KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT TUYẾN TRÙNG BƯỚU RỄ CÂY HỒ TIÊU CỦA CHẾ PHẨM NEMAITB Ở NHÀ LƯỚI VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM TẠI ẤP BẦU TRƯ, XÃ AN BÌNH, HUYỆN PHÚ GIÁO, BÌNH DƯƠNG - Pdf 15

BỘ GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐH KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
O ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP

KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT TUYẾN TRÙNG BƯỚU
RỄ CÂY HỒ TIÊU CỦA CHẾ PHẨM NEMAITB Ở
NHÀ LƯỚI VÀ BƯỚC ĐẦU THỬ NGHIỆM TẠI
ẤP BẦU TRƯ, XÃ AN BÌNH, HUYỆN PHÚ GIÁO,
BÌNH DƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH : CÔNG NGHỆ SINH HỌC
MÃ SỐ NGÀNH : 111 GVHD : Th.S DƯƠNG ĐỨC HIẾU
SVTH : ĐỖ DUY CƯỜNG

1.1.7.1 Thành phần hóa học của hạt tiêu 22
1.1.7.2 Giá trị sử dụng 23
1.2 Khái quát tuyến trùng 23
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu tuyến trùng 25
1.2.2 Phân loại tuyến trùng ký sinh thực vật 26
1.2.3 Tuyến trùng ký sinh thực vật (plant-parasitic nematodes) 26
iii
1.2.4 Hình thái và cấu tạo tuyến trùng thực vật 28
1.2.5 Chu kỳ sống của tuyến trùng 30
1.2.6 Sinh sản và phát triển của tuyến trùng thực vật 33
1.2.7 Sự di chuyển và phát tán của tuyến trùng 34
1.2.8 Các yếu tố ảnh hƣởng lên đời sống tuyến trùng 35
1.2.9 Mối quan hệ giữa nitơ, phospho đối với quần xã tuyến trùng đất 36
1.3 Cơ sở phòng trừ tuyến trùng 37
1.3.1 Phòng ngừa 37
1.3.2 Luân canh 38
1.3.3 Biện pháp canh tác 38
1.3.4 Biện pháp hóa học 39
1.3.5 Biện pháp vật lý 39
1.3.6 Biện pháp sinh học 40
1.3.6.1 Các tác nhân thiên địch 40
1.3.6.2 Chế phẩm sinh học 41
1.3.7 Tác động của compost đến tuyến trùng 43
CHƢƠNG 2 VẬT LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu, hóa chất và trang thiết bị 44
2.2 Phƣơng pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phƣơng pháp xác định độ ẩm 46
2.2.2 Phƣơng pháp xác định pH 47
2.2.3 Xác định độ dẫn điện (EC) 47
2.2.4 Xác định hàm lƣợng chất hữu cơ tổng số theo phƣơng pháp

CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 3 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu

Ngành: Magnoliophyta
Lớp: Magnoliopsida
Bộ: Piperales
Họ: Piperaceae
Chi: Piper
Loài: P. nigrum
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 4 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu Họ Hồ tiêu (Piperaceae) là một họ thực vật chứa trên 2.000 loài được nhóm
trong 9 chi. Chúng là các loại cây thân gỗ nhỏ, cây bụi hay dây leo ở khu vực nhiệt
đới.
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây
khác bằng rễ. Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách. Lá như lá trầu không, nhưng dài và
thuôn hơn. Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh
dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá. Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình
đuôi sóc. Khi chín, rụng cả chùm. Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một
chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu vàng, khi chín có màu đỏ. Từ quả này có
thể thu hoạch được hồ tiêu trắng, hồ tiêu đỏ, hồ tiêu xanh và hồ tiêu đen. Đốt cây rất
dòn, khi vận chuyển nếu không cận thận thì cây có thể chết. Quả có một hạt duy
nhất.
- Rễ: Có 4 loại rễ chính.
+ Rễ cọc: Rễ cọc chỉ có khi trồng bằng hạt. Sau khi gieo, phôi hạt phát
triển, rễ đâm sâu vào đất, có thể sâu 2-2,5 m, nhiệm vụ chính là giữ cây và hút nước
chống hạn cho cây.
+ Rễ cái: Rễ cái phát triển từ hom tiêu (nếu trồng bằng hom). Mỗi hom có
từ 3-6 rễ, nhiệm vụ chính là hút nước chống hạn cho cây trong mùa khô, sau trồng 1

