Đề tài: “Những mâu thuẫn biện chứng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ” doc - Pdf 14



Đề tài: “Những mâu
thuẫn biện chứng trong
nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam ”

1

a. lời mở đầu Việt Nam - trong công cuộc đổi đã thực sự đem lại nhiều kết quả to lớn, làm
thay đổi bộ mặt đất nớc và cuộc sống nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân
tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của đất nớc ta trên
trờng quốc tế. Nhân tố quan trọng nhất quyết định thành công của sự nghiệp đổi
mới đó là chiến lợc phát triển kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa, đợc khởi xớng từ sau đại hội Đảng lần thứ VI.
Ăng Ghen nói: Sự phát triển của chính trị, luật pháp, triết học, tôn giáo, văn
học, nghệ thuật đều dựa trên cơ sở phát triển kinh tế . Kinh tế là nền tảng vững
chắc cho mọi hoạt động vật chất của con ngời, là yếu tố quan trọng nhất của đời
sống xã hội. So với thế giới, nớc ta vẫn là một nớc đang phát triển, nền kinh tế
còn gặp rất nhiều khó khăn, những tàn d của chế độ tập trung quan liêu bao cấp
vẫn còn tồn tại khá nhiều. Khi chuyển sang cơ chế thị trờng, có sự quản lý của
Nhà nớc, thì ngoài những khó khăn về kinh tế, còn tồn tại những mâu thuẫn
giữa cái cũ và cái mới, kìm hãm sự phát triển. Chính vì thế mà việc nghiên cứu
tìm ra hớng đi đúng đắn cho nền kinh tế, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh đất

thuẫn, khi mâu thuẫn này đợc giải quyết thì mâu thuẫn khác lại hình thành và
cứ nh vậy thế giới vật chất luôn vận động, biến đổi không ngừng.

a) Mâu thuẫn là một hiện tợng khách quan và phổ biến.
Trong quan điểm của triết học Mác thì rõ ràng vật chất tự thân vận động, nó
hoàn toàn không phụ thuộc vào một lực lợng siêu nhiên nào, kể cả con
ngời.Chính vì vậy mà khi thừa nhận mâu thuẫn là nguồn gốc của vận động thì
nó đã bao hàm mâu thuẫn là một hiện tợng khách quan, nó không những không
lệ thuộc vào ý thức của con ngời mà còn chi phối, qui định cả hoạt động thực
tiễn của con ngời.
Mâu thuẫn tồn tại trong tất cả các lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và t duy con ngời.
Trong xã hội, có những mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất,
cơ sở hạ tầng và kiến trúc thợng tầng

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

3

b) Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập
Đối lập là sự khái quát những mặt, những thuộc tính, khuynh hớng phát triển
ngợc chiều nhau, cùng tồn tại bên trong sự vật, hiện tợng và tạo nên sự vật hiện
tợng đó.
Không phải bất kì hai mặt đối lập nào cũng hình thành nên mâu thuẫn. Bởi
chính bên trong sự vật đã có rất nhiều mặt đối lập, chỉ có những mặt đối lập nào
thống nhất với nhau nh một chỉnh thể mới tạo thành mâu thuẫn.
Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nơng tựa vào nhau là điều kiện tồn tại
của nhau. Nếu thiếu một trong hai mặt đối lập chính tạo thành sự vật thì không
tồn tại sự vật đó. Bởi vậy, sự thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện không
thể thiếu trong bất kì sự vật hiện tợng nào.

hớng phát triển trái ngợc nhau. Khi mâu thuẫn này đợc giải quyết thì sự vật
mới ra đời kéo theo mâu thuẫn mới tồn tại trong sự vật đó Cứ nh vậy thế giới
vật chất của chúng ta luôn vận động biến đổi. Với câu nói nổi tiếng của Hêra crít
càng minh chứng rõ điều này: Không ai có thể tắm trên cùng một dòng sông .

