BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------------
PHẠM VĂN NAM
XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA HỘ GIA ĐÌNH CHO
DỊCH VỤ THU GOM RÁC THẢI SINH HOẠT Ở THÀNH PHỐ
QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chi Minh- năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-----------------------------------------
PHẠM VĂN NAM
XÁC ĐỊNH MỨC SẴN LÒNG CHI TRẢ CỦA HỘ GIA ĐÌNH CHO
DỊCH VỤ THU GOM RÁC THẢI SINH HOẠT Ở THÀNH PHỐ
QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Quản lý Công
Mã số chuyên ngành: 60340403
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS. NGUYỄN HỮU DŨNG
2.1. Rác thải sinh hoạt ................................................................................................................6
2.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt .................................................................................6
2.1.2. Tác động của rác thải sinh hoạt đối với môi trường và cộng đồng ......7
2.1.3. Quy trình thu gom rác thải sinh hoạt ................................................................9
2.2. Dịch vụ công ....................................................................................................................... 12
2.2.1. Khái niệm dịch vụ công ..................................................................................... 12
2.2.2.
Đặc điểm cơ bản của dịch vụ công .............................................................. 13
2.3. Lý thuyết liên quan.......................................................................................................... 13
2.3.1. Khái niệm tổng giá trị kinh tế ............................................................................ 13
2.4.2. Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM)................................................... 13
2.4.3 Đo lường phúc lợi .................................................................................................... 14
2.5. Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước ................................................ 16
2.5.1. Công trình nghiên cứu quốc tế .......................................................................... 16
2.5.2. Công trình nghiên cứu trong nước .................................................................. 21
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................... 23
3.1. Lựa chọn địa bàn nghiên cứu...................................................................................... 23
3.2. Xây dựng tình huống giả định .................................................................................... 24
3.3. Thiết kế nghiên cứu ........................................................................................................ 24
3.3.1. Quy trình nghiên cứu .................................................................................................. 24
3.3.2. Mẫu nghiên cứu ....................................................................................................... 27
3.3.3. Tiến hành thu thập dữ liệu ................................................................................. 28
3.4. Mô hình nghiên cứu ........................................................................................................ 28
3.5. Phương pháp xử lý số liệu ........................................................................................... 30
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ........................................................................ 33
4.1. Giới thiệu về Công ty cổ phần môi trường đô thị Quy Nhơn ........................ 33
MT
NCĐL
RTSH
TP
TN&MT
UBND
WTP
WTA
: Chất thải rắn
: Chất thải rắn sinh hoạt
: Cổ phần
: Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên(Contingent Value Method)
: Hộ gia đình
: Môi trường
: Nghiên cứu định lượng
: Rác thải sinh hoạt
:Thành phố
: Tài nguyên và môi trường
: Ủy ban nhân dân
: Mức sẵn lòng chi trả(Willing to pay)
: Mức sẵn lòng chấp nhận(Willing to acept)
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Quy định thu phí thu gom rác .............................................................................. 39
Bảng 4.2. Thống kê mô tả mẫu khảo sát .............................................................................. 43
Bảng 4.3 : Thống kê mô tả mẫu khảo sát ............................................................................. 44
Bảng 4.4. VẤN đề quan tâm xử lý rác thải và lệ phí ........................................................ 49
Bảng 4.5. Mức độ sẵn sàng chi trả phí dịch vụ thu gom RTSH ................................... 50
Nhơn là đơn vị trung tâm hành chính của tỉnh Bình Định, sự phát triển kinh tế làm
gia tăng lượng người đến cư trú, kéo theo lượng rác thải ra cũng tăng qua các năm.
Hiện nay, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh khoảng hơn 200 tấn/ngày, dự
báo khối lượng chất thải sinh hoạt (RTSH) phát sinh đến năm 2020 là 400 tấn/ngày
(Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định, 2015) sẽ tạo áp lực lớn cho công tác
thu gom, vận chuyển và xử lý, hiện tại RTSH chỉ mới được thu gom trong khu vực
nội thị của thành phố và một số chợ .... Việc thu gom rác thải của khu vực dân cư
chưa tốt, vẫn còn tình trạng vứt rác bừa bãi dọc hai bên đường, chợ, bãi biển hoặc
đốt, chưa đáp ứng được yêu cầu vệ sinh môi trường đô thị.