của nách lá ở gần ngọn của thân chính trên những cây tiêu lớn hơn 1 tuổi, góc độ
phân cành lớn hơn 45
0
.
Cành này ngắn hơn cành tược, lóng ngắn, khúc khuỷu và thường mọc
cành cấp 2, nếu lấy cành này nhân giống thì mau cho trái (nhưng tuổi thọ thấp).
+ Dây lươn: Mọc ở gần mặt đất từ những mầm nách lá, mọc dài ra bò trên
mặt đất, thân nhỏ, lóng dài làm tiêu hao dinh dưỡng của thân chính và nhánh ác.
Trong sản xuất người ta thường cắt bỏ hoặc dùng làm hom giâm cành.
- Lá: Lá cây tiêu thuộc lá đơn, hình trái tim, mọc cách. Cuống lá dài 2-3cm,
phiến lá dài 10-25cm, rộng 5-10cm tùy giống.
Lá là một bộ phận dùng để nhận biết giống, trên phiến lá có 5 gân hình lông
chim.
- Hoa: Hoa mọc thành từng gié (chùm) treo lủng lẳng trên cành. Một gié dài
khoảng 7-12cm, trung bình có từ 30-60 hoa trên gié sắp xếp theo hình xoắn ốc, mỗi
hoa có một lá bắc nhỏ nhưng rụng rất sớm khó thấy. Hoa tiêu có thể lưỡng tính hoặc
đơn tính và co thể đồng chu, dị chu hoặc tạp hoa.
Hoa tiêu không có bao, không có đài, có 3 cánh hoa, 2-4 nhị đực, bao phấn có
2 ngăn, hạt phấn tròn và rất nhỏ, đời sống rất ngắn khoảng 2-3 ngày. Bộ nhụy cái
gồm: Bầu noãn có 1 ngăn và chứa 1 túi noãn (tiêu chỉ có 1 hạt).
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 6 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu Từ khi xuất hiện gié đến khi hoa nở đầy đủ khoảng 29-30 ngày. Sự thụ phấn
của hoa không phụ thuộc vào gió, mưa hoăc côn trùng mà phấn của hoa trên thụ cho
hoa dưới của một gié.
Sự thụ phấn của hoa phụ thuộc rất lớn bởi độ ẩm không khí, độ ẩm đất. Đây là
điều cần lưu ý cho việc tưới nước cho vùng trồng tiêu ở miền Đông Nam Bộ.

 Nhóm lá nhỏ (Bangka): lóng ngắn, lá nhỏ, phiến lá dầy,chiều dài phiến 10-15
cm, rộng 5-10 cm. Cành phụ ngắn, đứng, tán hẹp. Mau ra hoa, ra trái sau 2 năm
trồng. Gié bông ngắn (dưới 15 cm) trái to và phân bố không đều trên gié. Lâu cỗi,
tuổi thọ cao trên 30 năm. Không kén đất, đất không tốt vẫn cho năng suất vừa phải.
Năng suất ổn định và ít nhiễm bệnh.
a
b
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 8 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu + Các giống tiêu ở Việt Nam:
Một số giống địa phương: tiêu Quảng Trị, tiêu sẻ, tiêu Di Linh, tiêu Bà Rịa,
tiêu Phú Quốc, tiêu trâu…
 Tiêu trâu: Có 2 loại lá tròn và lá dài, là giống chống chịu điều kiện ngoại cảnh
và sâu bệnh tốt, ít phải chăm sóc, hạt lớn nhưng hạt đóng thưa, năng suất thấp.
 Tiêu sẻ:
 Sẻ đất đỏ: lá nhỏ dài 10-12 cm, rộng 4,5-5 cm, hơi thuôn màu xanh
đậm, chùm quả ngắn, đóng hạt dày năng suất trung bình 2-3 kg tiêu đen/ nọc/năm.
 Sẻ mỡ, sẻ Phú Quốc: lá dạng bầu, chùm quả ngắn hạt lớn, hạt đóng dày
chịu hạn tốt, ít nhiễm bệnh.
 Tiêu Vĩnh Linh: Lá dạng trung bình chùm quả dài hạt đóng dày, năng
suất cao ổn định, chất lượng hạt tốt, thích nghi cao với điều kiện sinh thái của các
tỉnh miền Đông Nam Bộ, dễ nhiễm bệnh chết chậm.
+ Một số giống tiêu nhập nội:
 Tiêu Indonexia (Lada Belangtoeng): được nhập từ đảo Sarawak ở Indonexia
nhập vào Việt Nam năm 1971, lá lớn, dễ trồng, năng suất cao, chất lượng tốt, chống
chịu một số bệnh ở rễ đặc biệt là tuyến trùng, kháng bệnh tiêu điên, bệnh chết nhanh
và bệnh chết chậm khá, phải có thời gian hạn ngắn trong mùa khô mới cho năng suất

