Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nghiên cứu trong khóa luận là trung thực và chưa từng được ai công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã
được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả khóa luận
1
Lời đầu tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến toàn thể các Thầy, Cô
giáo trong Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, các Thầy, Cô trong Khoa Kinh
tế và Phát triển nông thôn đã trang bị cho tôi những kiến thức cơ bản và có
định hướng đúng đắn trong học tập cũng như tu dưỡng đạo đức để tôi có nền
tảng vững chắc trong học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy TS. Hồ Ngọc
Ninh đã chỉ bảo tận tình, hướng dẫn tôi có những hướng đi cụ thể và đóng
góp cho tôi nhiều ý kiến bổ ích giúp tôi hoàn thành nghiên cứu này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo xã An Đổ và người
dân trong xã đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong quá trình tìm
hiểu và nghiên cứu để tôi hoàn thành nghiên cứu.
Cuối cùng tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn giúp đỡ, chia sẻ và
động viên tạo điều kiện để tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này.
2
Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc tại nhiều
quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Theo thống kê của Viện Môi
trường Nông Nghiệp Việt Nam, mỗi năm tại các khu vực nông thôn ở nước ta
phát sinh trên 13 triệu rác thải sinh hoạt, trong đó có khoảng 1,3 triệu m
3
pháp thống kê mô tả, Phương pháp thống kê so sánh ). (3) Phương pháp tổng
hợp và xử lý số liệu. (4) Phương pháp tạo dựng thị trường CVM, phương
pháp này được sử dụng nhằm đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân
cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt trên địa ban
xã An Đổ và đã đạt được một số kết quả như sau: Đề tài đã hệ thống hóa cơ
sở lý luận và thực tiễn về mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải
sinh hoạt của người dân. Qua quá trình điều tra tìm hiểu đề tài đã đánh giá
được thực trạng thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã và xác định được
mức WTP của người dân cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải
sinh hoạt ở địa phương. Mức WTP trung bình của người dân là 10.367
đồng/người/tháng, trong đó, mức WTP cao nhất là 20.000 đồng/người/tháng,
mức WTP thấp nhất là 3000 đồng/người/tháng mức đóng góp này đúng bằng
mức đóng góp hiện tại đang thu gom ở một số thôn. Nghiên cứu đã phân tích
được các yếu tố ảnh hưởng tới mức WTP của người dân đối với việc cải thiện
chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa phương, các yếu tố ảnh
hưởng đến mức WTP bao gồm: thu nhập, lượng rác, nhân khẩu, nghề nghiệp
( công nhân viên chức và về hưu). Từ kết quả ước lượng hàm hồi quy đa biến
về các yếu tố ảnh hưởng đến WTP cho thấy, trong điều kiện các yếu tố khác
không đổi, khi thu nhập tăng thêm 1 triệu đồng/người/tháng thì mức WTP
tăng thêm khoảng 1123 đồng ở mức ý nghĩa thống kê 1%. Khi lượng rác tăng
thêm 1kg thì mức WTP tăng lên khoảng 1725 đồng ở mức ý nghĩa 1%. Trong
khi đó, khi nhân khẩu tăng thêm 1 người thì mức WTP giảm khoảng 523
đồng và có ý nghĩa ở mức 10%. Điều này phù hợp với những người dân ở
vùng nông thôn vì số tiền cần đóng cho dịch vụ này chia theo tỷ lệ đầu người
4
nên mức mong muốn chi trả sẽ giảm dần theo đầu người trong các hộ. Đối với
những người là công nhân viên chức đang làm việc hoặc đã về hưu thì mức
WTP của họ cao với mức ý nghĩa ở mức 1%. Như vậy kết quả ước lượng của
mô hình hồi quy phản ánh tương tư như kết quả phân tích thống kê mô tả về
các yếu tố ảnh hưởng đến mước WTP của hộ đối với việc cải thiện chất lượng
m
3
Mét khối
UBND Ủy ban nhân dân
WTP Willingness To Pay – sự bằng lòng trả
(S) Đường cung
(D) Đường cầu
PS Thặng dư người sản xuất
CS Thặng dư người tiêu dùng
BVMT Bảo vệ môi trường
TNHH XD- TM & MT Trách nhiệm hữu hạn xây dựng- thương mại và môi
trường
8
-.
/.