Kinh phí do nhân dân đóng góp không đủ bù đắp cho công tác thu gom, vận
chuyển, xử lý rác, hằng năm ngân sách nhà nước phải cấp bổ sung chỉ riêng cho
công tác thu gom vận chuyển RTSH là hơn 15 tỷ đồng. Khu vực nhà nước hiện
không có đủ nguồn lực để có thể cung ứng đầy đủ và thỏa đáng các dịch vụ công
bao gồm cả dịch vụ thu gom và vận chuyển rác thải, nhất là đối với khu vực dân cư
sống thưa thớt. Hiện tại tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt tại thành phố Quy Nhơn
mới đạt khoảng 85% .
Để từng bước cải thiện môi trường trong khu vực dân cư do RTSH gây ra,
vận động người dân cùng tham gia, tiến tới xã hội hóa dịch vụ thu gom RTSH hộ
gia đình trên cơ sở xác định phí dịch vụ một cách thỏa đáng, tác giả chọn đề tài:
2
“Xác định mức sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho dịch vụ thu gom rác thải sinh
hoạt ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu đo lường mức sẵn lòng chi
trả và những yếu tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình đối với
dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt và các giải pháp phù hợp nhằm mở rộng mạng
lưới thu gom RTSH tại thành phố Quy Nhơn, tiến tới việc xã hội hóa ngành dịch vụ
này.
không bao gồm: CTR y tế, CTR nguy hại và CTR công nghiệp.
Đề tài chỉ được thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2016 đến
tháng 10 năm 2016.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Nguồn thu thập số liệu
Nguồn số liệu thứ cấp: Số liệu về tình hình quản lý CTR sinh hoạt; quy
hoạch quản lý và xử lý CTR trên địa bàn tỉnh Bình Định ở Công ty Cổ phần môi
trường đô thị Quy Nhơn, UBND thành phố Quy Nhơn, Sở TN&MT tỉnh Bình
Định.
Nguồn số liệu sơ cấp: thu thập thông tin từ 210 hộ gia đình thuộc 21 phường,
xã của thành phố Quy Nhơn.
Phương pháp chọn mẫu: Lấy mẫu phi xác suất theo hạn ngạch (quota
sampling), cụ thể trong 21 phường, xã ở thành phố Quy nhơn sẽ chọn ra 210 hộ để
phỏng vấn.
5.2. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu sau khi được thu thập sẽ kiểm tra tính phù hợp, đơn vị tính, tính đồng
nhất, mức độ chính xác. Sau đó sẽ được mã hóa, nhập dữ liệu, làm sạch dữ liệu
trước khi tiến hành phân tích thông qua phần mềm SPSS 22. Các phương pháp phân
tích như mô hình hồi quy tuyến tính không thể áp dụng được cho các loại biến phụ
thuộc định tính. Theo Ramu Ramanathan (2000), đối với loại biến này, thì mô hình
Logit sẽ rất phù hợp.Để tìm hiểu mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc
lập được đưa vào mô hình nên tác giả đã sử dụng mô hình Binary Logistic để đưa
vào nghiên cứu.
4
6. Đóng góp khoa học của đề tài
Đề tài: “Xác định mức sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho dịch vụ thu gom
rác thải sinh hoạt ở thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định ” có ý nghĩa khoa học và
thực tiễn như sau:
thu thập được từ cuộc khảo sát bao gồm các kết quả kiểm định độ tin cậy và độ phù
và các kết quả thống kê.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Tác giả tóm lược lại những kết quả quan
trọng của đề tài, đặc biệt là mô hình nghiên cứu. Từ đó có khuyến nghị những giải
pháp nhằm làm gia tăng sự hiểu biết của người dân về những tác hại ô nhiễm môi
trường do rác thải sinh hoạt gây ra đến sức khỏe cộng đồng, vẻ mỹ quan đô thị,
nâng cao chất lượng dịch vụ. Qua đó, góp sức cùng nhà nước giải quyết vấn đề môi
trường thông qua việc đóng góp kinh phí, giảm bớt phần nào gánh nặng cho ngân
sách nhà nước.
6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Chương 2 trình bày các khái niệm về rác thải; dịch vụ công; hành vi,
mô hình lý thuyết hành vi người tiêu dùng; phương pháp định giá tiền tệ của
hàng hóa và dịch vụ phi thị trường; phương pháp đánh giá ngẫu nhiên và cách
đo lường WTP. Ngoài ra, để có cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu,
tác giả cũng đã tìm hiểu một số nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài có
liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài.