gốc. Còn nọc xây chiều cao từ 3-4 m, đường kính đáy 0,8-1,3 m, đường kính đỉnh
0,5-0,7 m, chân móng nọc sâu 0,4-0,5 m (nọc xây gạch). Do nọc xây có đường kính
lớn nên tăng số dây trên nọc (8-12 dây) nên năng suất cao (10 – 20 kg/ nọc) nhưng
chi phí đầu tư lớn, đòi hỏi phải che tủ ở trên để che bóng cho tiêu.
 Mật độ: Tùy theo giống, loại nọc và số dây trên 1 nọc
 Nọc chết: tiêu sẻ khoảng cách 1,8x 2m/1 nọc, 2 dây, trồng được
khoảng 2770 nọc/ha. Tiêu lá lớn thì trồng khoảng 2x2m, 2-3 dây/ nọc, khoảng 2500
nọc/ha.
 Nọc sống: 2 x 2,5m, nọc 3 dây, 2000 nọc/ha. 2,5x2,5 m, nọc 3-4
dây, 1600 nọc/ha.
 Nọc xây: 3 x 3,5m hoặc 3,5 x 3,5m; nọc từ 8-12 dây tùy loại nọc
xây, trồng khoảng 950 nọc/ha hoặc 810 nọc/ha.
1.1.3.3 Đất đai: Tiêu có thể trồng ở nhiều loại đất khác nhau: đất đỏ
Bazan, đất sét pha cát, phù sa bồi, đất xám…nhưng tốt nhất là đất đỏ hoặc phù sa
mới bồi, thoát nước tốt.
Đất dễ thoát nước đặc biệt không úng ngập, mực nước ngầm sâu > 1m.
Đất giàu mùn (trên 2%), tơi xốp, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, giàu dinh
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 10 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu dưỡng, độ pH: 5,5-6,5; đạm (N%) trên 1,5 %; tỉ lệ C/N = 15-20, độ dốc 3- 10 độ
hoặc 20 độ bố trí theo đường đồng nước. Tiêu không chịu được độ mặn 3‰ [8].
1.1.3.4 Các yếu tố khí hậu
- Nhiệt độ: Nhiệt độ thích hợp bình quân cả năm từ 25
o
C – 30
o
C, nhiệt