2. Vai trò của qui luật mâu thuẫn trong hoạt động thực tiễn của con ngời

Mâu thuẫn là hiện tợng phổ biến, nó tồn tại trong mọi mặt của đời sống xã hội
dới nhiều hình thức khác nhau: mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài,
mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn
thứ yếu, mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng.
Trong hoạt động thực tiễn, mâu thuẫn tồn tại dới nhiều hình thức khác nhau,
việc phân tích mâu thuẫn có ý nghĩa rất quan trọng. Nh chúng ta đã biết, trong
mỗi một sự vật, hiện tợng, không chỉ có một mâu thuẫn mà cùng một lúc có thể
có rất nhiều mâu thuẫn. Việc giải quyết mâu thuẫn là điều tất yếu, nhng không
thể cùng một lúc chúng ta giải quyết đợc tất cả các mâu thuẫn. Chính vì thế mà
phải xác định xem mâu thuẫn nào cần phải giải quyết trớc. Chủ tịch Hồ Chí
Minh nói: Bất cứ địa phơng nào, cơ quan nào, thờng trong một lúc có nhiều
công việc trọng yếu. Trong một thời gian đó, lại có một công việc trọng yếu nhất
và vài ba việc trọng yếu vừa. Ngời lãnh đạo trong địa phơng hoặc cơ quan đó
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

5

phải xem xét kĩ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp
thì làm trớc. Không nên luộm thuộm, không có kế hoặch, gặp việc nào làm việc
ấy, thành thử việc nào cũng là việc chính, lộn xộn, không có ngăn nắp
Ví dụ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội
hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là: Tiến hành cải tổ không theo một trình tự rõ

lại có thể giảm bớt đợc sự chênh lệch giữa giàu và nghèo, giữa thành thị và nông
thôn, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa các vùng của đất nớc Chính vì
vậy mô hình kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa là một đặc trng cơ
bản của nớc ta, nó hoàn toàn khác với mô hình kinh tế thị trờng của các nớc
trên thế giới.
Mô hình kinh tế hiện vật chỉ phù hợp trong thời chiến, lúc đó chúng ta cần tập
trung toàn bộ sức ngời, sức của để phục vụ cho tiền tuyến. Nhng trong thời
bình, mô hình đó tỏ ra không phù hợp và thực chất đó là mô hình phi kinh tế.
Hơn thế, đất nớc ta sau chiến tranh rơi vào trong tình trạng trầm trọng nhất của
khủng hoảng kinh tế xã hội: sản xuất đình đốn, lạm phát tăng vọt, đất nớc bị
bao vây kinh tế, đời sống nhân dân hết sức khó khăn Duy trì mô hình hiện vật,
không những không giải quyết đợc vấn đề hiện có mà nó còn cho thấy rõ khuyết
tật bên trong kìm hãm sự phát triển : nền kinh tế không có động lực, không có
sức đua cạnh tranh, không phát huy đợc tính chủ động sáng tạo của ngời lao
động, của các chủ thể sản xuất kinh doanh, sản xuất không gắn với nhu cầu, ý chí
chủ quan đã lấn áp ý chí khách quan và triệt tiêu mọi động lực và sức mạnh nội
sinh của bản thân nền kinh tế, làm cho nền kinh tế suy thoái, thiếu hụt hiệu quả
thấp, nhiếu mục tiêu của chủ nghĩa xã hội không đợc thực hiện.
Thực tế cho thấy, sự phát triển của thị trờng tự do chen lẫn thị trờng có tổ
chức, sự lẳng lặng vi phạm các qui tắc, các chuẩn mực lúc bấy giờ là những phản
ánh sự bất lực của một cơ chế quản lý cứng nhắc. Đứng trớc tình hình đó, Đảng
đã kịp thời có những chuyển biến, bắt đầu uốn nắn những lệch lạch trong phong
trào hợp tác hoá, công nghiệp hoá đến việc thay đổi thể chế chính sách. Nghị
quyết Trung ơng lần thứ VI đợc đánh dấu nh một cái mốc trong quá trình
chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế: cho sản xuất bung ra, thừa nhận quan hệ hàng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

