BỘ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT BƯU ĐIỆN Giới thiệu chuyên đề:
TỔNG KẾT CÁC TIÊU CHUẨN CHO IPTV
Hà nội – 2009
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 2/36
6.6 Open TV Forum 31
6.7 Broadband Services Forum (BSF) 31
6.8 IPDR 32
6.9 ISMA 32
6.10 Nghiên cứu bộ tiêu chuẩn của Châu Âu áp dụng chất lượng dịch vụ cho
IPTV/VoD 32
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 3/36
6.11 Nghiên cứu bộ tiêu chuẩn của Mỹ áp dụng chất lượng dịch vụ cho IPTV/VoD .33
7 Tài liệu tham khảo 36
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 4/36
1 Giới thiệu và lý do lựa chọn chuyên đề
IPTV (Internet Protocol Television) là hệ thống cung cấp dịch vụ truyền hình số
bằng cách sử dụng giao thức IP qua hạ tầng mạng, có thể là thông qua một kết nối
băng rộng. Định nghĩa chung về IPTV là nội dung truyền hình thay vì được truyền đi
thông qua cáp hay quảng bá truyền thống thì sẽ được chuyển đến người xem thông
qua các công nghệ sử dụng cho mạng máy tính.
Không giống như các dịch vụ streaming sử dụng kết nối best-effort trên internet,
IPTV thường được xây dựng dựa trên mạng được quản lý tốt để đảm bảo chất lượng
video. IPTV thường được cung cấp kèm với dịch vụ Video on Demand và có thể
cùng với các dịch vụ Internet như dịch vụ truy cập web và VoIP cho người sử dụng.
Gói các dịch vụ IPTV, VoIP và truy nhập Internet được gọi là dịch vụ “Triple Play”
(nếu bổ sung thêm cho di động thì gọi là “Quadruple Play”). Vì vậy dịch vụ IPTV sẽ
là dịch vụ thiết yếu và quan trọng nhất cho các nhà cung cấp Triple Play đến người sử
CDP
Content Delivery Protocols
DHCP
Dynamic Host Configuration
Protocol
DNS
Domain Name System
DVB
Digital Video Broadcasting
DVB-H
Digital Video Broadcasting -
Handheld
ESG
Electronic Service Guide
EPG
Electronic Program Guide
ETSI
European Telecommunications
Sdandards Institute
FEC
Forward Error Correction
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 6/36
LCT
Layered Coding Transport
MBMS
Multimedia Broadcast/Multicast
Service
MLD
Multicast Listener Discovery
MPEG
Moving Picture Experts Group
MSDP
Multicast Source Discovery Protocol
OASIS
Organization for the Advancement of
Structured Information Standards
PIM
Protocol Independent Multicast
RFC
Request for Comments
TLS
Transport Layer Security
TS
Transport Stream
UDP
User Datagram Protocol
UMTS
Universal Mobile
Telecommunications System
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 7/36
WSBN
Web Services Base Notification 3 Tổng quan về hệ thống cung cấp dịch vụ IPTV/VoD
3.1 Kiến trúc hệ thống
Hệ thống IPTV bao gồm bốn thành phần chính, tất cả các thành phần này là
chung cho bất kỳ kiến trúc hệ thống của nhà sản xuất nào.
Hình 1: Các thành phần của mạng IPTV
Video Head End
Cũng như với hệ thống truyền hình vệ tinh số hay truyền hình cáp, dịch vụ
quang như PON (passive optical network) để kết nối đến khách hàng. Mạng IPTV sử
dụng đường truyền ADSL và VDSL để cung cấp băng thông đảm bảo cho hoạt động
của dịch vụ IPTV đến thuê bao. Nhà cung cấp dịch vụ sẽ thay thế thiết bị (như DSL
modem) tại thuê bao để phân phát kết nối Ethernet đến mạng của khách hàng.
Mạng tại thuê bao
Mạng tại thuê bao cung cấp dịch vụ IPTV đến khách hàng. Có rất nhiều loại
mạng tại thuê bao khác nhau nhưng dịch vụ IPTV yêu cầu băng thông cao tại mạng
của thuê bao. Điểm cuối trong mạng của thuê bao mà TV được kết nối đến là set top
box.
