Đồ án tốt nghiệp
Đề tài
Phân tích cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần ở nước ta
mà đại hội Đảng IX đã nêu
và ích lợi của việc sử dụng
nó vào việc phát triển KT-
XH ở trong thời kỳ quá độ
lên CNXH ở Việt Nam
Phần mở đầu
Thời kỳ quá độ là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan niêu, bao
cấp bộc lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó mà hậu quả tập trung là
cuộc cách mạng kinh tế-xã hội sâu sắc vào cuối những năm 1970 đầu
những năm 1980.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ năm của Đảng cộng sản Việt Nam
đã đánh giá tình hình đất nớc, đặc iệt là trong lĩnh vực kinh tế ,luôn luôn ở
tình trạng trì trệ , chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp rất nhiều khó
khăn, tình hình trì trệ ấy có nguyên nhân khách quan khách quan nh nền
kinh tế đang gánh chịu những hậu quả hết sức nặng nề của chiến tranh lâu
dài, viện trợ từ bên ngoài giảm so với thời kỳ trong chiến tranh nhng
nguyên nhân chủ yếu làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn về kinh tế và
thành bốn đặc điểm chung nh sau:
Thứ nhất, thời kỳ quá độ là thời kỳ xét trên mọi lĩnh vực của đời sống
xã hội , dều do thành phần không thuần nhất cấu tạo nên. Đó là thời kỳ có
sự đan xen , thâm nhập vào nhau giữa CNTB va CNXH, đúng nh VI.Lênin
đã viết Ngày nay, chúng ta không thể không đặt vấn đề CNTB nhà nớc và
CNXH, vấn đề chúng ta cần có thái độ nh thế nào trong thời kỳ quá độ;
trong thời kỳ này một mẩu nhỏ CNTB và một mẩu nhỏ CNXH tồn tại
cạnh nhau.
Thứ hai, đó là thời kỳ, sự phát triển của cái cũ , của những trật tự cũ
đôi khi lấn át những mầm mống của cái mới. Lênin cho rằng, những mảnh
vụn của trật tự cũ đôi khi chất đống lại một cách nhanh chóng, trong khi đó
những mầm mống của cái mới đôi khi lại phát triển chậm chạp và không
phải bao giờ cũng thấy rõ ngay đợc.
Thứ ba, đó là thời kỳ xét về mọi phơng diện, đều có sự phát triển
của tính tự phát tiểu t sản , là thời kỳ chứa đựng mâu thuẫn không thể dung
hoà đợc giữa tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp vô sản và tính vô chính
phủ, vô kỷ luật của tầng lớp tiểu t sản.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Lênin cho rằng , tính tự phát tiểu t sản là kẻ thù giấu mặt hết sức
nguy hiểm và còn nguy hiểm hơn bọn phản cách mạng công khai. Mâu
thuẫn giữa tính tự phát tiểu t sản và tính kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp
vô sản là một trong những đặc điểm nổi bật của giai doạn đặc biệt , giai
đoạn quá độ.
Thứ t, đó là thời kỳ lâu dài, có rất nhiều khó khăn phức tạp , phải
trải qua nhiều lần thử nghiệm để rút ra những kinh nghiệm, những hớng đi
đúng đắn; và trong quá trình thử nghiệm ấy , nói nh C. Mac, có thể phải
trả giá cho những sai lầm trầm trọng. Lênin đã nhận thức đợc điều đó khi
ông viết: Còn chúng ta thì biết rằng việc chuyển từ CNTB lên CNXH là
cuộc đấu tranh vô cùng khó khăn. Nhng chúng ta sẵn sàng chịu hàng
thức. Nhng ngay sau khi có chính sách kinh tế mới, cả trong lý luận cũng
nh trong thực tiễn, Lênin lại thừa nhận có 5 thành phần kinh tế đồng thời
tồn tại trong thời kỳ quá độ. Các thành phần kinh tế hoàn toàn mới so với
trớc là thành phần kinh tế t bản và thành phần CNTBNN. Lênin đã xếp
thứ tự 3 thành phần kinh tế thứ tự nh sau: Thứ nhất, kinh tế t gia trởng;
thứ hai, kinh tế hàng hoá nhỏ; thứ ba, kinh tế t bản; thứ t, kinh tế nhà
nớc TBCN; và thứ năm, kinh tế XHCN.
Nh vậy Lênin đã có sự thay đổi trong việc nhìn nhận về những đặc
điểm kinh tế của thời kỳ quá độ. Nừu nh những năm đầu sau khi mới
giành đợc chính quyền , ông cho rằng sự tồn tại của các thành phần kinh tế
phi XHCN là bất đắc dĩ, là những ái chống lại XHCN là phải đấu tranh xoá
bỏ chúng, thì đến năm 1921, sau khi đa ra chính sách kinh tế mới. Lênin
nhận thấy sự tồn tại 5 thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ là tất yếu, là
hợp qui luật; chúng cần tồn tại trong một thời gian cần thiết.
I.2 Quan điểm của Đảng ta.
*Thời kỳ 1976-1986.