7



8

nghĩa. Trớc hết phải nói đến điểm xuất phát của ta khi chuyển dịch cơ chế, từ
nền kinh tế yếu kém, mang đậm tính tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hoá
vận hành theo cơ chế thị trờng đòi hỏi phải có sự tích luỹ dồi dào, khoa học
công nghệ phát triển và một nền kinh tế vững mạnh Tiếp theo đó là cơ chế quản
lý của nhà nớc, mặc dù đờng lối của Đảng đặt ra là đúng đắn, nhng việc thực
hiện nó không đồng bộ. Y thức hệ còn cha đợc rõ ràng, tác phong cá nhân yếu
kém Chính những khó khăn trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế thị
trờng, đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn kìm hãm bớc phát triển.

1. Mâu thuẫn giữa lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất là mâu thuẫn cơ
bản trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ
nghĩa.
Trong công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần,
vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, thì vấn đề lực lợng
sản xuất và quan hệ sản xuất là một vấn đề hết sức phức tạp. xét trên phơng diện
triết học, thì lực lợng sản xuất là nội dung, còn quan hệ sản xuất là ý thức, lực
lợng sản xuất là yếu tố động, luôn luôn thay đổi, và là yếu tố quyết định quan hệ
sản xuất. Khi lực lợng sản xuất phát triển đến một trình độ nhất định thì quan hệ
sản xuất lúc này tỏ ra không còn phù hợp nữa và trở thành yếu tố kìm hãm. Để
mở đờng cho lực lợng sản xuất phát triển thì cần thay đổi quan hệ sản xuất cũ
bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với lực lợng sản xuất.
Lực lợng sản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng với nhau, nó
là thớc đo để đánh giá sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Ơ Việt Nam, mặc
dù nhà nớc đã có rất nhiều chính sách để cân đối sao cho LLSX QHSX phát
triển song song đồng bộ. Nhng thực tế cho thấy, khi bắt tay vào xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trờng thì LLSX luôn tỏ ra mâu thuẫn với QHSX.
Tính cạnh tranh và năng động là một trong những đặc điểm cơ bản của nền kinh

sách và thủ tục hành chính để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho
phát triển sản xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở
hữu khác nhau. Mọi doanh nghiệp, mọi công dân đợc đầu t kinh doanh theo
hình thức do luật định và đợc pháp luật bảo vệ. Mọi tổ chức kinh doanh theo các
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

10

hình thức sở hữu khác nhau hoặc đan xen hỗn hợp đều đợc khuyến khích phát
triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng và là bộ phận cấu thành quan trọng
của nền kinh tế thị trờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Phát triển mạnh các
doanh nghiệp nhỏ và vừa, từng bớc hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh.
Tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế nhà nớc để thức hiện tốt vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế. Phát triển doanh nghiệp nhà nớc trong những sản xuất và dịch
vụ quan trọng: Xây dựng các tổng công ty nhà nớc đủ mạnh để làm nòng cốt
trong những tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trờng trong
nớc và quốc tế
Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh
của doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nớc kinh doanh sang hoạt
động theo cơ chế công ty trách nhiệm hũ hạn hoặc công ty cổ phần. Bảo đảm
quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của các
doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trớc pháp luật,xoá bỏ bao cấp của nhà nớc
đối với doanh nghiệp.
Thực hiện chủ trơng cổ phần hoá những doanh nghiệp mà nhà nớc không nắm
giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động
thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả.
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng, phát triển hợp tác xã
kinh doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngànhđể sản xuất kinh doanh, dịch
vụ, tạo điều kiện mở rộng qui mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với nền kinh tế