hữu cơ được sử dụng phổ biến trong nông dân là phân chuồng như phân heo, phân
bò, phân gà… Tùy vào từng vùng trồng tiêu, ở vùng đó có nguồn phân chuồng gì thì
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 11 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu họ sẽ bón phân đó. Gần đây, trên thị trường có xuất hiện phân hữu cơ Komix đã
được trồng thử nghiệm ở một số vùng trồng tiêu và cũng cho kết quả tốt.
 Phân vô cơ
+ Đạm (N): giúp tiêu sinh trưởng phát triển tốt, tham gia vào hình
thành các bộ phận của cây nhiều chồi, giúp phát triển thân lá, ra nhiều hoa, kích
thước trái to. Thiếu đạm lá vàng cây cằn cỗi. Dư đạm lá nhiều, dễ nhiễm bệnh, ít trái.
Bón đạm phải cân đối với các loại phân khác.
+ Lân (P): giúp bộ rễ phát triển tốt, hút được nhiều chất dinh
dưỡng, giúp ra hoa đậu trái tốt, chịu hạn tốt. Thiếu lân cây cằn cỗi ít đậu trái, gân lá
vàng. Lân cần trong giai đoạn cây con và đầu thời kỳ ra hoa.
+ Kali (K): Giúp cây quang hợp tốt, cây cứng chống chịu sâu bệnh
và thời tiết bất thường, tăng phẩm chất hạt. Thiếu kali cây khó hấp thu đạm, rụng
hoa, lá xoăn, bìa lá khô xám ở đầu. Cây cần kali trong giai đoạn cây non, ở giai đoạn
ra trái để hạt vừa chắc và chín.
+ Magiê (Mg): Cây rất cần Mg do đó phải bổ sung thêm Mg bằng
cách tưới Sunfat Mg 1% (1-2 lít/gốc) hoặc phun phân vi lượng qua lá.
+ Canxi (Ca): Rất cần cho cây tiêu sử dụng, phòng chống bệnh…
Hai năm bón thêm 0,5-1kg vôi cho 1 cây. Với trụ xây phải bón nhiều hơn. Định kỳ
2-3 tháng xịt phân bón lá 1 lần.
 Kỹ thuật bón phân
 Lượng phân bón (kg/ha/năm): Lượng phân bón mỗi năm phụ thuộc
vào giống, mật độ và khoảng cách trồng
+ Phân hữu cơ : 10 kg/nọc

gốc cây tiêu lâu, nên chọn đất hơi dốc để dễ thoát nước, đắp mô ở gốc cao lên,mương
thoát nước rộng 0,5-0,7m sâu 0,5-0,7m.
Vùng thấp thì đắp mô cao lên 10-15 cm quanh gốc.
1.1.3.7 Một số yếu tố khác:
- Buộc dây và xén tỉa cành và hoa: Khi tiêu mọc dài được 20-30 cm thì
lấy dây buộc dây tiêu cho dính vào nọc, để nguyên cho cây tiêu bò hết cây nọc, nếu
màu mưa thì 5-7 ngày buộc 1 lần, mùa nắng 10 ngày buộc 1 lần. Sau khi tiêu cao
được 1 m thì cắt chừa khoảng 3-4 đốt để mọc 2 dây mới, nuôi 2 tượt này mọc khoảng
10 mắt thì cắt chỉ còn 4-5 mắt để ra tượt mới. Cắt 4-5 lần thì tạo được khung tán của
tiêu trên nọc. Vào mùa mưa theo dõi tỉa bỏ các dây lươn, cành tược mọc ngoài bộ
khung thân chính, tỉa 2-3 lần, chỉ nuôi cành tược bổ sung khi cần thiết. Từ năm thứ
10 sau khi trồng bắt đầu phát sinh cành ác nhỏ và yếu không mang trái cần theo dõi
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 13 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu dể tỉa bỏ kịp thời. Sau khi cây ra hoa và hình thành trái thường có những đợt hoa ra
trễ (tháng 7-8) cần tỉa bỏ vì nếu không tỉa bỏ thì hoa sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với
trái làm hạt lép và ảnh hưởng đến vụ sau.
- Làm cỏ xới xáo vun gốc: Làm cỏ tạo thành các băng sạch cỏ vào mùa
mưa 1-2 tháng/lần, mùa khô 2-3 tháng/lần. Đầu và cuối mùa mưa cày xới quanh gốc
tránh làm tổn thương đến rễ. Khi làm cỏ xới gốc, chú ý hạn chế tối đa thương tổn hệ
rễ, không xới đất sâu quá, nếu làm đứt rễ sẽ tạo điều kiện cho nguồn bệnh dễ dàng
thâm nhập.
- Hệ thảm trồng vườn: Đây là những cây thân mềm mọc thấp và lan trên
mặt đất, chúng mọc rất nhanh, nhất là sau cơn mưa, dễ trồng và không cần chăm sóc.
Chúng được trồng trong vườn tiêu với mục đích cố định dinh dưỡng cho tiêu (chẳng
hạn như cố định đạm) và chống cỏ dại đở tốn công làm cỏ. Những cây được chọn
trồng như cây đậu dại để cố định đạm rất tốt, cây cúc dại.