Middleware: bộ cho phép thực hiện dịch vụ IPTV
Thuật ngữ IPTV Middleware được dùng để mô tả các gói phần mềm liên quan
đến việc phân phát dịch vụ IPTV. Có rất nhiều nhà sản xuất thực thi gói phần mềm
này, mỗi nhà sản xuất có cách tiếp cận riêng đối với IPTV. Middleware do nhà cung
cấp dịch vụ sử dụng có thể ảnh hưởng đến kiến trúc của mạng IPTV. Middleware có
kiến trúc client/server điển hình, trong đó client nằm ở STB. Middleware định nghĩa
cách khách hàng tương tác với dịch vụ. Ví dụ giao diện người sử dụng và dịch vụ sẵn
có cho khách hàng sử dụng (như EPG – Electronic Program Guige, VoD hay PPV)
được thực hiện và điều khiển thông qua Middleware.
Tính dễ dàng trong quản lý nhiều dịch vụ là một chức năng của mạng IP hai
chiều. Kiến trúc IP này cung cấp tiêu chuẩn cho các ứng dụng và dịch vụ được tích
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 9/36
hợp vào trong mạng, IPTV chỉ là một dịch vụ trong các ứng dụng này. Nhân tố phân
biệt trong mô hình dịch vụ IP là tính hội tụ.
Bởi vì cấu trúc chung cho các ứng dụng và dịch vụ, tính hội tụ có thể được hiện
thực hóa cho các thành phần mạng, ứng dụng, hệ thỗng hỗ trợ hoạt động (OSS/BSS).
Vì vậy quản lý đa dịch vụ trở thành bài toàn quản lý cùng các dịch vụ qua mạng và
phân bố chúng đến nhiều môi trường người dùng đầu cuối khác nhau.
thể thay đổi góc quay camera. Người xem còn có thể truy nhập vào album ảnh và kho
nhạc trên PC của họ từ màn hình TV, sử dụng điện thoại để đặt lịch ghi lại các
chương trình TV yêu thích. Ngoài ra họ còn có thể sử dụng chức năng giám sát điều
khiển (parent control) để cấm con cái xem một số chương trình TV không phù hợp.
VoD
VoD cho phép khách hàng duyệt một chương trình trực tuyến hoặc một danh
sách các bộ phim để xem qua và sau đó là lựa chọn chúng.
Về mặt kỹ thuật, khi khách hàng lựa chọn một bộ phim, thì một kết nối point-to-
point được thiết lâpự giữa bộ giải mã của khách hàng (Set top box hoặc PC) và server
phân phát luồng nội dung. Báo hiệu về các chức năng như pause,
backward/forward… được đảm bảo bởi giao thức RTSP (Real Time Streaming
Protocol).
Dạng mã hóa chung nhất được sử dụng cho VoD là MPEG2, MPEG4 và VC-1
Để tránh hiện tượng ăn cắp bản quyền nội dung phim thì nội dung của VoD
thờng được mã hóa. Với công nghệ IPTV việc mã hóa được thực hiện hiệu quả thông
qua hệ thống DRM (Digital Rights Management). Với hệ thống này nếu khách hàng
lựa chọn xem phim trong thời gian 24 giờ thì sau 24 giờ nội dung film sẽ không thể
xem được nữa…
Các dịch vụ hội tụ dựa trên IPTV
Một ưu điểm khác của mạng IP là khả năng tích hợp và hội tụ. Các dịch vụ hội
tụ ở đây nói đến khả năng tương tác của các dịch vụ hiện có theo cách trong suốt để
tạo ra các dịch vụ gia tăng mới. Ví dụ là dịch vụ On-Screen Caller ID, nhận Caller IP
trên màn hình TV và khả năng xử lý (gửi đến voice mail…). Các dịch vụ dựa trên IP
sẽ cung cấp khả năng cho khách hàng có thể truy nhập ở bất kỳ đâu, bất kỳ khi nào
đến nội dung thông qua TV, PC hay điện thoại của khách hàng, và khả năng tích hợp
các dịch vụ và nội dung để gắn chặt chúng với nhau.
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 11/36
Thu, điều chế và giải mã nội dung hình ảnh và âm thanh từ các nguồn khác nhau
và sử dụng các thiết bị mã hóa (encoder) để chuyển đổi nội dung này thành các luồng
IP multicast ở khuôn dạng mã hóa mong muốn. Yêu cầu phải có thiết bị đầu cuối cho
việc phát nội dung quảng bá. Thiết bị đầu cuối này có khả năng mã hoá một chuỗi các
hình ảnh theo thời gian thực bằng kỹ thuật nén dùng MPEG-4 Part 10 hoặc H.264.