2. Cơ chế thị trờng và những mâu thuẫn xunh quanh nó

Thị trờng là điều kiện tồn tại của nền sản xuất hàng hoá, do vậy kinh tế hàng
hoá càng phát triển thì thị trờng càng đợc mở rộng, ngợc lại, thị trờng càng
đợc mở rộng thì càng thúc đẩy kinh tế hàng hoá phát triển, đó là mối quan hệ
biện chứng gắn bó hữu cơ với nhau. Và xunh quanh mối quan hệ biện chứng đó
là những mâu thuẫn khách quan, tồn tại trong cơ chế thị trờng.
Các bộ phận hợp thành cơ ché thị trờng là :
Giá cả thị trờng: là thứ giá cả hình thành trên thị trờng bởi sự tác động của
các lực thị trờng. Trên mỗi thị trờng, mỗi hàng hoá, dịch vụ đều có một giá
nhất định và toàn bộ những giá cả đó tạo thành hệ thống giá cả thị trờng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

12

Cầu hàng hoá: là số lợng hàng hoá mà ngời mua mong muốn mua và có khả
năng mua theo mức giá nhất định. Nh vậy, để có cầu hàng hoá phải có ba điều
kiện: mong muốn mua, có khẳ năng mua và mức giá.
Cung hàng hoá: là số lợng mà ngời sản xuất hàng hoá mong muốn sản xuất
và có khả năng bán trên thị trờng với giá nhất định. Để có cung hàng hoá cũng
phải có ba điều kiện: mong nuốn sản xuất, có khả năng sản xuất và mức giá. Khi
cung hàng hóa nào đó trên thị trờng vừa bằng cầu về hàng hoá đó, thì mức giá
cả là bình quân.
Cạnh tranh trên thị trờng: cạnh tranh giữa những ngời sản xuất hàng hoá với
nhau theo ba hớng; giá cả, chất lợng và dịch vụ tơng ứng. Cạnh trang giữa
những ngời mua với nhau. cạnh tranh giữa một bên là ngời bán và một bên là
ngời mua. Trên thị trờng không bao giừo có chuyện đơn phơng độc mã mà
là buôn có bạn, bán có phờng.
Bốn bộ phận hợp thành cơ chế thị trờng kể trên có quan hệ mật thiết với nhau,

thất nghiệp, sự phân hoá giàu nghèo giữa các vùng và các bộ phận dân c, và nhất
là không thể tránh khỏi những tệ nạn xã hội do mặt trái của KTTT gây ra.
Thực tế cho thấy, sản phẩm hàng ngoại tràn lan trên thị trờng Việt nam, lấn áp
hoàn toàn hàng hoá trong nớc. Nguyên nhân chủ yếu, đó là do sức cạnh tranh
của nớc ta còn yếu, tâm lý ngời dân muốn dùng hàng ngoại. Mặc dù hàng
ngoại bán trên thị trờng có thể đắt hơn so với giá trị thực của nó, song những
ngời mua hàng luôn có suy nghĩ rằng giữa hàng ngoại và hàng trong nớc luôn
có sự khác nhau cả về chất lợng lẫn mẫu mã của sản phẩm. Một số doanh
nghiệp nhà nớc bị phá sản, phải đóng cửa vì không đủ sức để có thể cạnh tranh
đợc trên thị trờng. Hàng hoá trong nớc không đợc a chuộng, do mẫu mã
cũng nh chất lợng sản phẩm không thể cạnh tranh đợc với hàng ngoại đợc
sản xuất với dây truyền công nghệ hiện đại.

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

14

3. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích xã hội
Trong hoạt động kinh tế, lợi ích là mục tiêu hàng đầu, vì vậy để thực hiện tăng
trởng kinh tế cần phải coi trọng mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể vầ lợi
ích xã hội. Trong nền KTTT, mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội
chẳng những không bị mất đi mà còn có những diễn biến phức tạp hơn. Trớc hết
là phải nói đến u điểm của nền KTTT, nó tạo điều kiện cho mọi cá nhân phát
huy năng lực, trí tuệ, thị trờng đợc tạo ra là một thị trờng tự do, tự do giao
dịch KTTT có sự quản lý của nhà nớc, một mặt nó đảm bảo tính ổn định của
thị trờng, mặt khác nó lại tạo điều kiện tốt cho hoạt động tham nhũng, buôn
lậu của một số ngời lạm dụng chức trách của mình. Mâu thuẫn giữa lợi ích cá
nhân và lợi ích xã hội nếu không đợc giải quyết đúng đắn sẽ biểu hiện thành
những hiện tợng bất công bằng xã hội. Trong mối quan hệ này, nếu lợi ích cá