0102345676389:6;
Hiện nay ô nhiễm môi trường đã trở thành vấn đề bức xúc tại nhiều
quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Sự phát triển mạnh mẽ của các
ngành công nghiệp đã thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, đời sống người
dân tăng lên. Các nhu cầu thiết yếu của con người cũng tăng vì vậy các nhu
cầu, dịch vụ cũng phát triển, không chỉ ở các khu vực thành thị mà còn cả ở
nông thôn. Nhưng điều này đã trở thành trở ngại lớn cho môi trường, gây ảnh
hưởng trực tiếp tới môi trường sống của người dân. Vấn đề rác thải không chỉ
được Đảng và Nhà nước quan tâm ở các khu vực đông dân, các khu đô thị,
thành phố lớn hay các khu dân cư gần các nhà máy xí nghiệp mà còn ở cả các
vùng nông thôn. Theo công ty khoa học kỹ thuật và môi trường Minh Việt
trung bình 1 người Việt Nam thải ra khoảng 200kg rác thải một năm. Trên
thực tế, việc quản lý và xử lý rác thải mặc dù đã có nhiều tiến bộ, cố gắng
nhưng chưa ngang tầm với nhu cầu đòi hỏi. Hiện nay, ở khu vực đô thị mới
chỉ thu gom đưa đến bãi chôn lấp tập trung đạt khoảng 60-65%, còn lại rác
khó khăn. Lượng rác thải sinh hoạt của người dân tăng vượt mức so với chỉ
tiêu (Theo Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, 2014).
Xã An Đổ huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam là khu vực nông thôn với việc
sản xuất nông nghiệp là nguồn thu nhập chính của người dân trong xã. Những
năm gần đây, đời sống của người dân tăng cao lượng rác thải sinh hoạt mỗi
ngày của người dân cũng tăng lên rất nhiều. Để xử lý lượng rác sinh hoạt của
gia đình, người dân đã tự tiêu hủy thông qua hình thức chôn lấp hoặc trưc tiếp
vứt rác xuống các sông, ao hoặc vứt trực tiếp trên đường, điều này đã gây
nguy hại rất lớn cho môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của
người dân trong xã.
Được sự quan tâm của các cấp chính quyền, năm 2013 xã đã tiến hành
10
xây dựng ba điểm tập trung rác thải sinh hoạt, mỗi điểm rộng khoảng 30m
2
và
tiến hành thu gom 2 lần/tháng. Tuy nhiên, việc thu gom rác thải này đã không
đảm bảo được lượng rác thải sinh hoạt được thu gom hết, nhiều người dân
không chờ được tới khi thu gom rác thải nên đã tự tiêu hủy lượng rác thải của
gia đình mình theo nhiều phương thức khác nhau. Lượng rác thải sinh hoạt để
quá lâu và quá nhiều dẫn đến tình trạng môi trường trong xã bị ô nhiễm.
Trước tình hình đó, một vấn đề cấp thiết đặt ra là cần phải tiến hành thu gom
rác thải sinh hoạt thường xuyên và liên tục, mỗi ngày một lần để đảm bảo môi
trường và sức khỏe cho chính người dân trong xã.
Vậy thực trạng thu gom rác thải của người dân trong xã đã diễn ra như
thế nào? Những yếu tố nào tác động ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng chi trả
của người dân đối với việc thu gom rác thải thường xuyên, liên tục? Giải pháp
nào phù hợp để tăng số hộ sử dụng dịch vụ thu gom rác thải thường xuyên?
Để giải quyết những vấn đề này tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác định
mức sẵn lòng chi trả cho cải thiện chất lượng dịch vụ thu gom rác thải
sinh hoạt của người dân xã An Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam”.
tố ảnh hưởng tới mức độ sẵn lòng chi trả của người dân trong xã đối với dịch
vụ thu gom rác thải và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng
dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa phương.
: Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã An
Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.
: Số liệu thứ cấp phục vụ nghiên cứu của đề tài
được thu thập trong giai đoạn 2012-2014. Số liệu sơ cấp tiến hành thu thập
năm 2015 để phục vụ nghiên cứu.
Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 6 năm 2015.
01GHI>3?
Thực trạng hoạt động và chất lượng dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt
của người dân trong xã An Đỗ đang diễn ra như thế nào?
Xác định mức sẵn lòng chi trả cho dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt
12
của người dân trong xã?
Những yếu tố nào ảnh hưởng tới mức sẵn lòng chi trả của người dân
cho cải thiện dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt ở địa bàn nghiên cứu?