Hình ảnh mã hoá có thể lấy từ vệ tinh, truyền hình cáp, hệ thống truyền hình mặt đất,
máy chủ video, tape playout, v.v Sau khi mã hoá, các chuỗi (định dạng ASI, SPTS)
truyền MPEG sẽ được đóng gói bằng cách sử dụng IP Streamer. Sau đó sẽ truyền
những chuỗi gói IP bằng cách sử dụng giao thức UDP/IP. Đầu vào của hệ thống
Video Headend là các chương trình truyền hình quảng bá, các kênh truyền hình mua
bản quyền thu từ vệ tinh, các kênh truyền hình cáp, các phim từ các nguồn khác như
tự sản xuất, từ các thiết bị VCD/DVD player, v.v
Hệ thống Middleware
Cung cấp khả năng quản lý thuê bao, nội dung và báo cáo hoàn chỉnh cùng với
các chức năng quản lý EPG và STB, đồng thời vẫn duy trì tính mở cho việc tích hợp
các dịch vụ trong tương lai. Middleware là một giao diện của hệ thống cung cấp dịch
vụ IPTV với người sử dụng, nó xác định danh tính cho người dùng. Hiển thị một
danh sách các dịch vụ mà thuê bao đó có thể sử dụng và trợ giúp lựa chọn dịch vụ
này sau khi đã xác thực danh tính của người dùng. Middleware lưu lại một profile cho
tất cả các dịch vụ. Middleware đảm bảo các hoạt động bên trong của dịch vụ truyền
hình một cách hoàn hảo. Middleware sẽ không giới hạn bất kỳ hoạt động riêng rẽ nào
trong hệ thống, nhưng sẽ giao tiếp trực tiếp với mỗi thành phần được hệ thống hỗ trợ.
Middleware hỗ trợ API cho phép mở rộng các chức năng mới và truyền dữ liệu giữa
các hệ thống.
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 13/36
Hệ thống phân phối nội dung
Bao gồm các cụm máy chủ VoD và hệ thống quản lý VoD tương ứng, cho phép
Trang 14/36
thể hỗ trợ HDTV, có khả năng kết nối với các thiết bị lưu trữ bên ngoài, video phone,
truy nhập web (Walled garden), v.v STB cung cấp các ứng dụng truyền thông và
giải trí. STB sẽ hỗ trợ kết nối giữa thiết bị tivi và mạng điện thoại, cũng như Internet
và thư viện ảnh ảo của nhà cung cấp dịch vụ. Nó có thể giải mã những chuỗi dữ liệu
và hình ảnh đến dựa vào địa chỉ IP, đồng thời thể hiện các hình ảnh này trên TV. STB
sẽ hỗ trợ chuẩn H.264/MPEG-4 Part 10 và phần mềm client Middleware của nó sẽ
được dựa trên một cấu trúc thick client, điều đó có nghĩa là ứng dụng và dữ liệu thể
hiện sẽ lưu trên STB.
4.2 Các yêu cầu đối với các module trong hệ thống cung cấp dịch vụ
IPTV/VoD
4.2.1 Các yêu cầu về việc bảo vệ và quản lý nội dung IPTV
Các yêu cầu chung
Cơ chế bảo vệ IPTV phải linh hoạt và có thể mở rộng.
Cơ chế bảo vệ IPTV có thể hỗ trợ bảo vệ ở nhiều mức: bảo vệ toàn bộ hay chỉ
một số phần của nội dung IPTV.
Cơ chế bảo vệ IPTV phải cho phép nhà sản xuất có cách thực thi riêng. Tức là
cơ chế nào có thể được mô tả theo cách tiêu chuẩn, thông qua cách mô tả
chuẩn này nhà sản xuất có teer có cách thực thi riêng của họ trong khi vẫn phù
hợp với cơ chế bảo vệ đã mô tả.
Cơ chế bảo vệ IPTV có khả năng sử dụng toàn bộ điểm mạnh của mạng do
bản chất của công nghệ IPTV mang lại. Nó có cơ chế để tải về những công cụ
thực thi cơ chế bảo vệ còn thiếu.