- Côn trùng dưới đất:
Gồm mối, dế, sùng trắng là những loại côn trùng rất thường gập ở các vườn
tiêu mới lập trên đất mới khai hoang. Chúng gây hại phần non của rễ, phần vỏ của
thân và tạo vết thương trên các bộ phận này tạo điều kiện cho nấm, tuyến trùng xâm
nhập và gây bệnh cho cây tiêu.
- Tuyến trùng hại rễ:
Là bệnh khá phổ biến ở các vùng trồng tiêu. Có hơn 20 loài trong hang số
hàng ngàn loài tuyến trùng trong đất có thể gây hại cho tiêu. Trùng hại rễ thường là
tuyến trùng nốt sần:Meloidogyne incognita và tuyến trùng đục hang Radopholus
silmilis…, cùng tác động với tuyến trùng còn có một số nấm như Phytophthora
capsici, Fusarium sp, Rhizoctonia bataticola. Tuyến trùng đục lỗ chui vào sống
trong rễ, chích hút dịch cây làm cho cây khô héo và chỗ bị chích hút phình to ra
thành bướu rễ.
Triệu chứng
Cây bị vàng vọt, sinh trưởng kém, năng suất giảm. Cây có triệu chứng vàng
lá giống như suy đạm nhưng khác là không vàng nguyên đám mà chỉ vàng rải rác
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 15 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu từng khoảng nào mà cây bị bệnh. Rễ bị sùng, thối từng điểm, ngắn lại và ít đâm rễ
phụ. Về mùa nắng, cây bị héo nhanh, bộ rẽ suy yếu và dễ bị nấm tấn công.
- Bệnh chết nhanh:
Nguyên nhân gây bệnh
Có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây bệnh chết nhanh và
đều cho rằng bệnh do nấm Phytophthora gây ra. Những nghiên cứu mới nhất của
trường Đại học Tổng Hợp Sydney cho thấy có tới 3 loài nấm Phytophthora tham gia
gây triệu chứng bệnh chết nhanh; đó là Phytophthora capsici, P. nicotianae, P.
Cinnamoni. Trong đó, loài nấm Phytophthora capsici là phổ biến hơn cả ở những

Tác nhân gây bện
Dựa trên các kết quả phân tích trong và ngoài nước cho thấy tuyến trùng ký
sinh (Plant parasitic nematodes) gây thương tổn cho bộ rễ, sau đó nấm Fusarium và
các loài nấm khác ký sinh theo là nguyên nhân gây hiện tượng chết chậm. Ở những
vùng có rệp sáp hại rễ cao và mối gây hại sẽ làm cho triệu chứng của bệnh thêm rõ
ràng và phát triển nhanh hơn.
Triệu chứng
Bệnh chết chậm thường có triệu chứng vàng lá từ từ, nhiều khi cây hồ tiêu bị
bệnh 2 – 3 năm sau mới chết. Cây bị bệnh kém phát triển, năng suất thấp. Bộ rễ cây
thường bị hủy hoại. Tùy thuộc vào từng vùng mà trên rễ có biểu hiện bị thâm đen,
khó khăn trong việc cung cấp nước và dinh dưỡng. Quan sát trên rễ có nhiều mụn u
sưng, vết thâm đen trên rễ cây do tập đoàn tuyến trùng gây ra. Gốc thân, cổ rễ bị
thâm đen, thối khô. Các bó mạch trong thân bị chuyển màu thâm đen. Trong điều
kiện mùa khô rệp sáp gây hại trên rễ cũng gây triệu chứng héo vàng, ở nhiều địa
phương còn xuất hiện con muối tham gia gây hại. Triệu chứng chết chậm biểu hiện
rõ cả trong mùa khô và mùa mưa. Rõ ràng, bệnh chết chậm hay hiện tượng vàng lá
chết cây từ từ là một hội chứng rất phức tạp. Đây là một hội chứng phức hợp do
nhiều nguyên nhân gây ra.
- Bệnh sinh lý:
Thiếu đạm: Thường xảy ra ở giai đoạn sau thu hoạch, lá vàng, vàng cam, ngọn
lá cháy, lá rụng.
Thiếu Kali: Đỉnh lá bị cháy kéo dọc theo rìa lá, lá dòn dễ gãy, phiến lá cong,
dây không chết nhưng năng suất giảm.
Thiếu lân: Cây tăng trưởng chậm lại, cằn cỗi, ít đậu trái.
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 17 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu Thiếu Mg: Phổ biến ở giai đoạn ra hoa và lúc trái già, lá mất màu diệp lục, gân