Đâu là những giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả của dịch vụ
thu gom rác thải sinh hoạt của người dân trong xã?
13
-.
%/+)*JK
<101LMNOPOQD:F?3MROS36TU
2.1.1 Khái niệm về mức sẵn lòng chi trả theo lý thuyết kinh tế học
a !"#$
Theo David Begg (2009), cầu của người tiêu dùng về một hàng hóa
được định nghĩa như là mối quan hệ tồn tại giữa giá cả và lượng cầu của hàng
hóa tại một thời điểm. Mọi điểm trên đường cầu (D) của hàng hóa biểu diễn
quan hệ giữa giá cả và lượng cầu tương ứng thể hiện tất cả các mức độ sẵn
sàng trả tiền của người tiêu dùng đối với hàng hoá đó. Giá cả và lượng cầu
O Q
1
Q
2
Q
%&'"#$'"()*+
Xem xét sản phẩm A có đường cầu (D) và đường cung (S) như hình 2.
Tại điểm cân bằng thị trường M là điểm cắt của đường cung và đường cầu,
mức giá cân bằng thị trường của sản phẩm A là P
*
và sản lượng cân bằng thị
trường là Q
*
.
14
Như vậy, khi số lượng hàng hóa tiêu
thụ tăng lên, sự sẵn sàng trả tiền của
người tiêu dùng cho mỗi đơn vị hàng
hóa mua thêm sẽ giảm xuống. Điều
này hoàn toàn phù hợp với quy luật về
hữu dụng cận biên giảm dần .
V<1<WZ[B6>[\D;6Z[BMU]46
P
P
1
(S)
%
P
*
M
MQ
*
. Chi phí thực tế bỏ ra để mua Q
*
sản phẩm A là diện
tích hình P
*
MQ
*
O. Lợi ích ròng mà người tiêu dùng nhận được khi sử dụng
sản phẩm A là diện tích tam giác P
*
MP
1
. Lợi ích ròng này chính là thặng dư
tiêu dùng. Thặng dư tiêu dùng là sự chênh lệch giữa lợi ích của người tiêu
dùng nhận được khi tiêu dùng hàng hóa và những chi phí thực tế để có được
lợi ích đó.
3.43(56738)9:6;<<=3
Người tiêu dùng thường chi tiêu cho sản phẩm A họ muốn tiêu dùng
với mức giá thị trường là P
*
. Tuy nhiên, tùy thuộc sở thích tiêu dùng của cá
nhân người tiêu dùng, họ chấp nhận chi tiêu với mức giá cao hơn giá thị
trường để có được sản phẩm A. Tại hình 2, mức giá cao nhất người tiêu dùng
chấp nhận bỏ ra để mua sản phẩm A là P
1
. Như vậy, mức sẵn lòng chi trả
(WTP) chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng, là thước đo sự thỏa mãn của
khách hàng. Người tiêu dùng mua Q
+SP
*
MP
1
Trong đó:
SOP
1
MQ
*
: là diện tích hình OP
1
MQ
*
thuộc miền nằm dưới đường cầu,
biểu thị tổng giá trị mức sẵn lòng chi trả của người tiêu dùng.
SOP
*
MQ
*
: là diện tích hình OP
*
MQ
*
, biểu thị chi phí tính theo giá thị
trường của sản phẩm.
SP
*
MP
1
các dạng vật chất và phi vật chất) tác động đến sự tồn tại và phát triển của
sinh vật.
Đối với cuộc sống của con người, môi trường bao gồm toàn bộ các hệ
thống tự nhiên, các hệ thống do con người tạo ra và các điều kiện kinh tế - xã
hội tác động đến sự sống và phát triển của từng cá nhân, từng cộng đồng và
toàn bộ loài người trên hành tinh.
Theo điều 3 luật Bảo vệ môi trường, 2014, môi trường được hiểu như
sau: “ Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác
động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”.
Theo UNEP: “ Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh
học, kinh tế, xã hôi, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng”.
Theo Masn và Langenhim, 1957: “ Môi trường là tổng hợp các yếu tố
tồn tại xung quanh sinh vật và ảnh hưởng đến sinh vật”.
Theo Joe Whiteney, 1993: “ Môi trường là tất cả những gì ngoài cơ thể,
có liên quan mật thiết và có ảnh hưởng đến sự tồn tại của con người như: đất,
nước, không khí, ánh sáng mặt trời, rừng, biển, tầng Ozone, sự đa dạng sinh
17
học về các loài”.