IPTV phải có mô hình chỉ ra sự quản lý nội dung. Việc quản lý giúp đầu cuối
IPTV xác định được liệu nội dung đang sử dụng không được bảo vệ hay
không. Cùng với cơ chế bảo vệ, cơ chế quản lý cung cấp một nội dung có bản
quyền hoàn chỉnh.
Cơ chế quản lý cần hỗ trợ nhiều mô hình kinh doanh áp dụng cho nội dung
IPTV (ví dụ mô hình thuê bao, mô hình pay per view …).
Middleware) để nhận và thực hiện nhiều dịch vụ IPTV khác nhau bao gồm các dịch
vụ thời gian thực như VoD, PPV và endhanced EGP để hỗ trợ cách lựa chọn và tìm
kiếm một cách dễ dàng dịch vụ IPTV.
Các yêu cầu đối với DBM
Các dịch vụ cable/satellite/terrestrial hiện có sử dụng các chức năng khác nhau
của middleware để cung cấp dịch vụ. Để hỗ trợ các dịch vụ broadcast hội thoại cần có
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 16/36
các ứng dụng java yêu cầu thông tin AV chất lượng cao. Vì vậy DBM cần hỗ trợ chức
năng để trừu tượng hóa và kích hoạt ứng dụng từ luồng broadcast dữ liệu nhận được
thông qua IP Tuner để cung cấp DBS trong IPTV.
Cần phải có sự chuẩn hóa trong phương pháp sử dụng các nội dung broadcast
khác nhau để hỗ trợ tính liên thông giữa các middleware broadcast hiện có.
Yêu cầu: IPTV DBM cần cung cấp một framework để nhận và xử lý các dịch vụ
broadcast dữ liệu (Data Broadcast Service).
Chức năng nhận các dòng dữ liệu broadcast: Chức năng này có nhiệm vụ phân
tích và quản lý thông tin dịch vụ từ broadcast dữ liệu thời gian thực thông qua
mạng băng rộng.
Chức năng báo hiệu cho ứng dụng broadcast dữ liệu: Chức năng này cung cấp
cách đóng gói ứng dụng liên quan đến thông tin mà trừu tượng từ luồng dữ
liệu broadcast cũng như hỗ trợ thực thi các môi trường ứng dụng.
DBM API: Chức năng này cung cấp một API chuẩn cho các ứng dụng
broadcast dữ liệu để truy nhập các chức năng DBM khác nhau.
Yêu cầu đối với Enhanced EPG (Electronic Program Guide)
IPTV sẽ hỗ trợ các dịch vụ tương tác để tìm kiếm và lựa chọn thông tin theo các
đặc tính của ứng dụng ISP. Tuy nhiên thông tin EPG hiện có chỉ áp dụng cho các dịch
vụ broadcast thời gian thực và cung cấp chức năng tìm kiếm và lựa chọn thông tin
cho các dịch vụ như VoD và PPV.
những thông tin cần thiết về nội dung chương trình như tiêu đề chương trình, thể loại,
đạo diễn, diễn viên trong phim, thông tin về bản quyền, ngày sản xuất, ngày phát
hành… Từ những thông tin cần thiết trong metadata có thể xây dựng nên các ứng
dụng lọc và tìm kiếm thông minh cho các dịch vụ IPTV.
Các yêu cầu chung
Cung cấp metadata IPTV: metadata sẽ được cung cấp cùng với nội dung
audio-video của chương trình IPTV.
Sử dụng metadat IPTV: Có thể sử dụng IPTV metadata trên đầu cuối IPTV vì
vậy có thể truy nhập dễ dàng đến các chương trình IPTV cụ thể và các thông
tin có liên quan.
Cần xem xét lại những chuẩn hiện có ứng dụng cho metadata của các chương
trình TV để thích ứng với các ứng dụng IPTV, tránh việc phải tìm ra metadata
mới.
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 18/36
Metadata cần linh hoạt và có thể mở rộng cho các dịch vụ IPTV trong tương
lai, metadata IPTV có thể liên thông tốt nhất với metadata của các dịch vụ
broadcast truyền thống.
Các yêu cầu cụ thể
Metadata IPTV được biểu diễn theo lược đồ XML.
Có thể tương tác đến metadata IPTV.
Có thể cung cấp metadata mulitcast đi kèm với nội dung audio-video của các
chương trình IPTV.
