dụng định nghĩa theo Luật
bảo vệ môi trường được Quốc hội nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XI, kỳ họp thứ tám thông qua ngày 29/11/2005 định nghĩa: “ Môi trường
bao gồm yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng
tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Ngày nay người ta đã thống nhất với nhau về định nghĩa: “ Môi trường
là các yếu tố vật chất tự nhiên hay nhân tạo, lý học, hoá học, sinh học cùng
tồn tại trong một không gian xung quanh con người. Các yếu tố đó có quan hệ
mật thiết, tương tác lẫn nhau và tác động lên các cá thể sinh vật hay con người
để cùng tồn tại và phát triển. Tổng hoà của các chiều hướng phát triển của
từng nhân tố này quyết định chiều hướng phát triển của cá thể sinh vật của hệ
sinh thái và xã hội con người”.
2.1.1.2 Khái niệm môi trường sống
Đối với các cơ thể sống thì môi trường sống là tổng hợp những điều
kiện bên ngoài như vật lý, hoá học, sinh học có liên quan đến sự sống. Nó có
ảnh hưởng đến đời sống, sự tồn tại và phát triển của các cơ thể sống. Những
điều kiện đó chỉ có trên trái đất, trình độ khoa học hiện nay chưa xác định
được các hành tinh nào khác trong vũ trụ có môi trường phù hợp cho sự sống.
Môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hoá
học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng đến sự sống và
phát triển của từng cá nhân, từng cộng đồng và toàn bộ loài người trên hành
5
tinh. Như vậy, nếu so sánh giữa môi trường sống và môi trường sống của con
người thì môi trường sống của con người đòi hỏi những điều kiện ràng buộc
nghiêm ngặt hơn. Như vậy, trên hành tinh trái đất không gian môi trường
sống của con người cũng bị thu hẹp hơn.
người và sinh vật. Ảnh hưởng của môi trường đối với con người rất đa dạng,
có thể tốt, có thể xấu. Một trong những ảnh hưởng sâu sắc nhất cần được tính
đến đó là những ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người. Các yếu tố gây ô
nhiễm có thể được tích luỹ lâu dài trong môi trường, ví dụ kim loại nặng, dư
lượng thuốc bảo vệ thực vật..., cũng có thể làm lan truyền trong môi trường
mà không được lưu lại như tiếng ồn, độ rung... Như vậy, trên bình diện sức
khỏe, khái niệm “ô nhiễm môi trường” là một khái niệm mềm và mờ, đó
không phải là khái niệm cứng và rạch ròi nên hay gây tranh luận trong cộng
đồng và là một khe hở để người gây ô nhiễm tìm cách trốn tránh trách nhiệm
hoặc kéo dài thời gian điều tra đánh giá mức độ và nguyên nhân ô nhiễm. Để
xác định ô nhiễm môi trường, chỉ có số liệu của những phòng phân tích được
Nhà nước đầu tư và chứng nhận đủ khả năng phân tích mới có cơ sở pháp lý
để yêu cầu trách nhiệm của phía gây ô nhiễm. Những số liệu phân tích của
các phòng thí nghiệm khác không có sự ủy quyền của Nhà nước (ví dụ như
của một số trường đại học, Viện nghiên cứu, Trung tâm nghiên cứu) chỉ có
giá trị cảnh báo và nghiên cứu.
Và khái niệm ô nhiễm môi trường được nhiều nhà khoa học định nghĩa:
Dưới góc độ sinh học khái niệm này chỉ tình trạng môi trường trong đó
chỉ số hoá học, lý học của nó thay đổi theo chiều hướng xấu đi.
Dưới góc độ kinh tế học, ô nhiễm môi trường là sự thay đổi không có
lợi cho môi trường sống về các tính chất vật lý, hoá học, sinh học mà qua đó
có thể gây tác hại tức thời hay lâu dài đến sức khoẻ con người, các động thực
vật hoặc các điều kiện sống khác.
7
2.1.2 Khái niệm về chất thải
Chất thải ra môi trường là các chất thải sau sản xuất hay tiêu dùng của
hoạt động kinh tế được đưa trực tiếp vào môi trường, khi vượt quá khả năng hấp
khách sạn, trạm xăng chủ yếu là đồ ăn thừa, dầu mỡ, giấy báo…
- Cơ quan (trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính…) Rác thải ở
đây giống như rác thải thương mại.