2>?B8"
Theo Trịnh Xuân Báu, 2012, ô nhiễm môi trường đã và đang là hiểm hoạ
đối với sinh giới và con người trên trái đất. Nguyên nhân của ô nhiễm chủ yếu
là do các hoạt động sinh hoạt và sản xuất của con người.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi
trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi
trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ con người, đến sự phát
triển của các hệ sinh thái hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác
nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải),
rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng
năng lượng như nhiệt độ, ánh sáng mặt trời, bức xạ
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm
ứng. Dù người dân có tiền hoặc có nhận thức tốt thì cũng sẽ không chi trả cao
cho một dịch vụ không tốt. Người xưa đã có câu “Tiền nào của đấy” điều này
hoàn toàn đúng với mọi dịch vụ và không ngoại lệ với dịch vụ thu gom rác
thải. Hình thức chi trả thuận tiện hay làm cho người dân tin tưởng người thì
người dân sẽ yên tâm hơn khi đóng góp.
<1<LMN6^36
2.2.1 Kinh nghiệm phân loại và thu gom rác thải sinh hoạt có hiệu quả ở
một số nước trên thế giới
Theo Tiến sỹ kinh tế Nguyễn Minh Phong và Thạc sỹ kinh tế Lê Huỳnh
Mai, Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế- xã hội Hà Nội, tạp chí số
18(1+2/2008) đã chỉ ra một số kinh nghiệm thu gom rác thải của một số nước
trên thế giới, trong đó có Singapore và Nhật Bản
a) >?:83)3C?D)EFG:89
Singapore là nước đô thị hóa 100% và được coi là đô thị sạch nhất thế
19
giới. Để làm được điều này, Singapore đã đầu tư cho công tác thu gom, vận
chuyển và xử lý rác đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật nghiêm khắc
làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn. Rác thải ở Singapore được thu
gom và phân loại bằng túi nilon. Các chất thải có thể tái chế được đưa về các
nhà máy tái chế lại, còn các chất thải khác được đưa về các nhà máy để thiêu
hủy
Singapore có hai thành phần tham gia chính vào thu gom và xử lý rác
thải: tổ chức thuộc Bộ Khoa học công nghệ và môi trường và các công ty tư
nhân. Tổ chức thuộc Bộ Khoa học công nghệ và môi trường chủ yếu thu gom
rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và các công ty. Còn hơn 300 công ty tư
nhân chuyên thu gom và xử lý rác thải công nghiệp và thương mại, nhiều năm
qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác thải rất hiệu quả. Tất cả các công ty
này đều được cấp giấy phép hoạt động và chịu sự giám sát, kiểm tra trực tiếp
của Sở khoa học công nghệ và môi trường. Việc thu gom rác được tổ chức
đấu thầu công khai cho các nhà thầu. Công ty trúng thầu sẽ thực hiện công
Do chính phủ Nhật Bản khuyến khích tận dụng nguồn tài nguyên từ rác
thải tái chế, nên dù mỗi năm thải ra khoảng 55-60 triệu tấn rác, nhưng từ năm
1991 chỉ khoảng 5% trong số đó phải đưa tới bãi chôn lấp, còn phần lớn được
đưa đến các nhà máy tái chế.
Nhà nước cũng khuyến khích người dân sử dụng rác như một nguyên
liệu sản xuất. Chính phủ từng hỗ trợ 30USD/máy để người dân mua máy tự
xử lý rác thải hữu cơ làm phân composit bón cho cây trồng. Những loại chất
thải không tái chế được và có hại cho môi trường thì sẽ được xử lý vào việc
lấn biển.