Có thể cung cấp metadata multicast mà không cần đi kèm với nội dung audio-
video của chương trình IPTV.
Có cơ chế bảo vệ metadata.
Có cơ chế bảo vệ thông tin cá nhân trong metadata.
4.2.5 Các yêu cầu về mã hóa cho IPTV
thay đổi theo thời gian trong thời gian thực.
Tính linh hoạt trong việc thích ứng video có thể tạo ra nhiều giải pháp để đáp
ứng được các ràng buộ về truyền dẫn và tiêu thụ tài nguyên khác nhau.
…
4.2.6 Các yêu cầu về bảo mật nội dung ((DRM/CAS)
Cần phải thực thi vấn đề bảo mật nội dung để bảo vệ quyền tác giả cho các nội
dung IPTV. Có hai cách tiếp cận vấn đề bảo mật nội dung là CAS (Conditional
Access System) cho các dịch vụ broadcast tùy biến và DRM (Digital Rights
Management) cho các dịch vụ Internet cần có để cung cấp một cơ chế bảo mật nội
dung tích hợp trong môi trường ubiquitous và hội tụ số. Vì lý do này nên có ba yêu
cầu chính đối với vấn đề bảo mật nội dung IPTV như sau:
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 20/36
Yêu cầu 1: Dịch vụ IPTV có thể cung cấp cơ chế bảo vệ quyền tác giả cho các
nội dung broadcast và sử dụng việc bảo mật nội dung để hỗ trợ nhiều mô hình kinh
doanh khác nhau.
Bảo vệ nội dung: chức năng này cung cấp cơ chế bảo vệ cơ bản cho nội dung
IPTV bao gồm mã hóa thời gian thực, cơ chế tạo ra key tốc độc áo, phân bố
key và các phương pháp về in dấu vân tay.
Điều khiển truy nhập: chức năng này điều khiển truy nhập của người sử dụng
để bảo vệ nội dung IPTV bao gồm quản lý và nhận thực thuê bao, đóng gói
nội dung, quản lý cấp phép, giao diện IPMP (Intellectual Property
Management and Protection).
Mô tả quyền: chức năng này mô tả quyền bằng XML (eXtensible Mark-up
Language) nhằm hỗ trợ tính liên thông. XrML (eXtensible Rights Mark-up
Language) hay ODRL(Open Digital Rights Language) cũng được thực thi trên
thế giới.
Quản lý miền: chức năng này cung cấp cách quản lý hiệu quả nội dung khi
hoặc với tốc độ bít không đổi (trong trường hợp chất lượng video có thể thay đổi)
hoặc với tốc độ bít thay đổi (trong trường hợp chất lượng video ít thay đổi).
Các cơ chế mã hóa hình ảnh nói chung thường sử dụng tổ hợp cách mã hóa
intra-frame và inter-frame. Với cách mã hóa intra-frame (I frame) khung hình ảnh
được chia thành các khối block sau đó sử dụng thuật toán Discrete Cosine
Transform để chuyển đổi từng block thành tập các hệ số rồi áp dụng mã hóa với
chiều dài thay đổi. Nhóm các block được tổ hợp vào trong một thực thể đơn gọi là
slice, đôi khi slice này được mang đi trong một gói đơn. Nếu có lỗi truyền dẫn
xảy ra thì toàn bộ nhóm block sẽ bị mất tạo thành một kẻ sọc khi giải mã hình
ảnh. Điều này có thể xảy ra bởi vì các hệ số DC trong mỗi block được mã hóa dự
đoán từ block đầu tiên trong slice đó, khi có một lỗi xảy ra làm cho thông tin này
không còn đúng nữa đối với toàn bộ phần còn lại của slice. Một số lỗi có thể làm
hỏng cả cấu trúc của frame và làm toàn bộ frame không còn giá trị nữa.
Với mã hóa inter-frame hoặc mã hóa dựa vào sự chuyển động, các vector
chuyển động được xác định và mã hóa cho từng block. Như cách mã hóa intra-
frame các lỗi xảy ra có thể làm hỏng toàn bộ slice hoặc làm frame bị sai đi. Trong
các hệ thống mã hóa inter-frame đơn giản nếu bị mất đi một frame thì có thể làm
cho các frame tiếp theo trở nên vô nghĩa cho đến khi nhận được khung I frame
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 22/36
tiếp theo. Điều này dẫn đến làm hình ảnh bị dừng lại hoặc toàn bộ màn hình nhận
được là trắng.