2.1. Rác thải sinh hoạt
2.1.1. Khái niệm rác thải sinh hoạt
Rác thải là một phần tất yếu của cuộc sống, không một hoạt động nào của
cuộc sống không sinh ra rác. Xã hội ngày càng phát triển, hiện đại thì lượng rác
ngày càng nhiều và dần trở thành mối đe dọa thực sự đối với cuộc sống . Chất thải
được định nghĩa là những vật và chất mà người dùng không còn muốn sử dụng và
thải ra, tuy nhiên trong một số ngữ cảnh nó có thể là không có ý nghĩa với người
này nhưng lại là lợi ích của người khác. Trong cuộc sống, chất thải được hình dung
là những chất không còn được sử dụng cùng với những chất độc được xuất ra từ
tế của từng quốc gia, khả năng thu gom và xử lý rác thải, mức độ hiểu biết và nhận
thức của mỗi người dân. Rác thải nếu không được thu gom và xử lý một cách kịp
thời sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Thứ nhất, đối với môi trường không khí: Nguồn rác thải từ các hộ gia đình
thường là các loại thực phẩm chiếm tỷ lệ cao trong toàn bộ khối lượng rác thải ra.
Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm và mưa nhiều ở nước ta là điều kiện thuận lợi cho các
thành phần hữu cơ phân huỷ, thúc đẩy nhanh quá trình lên men, thối rữa và tạo nên
mùi khó chịu cho con người. Các chất thải khí phát ra từ các quá trình này thường là
H2S, NH3, CH4, SO2, CO2.
Thứ hai, đối với môi trường nước: Theo thói quen nhiều người thường đổ rác
tại bờ sông, hồ, ao, cống rãnh. Lượng rác này sau khi bị phân huỷ sẽ tác động trực
tiếp và gián tiếp đến chất lượng nước mặt, nước ngầm trong khu vực. Rác có thể bị
cuốn trôi theo nước mưa xuống ao, hồ, sông, ngòi, kênh rạch, sẽ làm nguồn nước
mặt ở đây bị nhiễm bẩn. Mặt khác, lâu dần những đống rác này sẽ làm giảm diện
8
tích ao hồ, giảm khả năng tự làm sạch của nước gây cản trở các dòng chảy, tắc cống
rãnh thoát nước. Hậu quả của hiện tượng này là hệ sinh thái nước trong các ao hồ bị
huỷ diệt.
Thứ ba, đối với môi trường đất: Trong thành phần rác thải có chứa nhiều các
chất độc, do đó khi rác thải được đưa vào môi trường thì các chất độc xâm nhập vào
đất sẽ tiêu diệt nhiều loài sinh vật có ích cho đất như: giun, vi sinh vật, nhiều loài
động vật không xương sống, ếch nhái,…làm cho môi trường đất bị giảm tính đa
dạng sinh học và phát sinh nhiều sâu bọ phá hoại cây trồng. Đặc biệt hiện nay sử
dụng tràn lan các loại túi nilon trong sinh hoạt và đời sống, chúng cần tới 50 – 60
năm mới phân hủy trong đất. Do đó chúng tạo thành các bức tường ngăn cách trong
đất hạn chế mạnh quá trình phân hủy, tổng hợp các chất dinh dưỡng, làm cho đất
giảm độ phì nhiêu, đất bị chua và năng suất cây trồng giảm sút.
Thứ tư, đối với không gian, cảnh quan: Rác thải sinh hoạt nếu không được
Thu gom chất thải rắn bao gồm từ quá trình thu gom từ các hộ gia đình, các
công sở, nhà máy cho đến các trung tâm thương mại,... cho đến việc vận chuyển từ
các thiết bị thủ công, các phương tiện chuyên dùng vận chuyển đến các điểm xử lý,
tái chế.