- Xây dựng: các công trình mới, tu sửa từ nhà ở đến công viên, trường học,
bệnh viện, khách sạn chủ yếu là vôi vữa bê tông, gạch, thép, cốt pha…
- Dịch vụ công cộng: rửa đường, rác du lịch (rác công viên, bãi biển,
các danh lam thắng cảnh…)
- Công nghiệp: công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ đều phát sinh ra rác
thải, chất thải như giấy vụn, …
- Nông nghiệp: các hoạt động nông nghiệp cũng là nguồn phát sinh
chất thải như đốt tro, thuốc trừ sâu,…
2.1.3 Phân loại chất thải chất thải rắn
Rác thải được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
+ Theo bản chất nguồn tạo thành, rác thải được phân thành các loại:
9
Bệnh Viện, Trường
học,Cơ quan
Dịch vụ
Công cộng
Người Dân
Rác thải
Xây Dựng
Thương Mại
+ Theo mức độ nguy hại rác thải được phân thành:
- Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hoá chất dễ cháy gây phản ứng
độc hại, chất thải sinh hoạt để thối rữa, các chất dễ cháy nổ hoặc các chất
phóng xạ, các chất nhiễm khuẩn lây lan…có nguy cơ đe doạ sức khoẻ con
người và sinh vật.
- Rác thải y tế nguy hại: là chất thải có chứa các chất hoặc hợp chất
có những đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc có khả năng tương tác với các chất
khác gây nguy hại tới sức khoẻ cộng đồng và môi trường. Theo quy chế quản
lý chất thải y tế, các loại chất thải y tế nguy hại được phát sinh từ các hoạt
động chuyên môn trong các bệnh viện, trạm y tế.
- Rác thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các
chất và hợp chất gây nguy hại trực tiếp và có khả năng tương tác thành phần.
2.1.4 Tác động của rác thải đến môi trưòng
* Rác làm ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất là hậu quả các hoạt động của con người lam
thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn sinh thái của các quần
xã sống trong đất.
Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật
cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn
hóa của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng
11
tài nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung
cấp lương thực thực phẩm cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số
và tốc độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện
tích đất canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái,
diện tích đất bình quân đầu người. Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy
thoái tài nguyên đất là rất đáng lo ngại.
sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bui.
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế
giới chứ không phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang
có nhiều biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật.
Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí
đốt. Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối lượng lớn các chất thải
khác nhau, làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.
Hàng năm có:
- 1,53 triệu tấn SiO2
- Hơn 1 triệu tấn niken
- 700 triệu tấn bụi
- 1,5 triệu tấn asen
- 900 tấn coban
- 600.000 tấn kẽm (Zn), hơi thuỷ ngân (Hg), hơi chì (Pb) và các chất
độc hại khác.
Các chất thải rắn này thường có bộ phận có thể bay hơi và mang theo
mùi làm ô nhiễm không khí. Cũng có chất thải có khả năng thăng hoa và phát
tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp. Cũng có loại rác, trong điều kiện
nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (35 độ C và độ ẩm 70 – 80 %) sẽ có quá trình
biến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật. Kết quả của quá trình là gây ô nhiễm
không khí.
13
*Nước rò rỉ từ bãi rác và tác hại của chúng:
Ở những bãi rác và những đống rác lớn mà trong rác có một lượng
nước nhất định hoặc mưa xuống làm nước ngấm vào rác thì tạo ra một loại
nước rò rỉ. Trong nước rò rỉ chứa những chất hoà tan, những chất lơ lửng,
chất hữu cơ và nấm bệnh. Khi nước này ngấm vào đất làm ô nhiễm môi
chế
Chung chuyển,& vận
chuyển
Tiêu huỷ
Hình 2 : Những hợp phần chức năng của một hệ thống quản lý chất thải
- Hệ thống thu gom và xử lý rác thải
Thu gom ở trong nhà, trong công xưởng, nhà máy sản xuất.
Hệ thống thu gom rác ở bên ngoài bằng các thùng đựng rác và hệ thống
gom rác để đổ vào các xe chở rác. Tuy nhiên hệ thống thu gom rác ở từng
vùng, từng miền, từng nước sẽ khác nhau.
+ Ở Cộng hoà Liên bang Đức người ta thu gom chất thải và rác thải
bằng cách ở mỗi tụ điểm rác, người ta để ba thùng nhựa có bánh xe, mỗi
thùng đựng một loại rác nhất định: giấy vụn, chai lọ thuỷ tinh và các tạp bẩn.
Người xả rác bỏ mỗi loại rác vào một túi nilon mỏng chuyên dụng bán sẵn.
15
Người công nhân thu gom rác có mức lương cao hơn mức lương của công nhân
đi làm ở trong các nhà máy. Các công ty sản xuất vật dụng vệ sinh công cộng, kể
cả các túi đựng rác, được giảm hoặc miễn thuế. Nhà nước bù lỗ nâng đỡ những
nhà máy chế biến rác, làm cho ngành này phát triển để bảo vệ môi trường.