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 18 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu Năm 2005 và 2006 vấn đề cây vông làm choái tiêu ở Bà Rịa – Vũng Tàu bị
ong gây hại. Ong gây hại trên lá, đọt và đục vỏ làm xập dây tiêu đã gây thiệt hại đáng
kể cho người trồng tiêu. Có rất nhiều loại cây choái khác nhau bao gồm: Vông
(Erythyrina inerana), Lồng mức (Wrightia annamenis), Gòn (Eriodendron
anyracinosum), Cóc rừng (Spondias mangifera), Mít (Atocarpus integrifolia), v.v.
Nhưng trong các cây làm choái này chỉ có cây ong hại và không chỉ có ở Bà Rịa –
Vũng Tàu mà tại Đắc Nông cũng bị. Vì vậy, trong điều kiện hiện nay chỉ có thay thế
cây vông bị ong gây hại bằng các loại choái sống khác phù hợp với điều kiện địa
phương là giải pháp kinh tế nhất.
1.1.5 Tình hình sản xuất và tiêu thụ tiêu trên thế giới và Việt Nam
 Thế giới:
Theo tổ chức FAO, cây tiêu được trồng khắp nơi trên thế giới từ thế kỷ XIX
và hiện nay có 70 quốc gia trồng tiêu.
Năm 1954: thế giới có khoảng 64.000 tấn tiêu hột.
Năm 1978: 160 ngàn tấn tiêu hột.
Năm 1983: 180.000 tấn.
- Sau 1982 sản lượng tiêu trên thế giới giảm dần do sâu bệnh (bệnh tiêu điên)
và thời tiết (ít mưa làm tiêu chết vì thiếu nước và tiêu rụng nhiều) ô nhiễm môi
trường cũng ảnh hưởng lớn đến việc thụ phấn của hoa. Sau 1983 giá tiêu tăng vọt,
đến 1989 – 1990 các nước đổ xô trồng tiêu và diện tích trồng tiêu tăng lên. Các nước
sản xuất nhiều tiêu nhất trên thế giới là Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Brazil,
Madagasca, Srilanka.
- Còn ở các nước Đông Dương, từ thế kỷ XVI đã tìm thấy loại tiêu mọc
hoang trong rừng, sang thế kỷ XVII thì nhập giống tiêu Ấn Độ, Indonesia có năng
suất cao về trồng. Đến thế kỷ XIX, Campuchia là nước trồng tiêu nhiều nhất Đông
Dương. Những năm trước dao động trong khoảng 6.000 đến 7.000 ha nhưng từ năm
1997 đến năm 1998 tăng từ 9.800 đến 11.800 ha tương ứng với năng suất từ 8.000