Trong phần lớn các trường hợp thì các chuẩn để mã hóa hình ảnh đều có sự
linh hoạt đáng kể cho cả bộ mã hóa và giải mã, cho phép thực hiện thỏa hiệp giữa
giá cả và hiệu năng.
5.2 Giới hạn về băng thông
Giới hạn về băng thông thường xảy ra trong liên kết truy nhập – cụ thể là kết nối
cáp hay DSL. Nếu không có đủ băng thông cho dòng video thì bộ đệm của router
5.4 Nghẽn trên server
Không phải tất cả mọi vấn đề liên quan đến chất lượng video đều do mạng IP.
Nếu server không được hỗ trợ để phục vụ số lượng tối đa người dùng có nhu cầu
sử dụng thì sẽ dẫn đến nghẽn trên server. Lỗi này thường dẫn đến dừng hình ảnh.
Nếu sử dụng các giao thức như UDP Multicast thì có thể giúp giảm bớt tải cho
server, tuy nhiên điều này phụ thuộc vào có nhiều thuê bao cùng xem một nội
dung tại cùng thời điểm hay không.
5.5 Jitter và timing drift
Network jitter là sự thay đổi về thời gian đến của các gói tin, thường nguyên
nhân là do nghẽn mạng. Set top box của hệ thống IPTV thường để bộ đệm nhận
gói sau 5-20 giây mới phát hình ảnh, đây là điều cần thiết để mức độ jitter thông
thường ít ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh. Nếu độ trễ lớn hơn, ví dụ do nghẽn
Chuyên đề “Tổng kết các tiêu chuẩn cho IPTV ”
Trang 24/36
trên server thì có thể gây ra vấn đề thiếu bộ đệm, vì vậy ảnh hưởng đến chất
lượng của hình ảnh.
Timing drift xảy ra khi đồng hồ đầu cuối gửi và đầu cuối nhận chạy với tốc độ
khác nhau. Điều này có thể được khắc phục bằng cách điều chỉnh tốc độ đồng hồ
của từng bến cho như nhau để tránh giải quyết vấn đề.
5.6 Mạng lõi, mạng truy nhập và mạng tại thuê bao
Đường truyền IP thường bắt đầu tại một video server và kết thúc ở set top box.
Điều này có nghĩa là gói tin sẽ đi qua nhiều mạng, thường được sở hữu bởi nhiều
nhà cung cấp dịch vụ khác nhau. Mạng lõi IP thường là mạng quang có dung
lượng lớn, hoạt động tốt dưới nhiều mức độ nghẽn và vì vậy khi có vấn đề xảy ra
thì thường là do mạng truy nhập hay mạng phía thuê bao.
6 Tổng kết các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng dịch vụ IPTV/VoD
trên thế giới
Tương tự như truyền hình cáp và vệ tinh, IPTV cũng cần có bộ các tiêu chuẩn
quy định trong 8 phần riêng biệt của bảng sau đây:
Part Number
Part (API) Description
ISO/IEC 23004-1
ISO/IEC 23004-2
ISO/IEC 23004-3
ISO/IEC 23004-4
ISO/IEC 23004-5
ISO/IEC 23004-6
ISO/IEC 23004-7
ISO/IEC 23004-8
Architecture
Multimedia API
Component model
Resource and quality management
Component download
Fault management
System integrity management
Reference software
6.3 ETSI
Năm 2003, ETSI thành lập nhóm TISPAN (Telecom & Internet converged
Services & Protocols for Advanced Networks) để phát triển các chỉ tiêu kỹ thuật
cho các hạ tầng mạng cố định và di động thế hệ sau. TISPAN lần lượt cấu trúc
thành các nhóm nghiên cứu đưa ra các chỉ tiêu kỹ thuật đặc biệt quan trọng đối
với công nghiệp IPTV từ các mạng riêng và bảo mật đến quản lý và đánh địa chỉ
mạng. Cuối năm 2005, TISPAN đưa ra các chỉ tiêu kỹ thuật đối với NGN phiên
bản R1 và hiện đang nghiên cứu đề xuất phiên bản R2. Phiên bản 2 tập trung vào
tính lưu động, các dịch vụ mới và phân phối nội dung với khả năng quản lý và