+ Ở Hàn Quốc mỗi hộ gia đình bỏ rác vào một túi nhựa đặc biệt có sẵn,
một loại túi nhựa có khả năng tự huỷ sinh học. Lệ phí thu gom có thể tính vào
trong giá thể tích rác, có thể có chênh lệch lệ phí giữa các vùng dân cư, chênh
lệch này được quyết định bởi chính quyền địa phương.
- Hệ thống vận chuyển rác
trình phân huỷ sẽ bị chậm lại.
+ Ủ yếm khí
Công nghệ ủ yếm khí được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ (chủ yếu quy mô
nhỏ). Quá trình ủ yếm khí này nhờ vào sự hoạt động của các vi khuẩn yếm
khí. Công nghệ này không đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu tốn kém, song nó có
nhược điểm sau:
Thời gian phân huỷ lâu thường 4-12 tháng. Các vi khuẩn gây bệnh luôn
tồn tại cùng với quá trình phân huỷ vì nhiệt độ phân huỷ thấp. Các khí sinh ra
từ quá trình phân huỷ yếm khí là khí mêtan và khí sulphuahydro gây ra mùi
hôi khó chịu.
Mặc dù vậy, phải thừa nhận phương pháp ủ yếm khí là một biện pháp
xử lý rác thải rẻ tiền nhất. Sản phẩm phân huỷ có thể kết hợp rất tốt với phân
hầm cầu và phân gia súc (đôi khi cả than bùn) cho ta phân hữu cơ với hàm
lượng dinh dưỡng cao tạo độ xốp cho đất.
- Đổ thành đống hay bãi rác lộ thiên
Đây là phương pháp cổ điển đã được loài người áp dụng từ rất lâu. Từ
thời Hy Lạp và La Mã cổ đại người ta đã biết đổ rác bên ngoài tường các
thành luỹ lâu đài và ở cuối hướng gió. Cho đến nay phương pháp này vẫn
17
được áp dụng ở nhiều nước khác nhau trên thế giới nhưng phương pháp này
có nhiều nhược điểm sau:
Tạo cảnh quan khó coi, gây cảm giác khó chịu khi con người thấy hay
bắt gặp chúng. Và đống rác thải này là môi trường thuận lợi cho các loài động
vật gậm nhấm, các loài côn trùng, các vi sinh vật gây bệnh sinh sôi, nảy nở
gây nguy hiểm cho sức khoẻ con người. Các bãi rác lộ thiên bị phân huỷ lâu
ngày sẽ rỉ nước tạo nên vùng lầy lội, ẩm ướt và từ đó hình thành các các dòng
nước rò rỉ chảy thấm vào các tầng đất bên dưới, gây ô nhiễm nguồn nước
dạng sinh học cho các đô thị. Nơi đây các thế hệ trẻ có thể học hỏi về thế giới
sinh vật và các vấn đề sinh thái. Tuy nhiên việc hình thành các bãi chôn rác vệ
sinh cũng có một số nhược điểm sau:
Các bãi chôn đòi hỏi diện tích đất đai lớn. Một thành phố đông dân cư
với lượng rác thải lớn thì diện tích đất sử dụng làm bãi chôn càng lớn. Các lớp
đất phủ ở bãi chôn rác thường hay bị gió thổi mòn và phát tán đi xa. Các bãi
chôn thường tạo ra các khi mêtan hoặc khí hydrogen sufide độc hại có khả
năng gây cháy nổ hay gây ngạt. Tuy nhiên người ta có thể thu hồi khí mêtan
làm khí đốt và cung cấp nhiệt cho sinh hoạt.
- Đốt rác
Đốt rác ở đây được hiểu là đốt có sự kiểm soát các chất thải rắn có thể
đốt được. Tuy nhiên nó không chỉ đơn giản là việc đốt một bãi rác ngoài trời.
Đốt rác là một phương pháp được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng. Thông
thường người ta, người ta xây dựng các lò đốt chuyên dụng, nhiệt độ trong lò
có thể lên đến hàng nghìn độ C, có thể đốt cháy cả kim loại, thuỷ tinh…Xử lý
rác thải bằng cách đốt trong lò này có nhiều ưu điểm :
Đốt cháy hay tiêu huỷ các loại côn trùng, sinh vật gây bệnh, các chất
gây ô nhiễm. Diện tích xây dựng các nhà đốt rác thường nhỏ hơn nhiều diện
tích các bãi chôn rác. Các lò đốt có thể làm giảm khối lượng của rác thải từ
80-90%, số tro hay các chất còn sót lại có thể chôn ở bãi chôn thậm chí thải
19
bỏ xuống biển, đại dương. Các lò đốt có thể xây dựng không xa các thành phố
(trong khi các bãi chôn thường phải xây dựng cách khá xa các đô thị) do đó
chi phí vận chuyển rác được giảm đi. Nhiệt phát ra trong quá trình đốt rác
được thu hồi, để cung cấp cho nhà máy hay các khu dân cư đô thị. Các lò đốt
sẽ ít gây ô nhiễm đất, kể cả ô nhiễm không khí nếu được trang bị các thiết bị
xử lý bụi và khí thải. Các lò đốt có thể xử lý được các chất thải rắn có chu kì
giá khác nhau được sử dụng, các phương pháp này cũng được phân loại theo
nhiều cách khác nhau.(hình 3)
Định giá hàng hoá, dịch vụ môi trường
Có giá thị trường
Giá hoàn hảo
Không có giá thị trường
Giá bị bóp
méo
Giá bóng
Có yếu tố thay
thế
Thay thế
trực tiếp
Chi phí thay thế
(RC); giá thay
thế (POS); chi
phí cơ hội (OC);
chi phí vốn con
người (HCA);
giá chi phí (CP)
Không có yếu
chất của hàng hoá, dịch vụ, giá này có thể được biểu hiện trong nền kinh tế, tức
là có giá thị trường và phản ánh giá trị thực của hàng hoá, dịch vụ môi trường.
Tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hoá và dịch vụ môi trường thường
không có giá thị trường hoặc giá cả đã bị bóp méo. Để định giá những ảnh
hưởng của môi trường, người ta có thể dùng sự thay thế trực tiếp, nghĩa là dựa
trên cơ sở ước tính giá cả hoặc sự thay thế gián tiếp. Chẳng hạn như tìm hiểu
giá trị của môi trường tại một khu danh lam thắng cảnh qua vé vào cổng,…
Trong trường hợp không có yếu tố thay thế, buộc ta phải điều tra mức sẵn
lòng trả trực tiếp bằng phương pháp tạo dựng thị trường (CVM).
2.1.7 Lý luận về phương pháp tạo dựng thị trường (Contingent Valuation
Method – CVM) xác định mức sẵn lòng chi trả của người dân về thu gom
và xử lý rác thải
- CVM là một phương pháp cho phép ước lượng giá trị của một hàng
hoá dịch vụ môi trường. Phương pháp này được tiến hành bằng cách hỏi các cá
nhân có liên quan trực tiếp hay gián tiếp tới hàng hoá dịch vụ môi trường.
Những cá nhân được hỏi về mức WTP (Willingneess to pay) của họ cho một sự
thay đổi trong cung cấp hàng hoá dịch vụ môi trường và mức này thường được
thu thập thông qua phiếu điều tra. Về thực chất CVM tạo ra một thị trường giả
định trong đó cá nhân mẫu điều tra được coi như các phần tham gia vào thị
trường có thể sử dụng hay không sử dụng nguồn tài nguyên môi trường.
22
Thông thường với phương pháp này sẽ có hai giả định về sự thay đổi
hàng hóa môi trường. Nếu môi trường được cải thiện hay giảm thiểu, các cá
nhân được hỏi sẽ bằng lòng chi trả cho việc cải thiện đó không và nếu có thì
mức bằng lòng trả là bao nhiêu. Ngược lại, nếu môi trường bị ảnh hưởng thì họ
sẽ có bằng lòng trả để tránh thiệt hại đó hay không và nếu có thì mức bằng lòng
trả là bao nhiêu.
Trong đó: P: xác suất
P(i/i,jєA) chính là xác suất lựa chọn phương án (i) thay vì
phương án (j) trong tập hợp A.
Theo như trên, xác suất mà một cá nhân chọn (i) thay vì (j) tương ứng
với xác suất của độ thoả dụng V đã định cộng với độ thỏa dụng ngẫu nhiên (e)
đối với (i) lớn hơn (j).
Hay nói cách khác, xác suất ngẫu nhiên của một cá nhân từ mẫu điều
tra sẽ chọn phương án (i) tương đương với xác suất mà hiệu số giữa độ thoả
dụng ngẫu nhiên của (i) và (j) nhỏ hơn hiệu số giữa độ thoả dụng đã định của
(i) và (j) nghĩa là:
P(i/i,j єA) = P[(Viq – Vjq) > (ejq – eiq)]
(2.3)
Mức sẵn lòng trả của người được điều tra có thể bị ảnh hưởng bởi các
yếu tố hoặc các biến khác nhau bao gồm: đặc điểm kinh tế xã hội của người
được hỏi như thu nhập (I), trình độ học vấn (E), và một số biến đo lường “số
lượng” của chất lượng môi trường (q) (Hanley và Spash 1993;56). Nói cách
khác mức WTP có thể biểu diễn bằng hàm số của các biến này như sau:
WTP = f(Ii,Ai,Ei,qi)
Trong đó:
(2.4)
i: là chỉ số quan sát hay số người được điều tra
f: Hàm phụ thuộc của mức WTP vào các biến I,A,E,q
I: Là biến thu nhập
A: Là biến tuổi
E: là biến trình độ văn hoá