lối của Đảng khó đi vào cuộc sống. Công tác chỉ đạo, điều hành ở các cấp, các
ngành còn bất cập, thiếu kiểm tra, đôn đốc và cha có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu
lực và hiệu quả cha cao. Nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật và Điều lệ
của Đảng còn cha đợc xử lý thật kiên quyết.
Một số quan điểm, chủ trơng cha rõ, cha có sự nhận thức thống nhất và
cha đợc thông suốt ở các cấp, các ngành. Cải cách hành chínhtiến hành chậm,
thiếu kiên quyết, hiệu quả thấp. Tổ chức bộ máy nhà nớc còn công kềnh, trùng
lặp chức năng với nhiều tầng nấc trung gian và những thủ tục hành chính phiền
hà, không ít trờng hợp trên và dới, trung ơng và địa phơng hành động không
thống nhất, gây khó khăn cho việc phát triển kinh tế xã hội và là giảm động lực
phát triển. Một số ngời và cơ quan do lợi ích cá nhân, cục bộ không muốn đẩy
mạnh cải cách hành chính, cải cách tổ chức bộ máy nhà nớc
Trên đây là những tiêu cực của một số cá nhân có chức quyền và lạm dụng nó
để tiến hành mu lợi riêng cho mình, gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế quốc
dân. Còn đối với các chủ thể sản xuất kinh doanh bất chấp pháp luật để chạy theo
lợi nhuận. Hiện tợng làm hàng giả, hàng lậu vẫn tiếp tục phát triển làm ảnh
hởng đến chất lợng sản phẩm.
Nh vậy, chính mâu thuẫn giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội nảy sinh trong
nền kinh tế thị trờng, càng cho thấy rõ đợc tầm quan trọng trong vai trò quản
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

16

lý của nhà nớc đối với việc phát triển kinh tế. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
những tiêu cực trong xã hội đó là sự quản lý yếu kém, không đồng bộ của nhà
nớc. Chính vì vậy mà trong nghị quyết trung ơng Đảng lần thứ IX, chủ trơng
chỉnh đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong
toàn Đảng, lãnh đạo tổ chức thực hiện, xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nớc
trong sạch, vững mạnh. Cần nhận thức rằng: Đờng lối đúng đắn của Đảng là

ta ra khỏi khủng hoảng và đi vào phục hồi, đẩy mạnh tốc độ tăng trởng, bắt kịp
bớc tiến của thời đại.
Trong những năm qua, KTTT ở nớc ta đã đợc nhân dân hởng ứng rộng rãi và
đi vào cuộc sống rất nhanh chóng, làm cho nền kinh tế sôi động hơn,. Đây là kết
quả đáng mừng và cần đợc phát huy, nó thể hiện sự vận dụng đúng đắn các quy
luật khách quan của xã hội. Quá trình biện chứng đi lên CNXH từ khách quan
đang trở thành nhận thức chủ quan trên qui mô toàn xã hội.
Bên cạnh đó, có một khía cạnh khác cũng cần đợc đề cập đến: KTTT ở nớc ta
hiện nay khônng chỉ tạo điều kiện vật chất để xây dựng và phát huy nguồn lực
của con ngời mà còn tạo ra môi trờng thích hợp cho con ngời phát triển toàn
diện cả về thể chất lẫn tinh thần. KTTT tạo ra sự cạnh trnah và chạy đua quyết
liệt. Điều đó buộc con ngời phải năng động sáng tạo, linh hoạt, có tác phong
nhanh Từ đó nâng cao năng lực hoạt động thực tiễn của con ngời.
Tuy nhiên, cần phải thấy rõ rằng không phải cứ xây dựng đợc KTTT là những
phẩm chất tốt đẹp đó tự hình thành trong con ngời. Có những lúc KTTT không
những không làm cho con ngời ta năng động hơn, tốt đẹp hơn mà ngợc lại, còn
làm tha hoá bản chất con ngời, biến con ngời thành kẻ sùng bái đồng tiền hoặc
kẻ đạo đức giả chỉ biết tôn trọng sức mạnh và lơị ích cá nhân, sẵn sàng trà đạp
lên nhân phẩm, đạo đức Bên cạnh những tác động tích cực, KTTT còn có nhiều
khuyết tật, gây ra những tác động xấu. Quan hệ hàng hoá, tiền tệ làm sôi động thị
trờng, nhng cũng làm sói mòn nhân cách và phẩm chất con ngời. Ngoài ra đi
kèm với nền kinh tế thị trờng là hàng loạt các tệ nạn xã hội: cờ bạc, rợu chè,
ma tuý, buôn lậu, hối lộ, tham nhũng đó là những vấn đề nổi cộm nhất trong
nền KTTT mà không rễ ràng khắc phục.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