Từ những kinh nghiệm của Singapore và Nhật Bản có thể rút ra một số
kinh nghiệm cho việc thu gom và xử lý rác thải ở xã An Đổ huyện Bình Lục
tỉnh Hà Nam để có thể đạt được những kết quả tốt như:
21
Xây dựng quy chế quản lý tốt nhằm huy động sự tham gia của cộng
đồng trong quản lý rác thải ở nông thôn
Khuyến khích người dân tham gia vào quá trình thu gom, phân loại rác
thải sinh hoạt và có các biện pháp chế tài trong quản lý rác thải ở nông thôn
Đưa ra các cơ chế nhằm hỗ trợ phát triển các tổ chức dịch vụ môi
trường nông thôn
Nâng cao năng lực quản lý của địa phương bằng cách thực hiện việc
phân công trách nhiệm quản lý nhà nước giữa các cấp trong quản lý chất thải
nông thôn
Tuyên truyền và phổ biến về quyền hạn, trách nhiệm của công đồng
trong quản lý rác thải, đồng thời huy động mọi nguồn lực đóng góp về mặt tài
chính và nhân lực
Xây dựng và thực hiện các chương trình tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật,
hướng dẫn tổ chức dịch vụ, kỹ năng giám sát cộng đồng dân cư trong quản lý
rác thải sinh hoạt ở nông thôn.
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý rác thải sinh hoạt của một số địa phương ở Việt
Nam
do phương tiện vận chuyển và con người không đủ, tình trạng ô nhiễm môi
trường ở các bãi rác trung chuyển trong thành phố không được xử lý, rác thải
chỉ được thu gom và chôn lấp chứ không được xử lý dẫn đến tình trạng quá
tải ở các bãi chôn lấp gần thành phố gây ô nhiễm và tạo ra phản ứng trong
nhân dân; để giải quyết vấn đề này ngân sách địa phương lại phải tiếp tục hỗ
trợ để đầu tư xử lý một phần các bãi chôn lấp tránh ảnh hưởng môi trường và
đầu tư xây dựng các bãi chôn lấp mới.
Đến năm 2002 Công ty TNHH XD - TM&SX Nam Thành đăng ký dự
án đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải trên địa bàn bằng nguồn vốn doanh
nghiệp. Ngoài việc chỉ đạo các ngành tạo điều kiện cho nhà đầu tư hoàn thành
các thủ tục đầu tư, đền bù giải phóng mặt bằng UBND tỉnh còn chỉ đạo ngành
xây dựng tham mưu đề xuất mô hình quản lý và thu gom rác thải trên địa bàn
23
để khai thác và đáp ứng mục tiêu của dự án. Sau một năm tập trung, nhà máy
xử lý rác thải được xây dựng hoàn thành, công tác thu gom và xử lý rác thải
cũng đã được SXD tham mưu UBND tỉnh chuyển đổi mô hình theo hướng:
chuyển toàn bộ bộ phận quản lý thu gom rác thải của Công ty Công trình đô
thị từ doanh nghiệp nhà nước sang Công ty Cổ phần; toàn bộ hoạt động thu
gom xử lý rác thải giao cho Công ty Nam Thành đảm nhận, tỉnh thanh toàn
chi phí thu gom rác thải cho Công ty Nam Thành thông qua hợp đồng thỏa
thuận với UBND các huyện thành phố.
Hình thức thu gom: Công ty Nam Thành thu gom rác ở các trục đường
chính; UBND các Phường tổ chức thu gom rác tại các trục đường phụ, hẻm
theo các đội, rác thu gom không cần phân loại, thu gom bằng phương tiện phổ
thông xe đẩy, thu gom theo giờ nhất định mỗi ngày 2 lần, sau đó đưa về các
điểm tiếp nhận rác tập trung theo giờ ấn định và được Công ty Nam Thành tổ
chức thu gom theo quy trình “không tiếp đất”. Kinh phí cho hoạt động thu
gom của các đội này được lấy từ nguồn thu phí thu gom rác của các hộ gia
đình. Hoạt động của nhà máy xử lý rác thải Nam Thành có thể nói là một
trong những nhà máy xử lý rác hiệu quả nhất hiện nay. Biên chế nhà máy có
lệ chôn lấp chiếm chỉ từ 5-10% (sản phẩm chôn lấp chủ yếu là đất cát, xà bần),
biến rác thải từ cái bỏ đi thành những sản phẩm có ích cho xã hội, đã không
những giải quyết xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm tại các điểm thu gom tập
trung trong đô thị, ô nhiễm từ các núi rác thải của bãi chôn lấp do quá tải mà
còn tạo ra các sản phẩm có ích cho môi trường, tăng thu ngân sách địa phương
(Phạm Văn Hậu, 2012).
%2&A38:83)(:EJ
Sau hơn một năm thực hiện Quyết định (2013) của UBND tỉnh Hà Nam
về "Quy định công tác tổ chức quản lý, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải
sinh hoạt trên địa bàn tỉnh", khối lượng rác thải trên địa bàn tỉnh được thu
25