Tiêu sọ cao nhất là namw giá 6000 USD/tấn, năm 1994 là 3500 – 4000 USD/tấn.
Theo các nhà trồng tiêu thế giới thì cây tiêu vẫn còn có khả năng kinh tế lớn.
Tiêu chuẩn xuất khẩu:
- Ẩm độ hạt: 15%, tốt nhất là 11%.
- Trọng lượng hạt tiêu 480 gam/1 lít hạt.
- Độ tinh khiết 90%, hạt tiêu lép < 2%.
 Việt Nam:
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 20 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu Ở Việt Nam tiêu được du nhập và trồng đầu tiên ở Hà Tiên, Phú Quốc,
Phước Tuy, Bà Rịa. Từ sau 1975 ngành trồng tiêu phát triển mạnh ở Bình Long,
Phước Long (tỉnh Bình Phước). Miền Trung phát triển mạnh ở vùng Khe Sanh
(Quảng Trị). Năm 1965 toàn miền Nam có khoảng 465 ha với sản lượng 605 tấn tiêu
hột và do không chịu được nhiệt độ thấp nên chỉ trồng ở vĩ tuyến 17 trở vào (Quảng
Trị vào). Hiện nay cây tiêu được trồng nhiều ở các vùng như Đăk Lăk, Gia Lai,
Kontum, Bình Thuận, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Bà Rịa – Vũng Tàu cho
đến các tỉnh miền Tây Nam Bộ: Cần Thơ, Sóc Trăng, Kiên Giang (Phú Quốc)… với
khoảng 50.000 ha và sản lượng gần 100.000 tấn.
Cây tiêu Việt Nam có năng suất cao nhất là ở Phú Quốc (8 – 10 kg/nọc
chết/năm), các vùng khác (Bà Rịa, Bình Long…) cao nhất là 6 – 8 kg/nọc chết/năm.
Nếu so với thế giới thì năng suất trồng tiêu ở Việt Nam còn thấp vì:
 Trình độ thâm canh chưa cao ( ngoài kỹ thuật, còn thiếu vốn sản xuất).
 Bệnh tiêu.
 Bón phân mất cân đối (chủ yếu là chỉ bón đạm).
- Các vùng có khả năng phát triển tiêu ở Việt Nam:
+ Đông Nam Bộ: tốt nhất là vùng đất đỏ bazan: Lộc Ninh, Bình Long
(Bình Phước), Bà Rịa, Xuân Lộc (Long Khánh): Do đất đỏ có cơ cấu cụm, thông

(đất không có độ dốc) nên dễ chăm sóc và bón phân ít bị sửa trôi đỡ phải làm bồn.
 Phân bón: Chủ yếu sử dụng phân chuồng ( phân heo, phân bò), một năm
bón 2 lần. Ngoài ra, họ còn sử dụng một số phân hữu cơ khác như Komix, Tân Hồng
Lam, phân NPK…
 Tưới tiêu: chế độ tưới từ 3-5 ngày mới tưới một lần.
 Tình hình sản xuất và sản lượng tại Phú Giáo, Bình Dương:
Theo số liệu cung cấp của trạm Bảo vệ Thực vật huyện Phú Giáo [1] hiện
nay, theo thống kê toàn huyện Phú Giáo có 295 ha, trong đó diện tích trồng mới là 6
ha và diện tích cho sản phẩm (diện tích tiêu kinh doanh) là 287 ha. Năng suất trên
diện tích cho sản phẩm khoảng 24,64 tạ / ha. Sản lượng thu hoạch là 707,2 tấn.
Đối với xã An Bình có 173,67 ha chiếm hơn 58% diện tích của cả huyện, với diện
tích trồng mới là 2 ha, còn diện tích cho sản phẩm là 169,67 ha. Năng suất đạt 24,6
tạ/ ha. Sản lượng thu hoạch 407,2 chiếm hơn 57% sản lượng của cả huyện.
 Tình hình dịch bệnh:
Hiện nay, tại Phú Giáo đang có dịch bệnh chết nhanh và chết chậm, đặc
biệt là bệnh chết nhanh diễn ra ở diện rộng làm cho một số vườn tiêu bị chết sạch dẫn
đến giảm diện tích trồng tiêu, gây thiệt hại kinh tế và gây tâm lý lo sợi cho người
Luận văn tốt nghiệp Tổng quan tài liệu

SVTH: Đỗ Duy Cƣờng 22 GVHD: Th.S Dƣơng Đức Hiếu trồng tiêu làm cho họ có hướng chuyển đổi cây trồng khác như cao su, cây điều, cây
khoai mì. Và diện tích trồng mới để phôi phục diện tích trồng tiêu không cao. Hình 1.3 Một số hình ảnh về bệnh chết nhanh đang diễn ra ở Phú Giáo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status