2.1.3.1. Thu gom sơ cấp
Thu gom sơ cấp là hình thức thu gom từ nơi phát sinh đến thiết bị gom rác
của thành phố, đô thị,... Giai đoạn này có sự tham gia của người dân và có sự ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả thu gom. Hệ thống thu gom này chủ yếu là bằng thủ công,
bao gồm thu gom rác đường phố và thu gom rác từ các hộ dân cư. Trong thu gom sơ
cấp có thể có sự phân loại đầu nguồn (rác thải được phân cho vào các thùng chứa
khác nhau) hoặc không có sự phân loại đầu nguồn thông thường rác thải được đổ
chung vào trong một đống. Khi phân loại rác thải thường phân ra các loại cơ bản
sau: (1) Rác kim loại, (2) giấy, (3) thủy tinh, (4) rác thải vườn và (5) các loại khác.
Lợi ích của phân loại tại nguồn: Thuận lợi cho công tác phân loại sau cùng
và đẩy mạnh tái chế chất thải, giảm lượng chất thải, giảm khối lượng chất thải phải
chuyển đến các Bãi rác và nâng cao chất lượng của sản phẩm được tái chế. Tuy
nhiên thu gom có phân loại tại nguồn tốn kém hơn.
10
Thu gom không có phân loại tại nguồn: Nhược điểm của phương thức thu
gom này là rác thải trộn lẫn vào nhau việc phân loại sau này chất thải rất tốn kém
chất lượng tái chế của chất thải bị giảm sút.
Thu gom đối với nhà cao tầng: Thường được thu gom bằng ống đứng, các
ống đứng thường được xây dựng hình tròn hoặc hình chữ nhật, đường kính các ống
thu gom thường 300 - 900mm (trung bình 500 - 600mm)
Hình thức thu gom theo khối xe cơ giới: thu gom chất thải rắn chạy theo lịch
đã được đặt ra từ trước, có thể hàng ngày hoặc vài ba ngày/lần, tuỳ theo khối lượng
chất thải rắn phát sinh. Các xe thu gom cơ giơí dừng tại những điểm quy định và
rung chuông. Các hộ gia đình, cơ quan,.. ở các khu phố xung quanh đó mang túi rác
hoặc các xe rác đẩy tay của nhưng công nhân sau khi thu gom rác ở các khu dân cư,
đường phố sẽ chuyển đến tập trung tại một điểm sau đó xe cuốn ép đến và rác được
chuyển lên xe.
* Hệ thống xe thùng di động
+ Kiểu thông thường
1
T đầu
....
2
3
T về
T đi
Bải chôn lấp, cơ
sở tái chế,...
Bải đổ xe
Tcuối
+ Kiểu thay thùng:
1
T đầu
2
....
Tcuối
2.2. Dịch vụ công
2.2.1. Khái niệm dịch vụ công
Gronroos (1990), dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều
có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tương tác giữa khách hàng và các nhân viên
tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp
dịch vụ, nơi giải quyết những vấn đề của khách hàng. Trong khi đó Kotler và
Armstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể
cống hiến cho khách hàng nhầm thiết lập, củng cố và mở rộng những quan hệ và
hợp tác lâu dài với khách hàng. Kotler (2004) cho rằng: dịch vụ là một hoạt động
hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến việc
chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền
với sản phẩm vật chất.
Dịch vụ công được hiểu là trách nhiệm phục vụ công dân và cộng đồng cũng
như khách hàng. Một số nghiên cứu chất lượng dịch vụ trong các dịch vụ công
(Wisniewski và Donnelly, 1996).Brysland và Curry (2001)sử dụng Thang đo
SERVQUAL trong khu vực công. Theo Gowan et al. (2001), cung cấp dịch vụ
trong lĩnh vực công là phức tạp hơn vì nó không chỉ đơn giản là đáp ứng kỳ vọng
mà còn đánh giá tìm ra những hạn chế ngoài mong đợi, thiết lập các ưu tiên, phân
bổ nguồn lực và công khai những gì đã được thực hiện. Dịch vụ công được hiểu là
13
những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà
Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công
bằng(Barker, Sunita & Kandampully, 2007).
2.2.2. Đặc điểm cơ bản của dịch vụ công
Thứ nhất, việc cung ứng dịch vụ công luôn gắn với thẩm quyền và họat động
trường. “CVM” khác với nghiên cứu thị trường chung là ở chỗ nó đề cập đến một
sự kiện mang tính giả thiết (Phan Thị Giác Tâm, 2008).