18

Những phân tích trên đây cho thấy, KTTT là mục tiêu con ngời XHCN, là một


19

dân, mặt khác, nó tạo ra môi trờng cạnh tranh lành mạnh, thúc đẩy quá trình
công ngiệp hoá - hiện đại hoá đất nớc. Sau đây là năm thành phần kinh tế cơ bản
mà Nhà nớc chủ trơng phát triển:
Kinh tế t bản Nhà nớc: Hiện nay việc nhận thức thành phần kinh tế còn rất
hạn hẹp và rất đơn giản, mặc dù nó chiếm một vị trí rất quan trọng trong cơ cấu
kinh tế của nớc ta. Thành phần kinh tế này rất phát triển, nó bao gồm các loại
hình doanh nghiệp thuộc hình thức sở hữu hỗn hợp. Sau đổi mới cơ cấu thành
phần kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế, đã có một số chuyển biến bớc đầu, một
số xí nghiệp đã vợt qua đợc khó khăn tạo nên thế ổn định, bắt đầu phục hồi và
đi lên. Song những nhân tố đó cha nhiều và những chuyển biến đó cha có cơ sở
vững chắc và lâu dài.
Kinh tế tập thể: dựa trên sở hữu tập thể về t liệu sản xuất. Đây là thành phần
kinh tế tuy trình độ xã hội hoá t liệu sản xuất, tổ chức và quản lý sản xuất còn
thấp hơn kinh tế quốc dân, nhng sản xuất với lợng hàng hoá cung ứngcho sản
xuất và tiêu dùng đời sống xã hội. Trớc biến động có tính bớc ngoặt của nền
kinh tế chuyển sang kinh tế thị trờng, kinhtế tập thể phát triển với nhiều hình
thức hợp tác đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòng cốt. Nhà nớc giúp hợp tác xã
đào tạo cán bộ, ứng dụng khoa học cônng nghệ, nắm bắt thông tin mở rộng thị
trờng, xây dựng các quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã, giải quyết nợ tồn đọng.
Khuyến khích việc tích luỹ, phát triển có hiệu quả vốn tập thể trong hợp tác xã.
Tiếp tục đổi mới và kiệ toàn kinh tế tập thể theo nguyên tắc tự nguyện, dân chủ,
bình đẳng phát huy và kết hợp hài hoà sức mạnh của tập thể và của xã viên. Phát
triển các hình thức hợp tác, đa dạng và mở rộng các hình thức kinh tế tập thể
nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, mua bán, tín dụng ở những nơi cần thiết và có
điều kiện.
Thành phần kinh tế t nhân: Trên thực tế thành phần kinh tế t nhân ở nớc ta
bao gồm: các xí nghiệp t nhân, hộ t nhân và cá thể, tuy nhiên việc phân loại

tông số vốn. Hàng năm thành phần kinh tế này tạo ra khoảng 35 40% GDP và
từ 22 30% thu nhập quốc dân, đóng góp vào ngân sách từ 60 80% số thu của
ngân sách Nhà nớc. Thành phần kinh tế này nắm giữ toàn bộ công nghiệp nặng,
hàng tiêu dùng chiếm tỉ trọng phần lớn những sản phẩm chủ yếu. Trong tất cả các
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

21

thành phần kinh tế, thì thành phần kinh tế này đống vai trò quan trọng nhất trong
nền kinh tế. Tuy đã đạt đợc một số thành tích, song khu vực kinh tế này cha
đảm bảo đợc tái sản xuất giản đơn. Hiện nay, sau đổi mới cơ cấu thành phần
kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế, tuy đã bớc đầu có sự chuyển biến nhng sự
chuyển biến đó cha có cơ sở vững chắc và lâu dài.
Ngoài các thành phần kinh tế nói trên, trong đại hội Đảng lần thứ IX, còn chủ
trơng phát triển thành phần kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài. Thành phần kinh
tế bao gồm phần vốn đầu t của nớc ngoài vào các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở
nớc ta.

b) Mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế

Mâu thuẫn trong các thành phần kinh tế của nớc ta hiện nay đợc biểu hiện
giữa một bên là những lực lợng và khuynh hớng phát triển theo định hớng xã
hội chủ nghĩa với một bên là khuynh hớng tự phát và những lực lợng gây tổn
hại cho quốc tế nhân sinh. Mâu thuẫn cơ bản này quyết định những mâu thuẫn
kinh tế xã hội khác cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong quá trình xây dựng
KTTT. Chính sách phát triển cơ cấu kinh tế nhiều thành phần đòi hỏi có sự
khuyến khích kinh tế t nhân phát triển mạnh mẽ, vì hiện nay sự phát triển đó
còn thấp, cha tơng xứng với tiềm năng hiện có. Trong nền kinh tế nớc ta hiện
nay, các thành phần kinh tế bình đẳng trớc pháp luật, nhng không có vai trò

chủ nghĩa, tồn tại sự đấu tranh giữa hai mặt đối lập đó là tính tự phát và tính tự
giác.
Chúng ta thừa nhận rằng, trong hoàn cảnh đất nớc ta hiện nay thì tính tự phát
vẫn còn là cái cần thiết và không trành khỏi trong việc điều chỉnh các mối quan
hệ giữa sản xuất và tiêu dùng, trong vấn đề giải quyết những khó khăn về việc
làm, trong lu thông hàng hoá Tuy nhiên, nếu để nền kinh tế phát triển chủ yếu
dựa trên tính tự phát thì không thể thực hiện đợc mục tiêu của CNXH. Còn hoạt
động tự giác là hoạt động dựa trên sự nhận thức đúng đắn xu thế tất yếu và quy
luật khách quan của đời sống xã hội, nhng nếu có sai lầm trong nhận thức và
nhất là sai lầm trên bình diện quốc gia thì, thì hậu quả của nó thật khôn lờng.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

23

Trong hoạt động kinh tế cũng vậy, nếu nhận thức sai về quan điểm, đờng lối
phát triển, thì rất dễ rơi vào tình trạng phá sản, thất thoát tài sản quốc gia Việc
giải quyết mâu thuẫn giữa tính tự giác và tính tự phát trong phát triển kinh tế xã
hội là hết sức khó khăn và phức tạp. Không thể một lúc có thể xoá bỏ hoàn toàn
tính tự phát, biến mọi hoạt động của con ngờithành hoạt động tự giác. Phải phát
huy ngày càng cao tính tự giác trên cơ sở nâng cao năng lực nhận thức khoa học
cũng nh năng lực tổ chức, quản lý phối hợp hoạt động trên bình diện xã hội, hạn
chế dần tính tự phát trong mọi lĩnh vực hoạt động của con ngời.

7. Mâu thuẫn giữa lợi ích của ngời lao động và lợi ích của ngời thuê mớn
lao động.

Chúng ta phát triển KTTT trong thời kỳ quá độ tức là chấp nhận tồn tại nhiều
thành phần kinh tế, trong đó có thành phần TBCN, chấp nhận các hình thức sở
hữu và kinh doanh có thuê mớn lao động và có bóc lột sức lao động. Trong khi

hởng không nhỏ cho hoạt động kinh doanh. Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status