Phương pháp CVM bao gồm các cuộc phỏng vấn cá nhân, các cuộc điều tra
bằng thư và các cuộc điều tra điện thoại để biết được mức sẵn lòng trả của người
tiêu dùng về các hàng hóa không có trên thị trường dựa trên một kịch bản giả định
để đo lường các giá trị liên quan đến các hàng hóa không có mặt trên thị trường như
chất lượng nước, săn bắn, sự giải trí, chất lượng không khí và chất thải độc hại.
Xây dựng các công cụ cho điều tra gồm các phương tiện mà dựa vào các
nguyên lý để tìm ra WTP/WTA (sẵn lòng chi trả/bằng lòng chấp nhận) của các cá
nhân. Tiến hành thiết kế câu hỏi, thiết kế mẫu điều ta thực tế, xử lý số liệu và ước
lượng mức WTP.
2.4.3 Đo lường phúc lợi
Theo lý thuyết kinh tế, hàm hữu dụng gián tiếp thường dùng để mô tả mức
hữu dụng tối đa của HGĐ sẽ đạt được do phải chi một phần thu nhập (Y), cho sự
cung ứng của một hàng hóa nào đó từ mức độ hiện nay (E0) đến mức trong tương
lai (E1), và ứng với giá cả hàng hóa nhất định (P). Trong trường hợp nghiên cứu
này, hàng hóa là chất lượng môi trường và nó không có thị trường. Ngoài ra, mức
hữu dụng của HGĐ còn được giả định là phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và xã hội
khác (S) đại diện cho sự ưa thích của HGĐ. (Bateman và cộng sự, 2002; Hanemann,
1994):
U (Y , P, S , E , i )
(2.1)
i là sai số đại diện cho những yếu tố khác của mức hữu dụng mà HGĐ biết, nhưng
nhà nghiên cứu không thể biết (quan sát).
Trong những trường hợp phổ biến thì mức hữu dụng của HGĐ được kỳ vọng
là sẽ đạt được mức cao hơn khi thu nhập tăng và khi giá hàng hóa giảm. Khi gia
tăng cung cấp hàng hóa môi trường sẽ mang lại sự cải thiện môi trường tốt hơn. Khi
phương trình (2.5) mà hộ có thể chi trả bị giới hạn bởi khả năng chi trả của họ - thu
nhập. Biến số thu nhập thích hợp nhất trong trường hợp nghiên cứu WTP là thu
nhập còn lại của HGĐ (Y1) sau khi chi tiêu cho các khoản cần thiết khác (ăn, mặc,
ở, đi lại, giải trí). Nói cách khác là WTP của HGĐ chỉ có thể bằng hoặc thấp hơn
16
thu nhập còn lại của hộ, và phải lớn hơn hoặc bằng zero. Đối với các hàng hóa môi
trường giá trị WTP âm là vô nghĩa, vì nếu hàng hóa đó không mang lại thêm gì cho
mức hữu dụng cho HGĐ thì không cần phải cung cấp.
0 WTP ( E 0 , E 1 , Y , P, S , i ) E (WTP ) i Y
(2.6)
Ký hiệu E trong phương trình (2.6) là giá trị kỳ vọng của WTP. Mô hình 2.6
là mô hình lý thuyết cơ bản để nghiên cứu về WTP của HGĐ trong các nghiên cứu
về CVM, được áp dụng trong nghiên cứu này.
2.5. Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước
2.5.1. Công trình nghiên cứu quốc tế
Margaret và cộng sự (2006), nhiên cứu này thảo luận về các kết quả của một
cuộc khảo sát đánh giá ngẫu nhiên (CV) mà ước tính giá trị mà người dân Metro
Manila đặt trên những cải tiến cung cấp nước, sẽ dẫn đến quản lý tốt hơn của các
lưu vực sông Angat, Ipo, Umiray và La Mesa. Cuộc khảo sát được tiến hành CV với
2232 người được hỏi. Những người này đã được rút ra từ 13 đô thị và thành phố ở
Metro Manila rằng lấy nước từ bốn lưu vực sông. Có hai nhà phân phối nước trong
khu vực: Maynilad Water Services, Inc. và các công ty nước Manila, Inc. Hai phần
ba số người được hỏi đã được kết nối với một trong những nhà phân phối hai nước.
Nghiên cứu cho thấy rằng người dân Metro Manila có một mức độ nhận thức thấp
về lưu vực sông, nhưng có một nắm bắt tốt các vai trò của rừng trong việc duy trì
nguồn cung cấp nước.