Đây là thời kỳ đất nớc ta quá độ nên CNXH trong tình hình đất
nớc chịu những đảo lộn kinh tế và xã hội với quy mô lớn sau cuộc chiến
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
tranh lâu dài , diễn biến trong tình hình thế giới có những mặt không thuận
lợi . Đây là thời kỳ mô hình kinh tế tập trung quan liêu , bao cấp , bộc lộ
một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó ,là kết quả tập trung là cuộc cách
mạng KTXH sâu sắc vào cuối những năm 1970 và đầu những năm 1980.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 5 của đảng cộng sản Việt Nam đã đánh
giá tình hình đất nớc từ những năm 1975-1980 là thời kỳ nền kinh tế ở
trạng thái trì trệ, trên mặt trận kinh tế , đất nớc ta đứng trớc nhiều vấn đề
gay gắt , kết quả thực hiện khoa học kỹ thuật 5 năm (1976-1980) cha thu
hẹp đợc những mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân. Sản
quyết của đại biểu toàn quốc lần thứ 6,7,8 . Mô hình từ cũ bị xoá bỏ , mô
hình kinh tế mới đợc xây dựng phù hợp với quy luật kinh tế khách quan và
trình độ phát triển của nền kinh tế .
Thời kỳ này đã diễn ra sự biến đổi trong mô hình kinh tế , từ mô
hình gián tiếp tiến lên XHCN . Thực hiện mô hình kinh tế nhằm mục tiêu
căn bản , cấp thiết là giải pháp tăng nhanh lực lợng sản xuất , từng bớc
cải thiện đời sống nhân dân, tạo cơ sở vật chất và xã hội cho XHH từng
bớc nền SXHH.
Từ những phơng hớng chủ yếu của cuộc đổi mới đã đợc đại hội VI
của Đảng đề ra đến chủ trơng phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành
phần vận hành theo cơ chế thị trồng có sự quản lý của nhà nớc theo định
hớng XHCN . Đợc đại hội VI quyết định và dợc đại hội Đảng IX phát
triển theo chủ trơng xây dựng và phát triển nền kinh tế chính trị định
hớng XHCN là những bớc tiến quan trọng trong quá trình tổng kết thực
tiễn cách mạng ,đổi mới t duy kinh tế, vợt qua những quan niệm sơ cứng
về mô hình phát triển KT-XH và con đờng đi lên CNXH.
Trong đờng lối chiến lợc của Đảng ta, t tởng đại đoàn kết toàn
dân và phát huy dân chủ đợc thể hiện rất rõ ràng. Đại hội IX xác định
phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, tinh thần yêu nớc , tự lực tự
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
cờng tự hào dân tộc, mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất dân giàu nớc
mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh và tôn trọng những khác nhau
không trái với lợi ích chung của dân tộc,xoá bỏ mặc cảm định kiến,phân
biệt đối xử về vị thế giai cấp, thành phần xây dựng tình hình cởi mở, tin cậy
về nhau hớng tới tơng lai.
Phát triển nền kinh tế thị trờng định hớng XHCN, mục tiêu đến
năm 2010, hình thành về cơ bản và tiến hành thông suốt theo cơ chế thị
trờng, là chính sách nhất quán, lâu dài nhằm thực hiện đại đoàn kết toàn
dân và phát huy dân chủ trong đời sống kinh tế.
khích phát triển lâu dàI, hợp tác, cạnh tranh, bình đẳng , xin đợc nhấn
mạnh thêm bình đẳng là bình đẳng trớc pháp luật , đờng lối của Đảng
phải đợc thể chế hoá thành pháp luật các cơ quan nhà nớc và mọi ngời
dân mọi doanh nghiệp , thuộc mọi thành phần kinh tế đều phải nghiêm
chỉnh chấp hành ,với ý nghĩa đó thành phần kinh tế nhà nớc là hạt nhân
của quan hệ .Sản xuất mới là một lực lợng kinh tế ,là một công cụ có sức
mạnh vật chất để nhà nớc Việt Nam thực hiện vai trò đIều tiết , hớng dẫn
nền kinh tế nhiều thành phần phát triển đúng định hớng XHCN.
Sau hơn mời năm đổi mới, cùng với việc phát triển các lĩnh vực
khác , việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã đi vào thực
tiễn góp phần quan trọng vào những thành tựu kinh tế trong bối cảnh tình
hình quốc tế không thuận lợi và tình hình trong nớc còn nhiều khó khăn,
thực tiễn đã nhắc nhở chúng ta thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều
thầnh phần , coi đó là con đờng tất yếu quá độ lên XHCN, bỏ qua giai
đoạn phát triển TBCN.
II.Vấn đề sử dụng các thành phần kinh tế ở nớc ta:
2.1.Sự cần thiết phải sử dụng các thành phần kinh tế ở nớc ta :
Trong thời kỳ quá độ lên XHCN ở Việt Nam , sự tồn tại của sản xuất
hàng hoá là một tất yếu khách quan, bởi vì nớc ta có lực lợng sản xuất
còn rất thấp, đang tồn tại nhiều thành phần kinh tế khác nhau, sự phân công
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
lao động xã hội gắn với nhiều chủ thể sở hữu khác nhau nh các thực thể
kinh tế độc lập . Trong những đIều kiện đó , việc trao đổi sản phẩm giữa các
chủ thể sản xuất với nhau không thể thực hiện theo nguyên tắc nào khác là
nguyên tắc trao đổi ngang giá , tức là trao đổi hàng hoá thông qua thị
trờng , sản phẩm phải trở thành hàng hoá .
ở nớc ta trong thời kỳ quá độ , muốn phát triển mạnh mẽ lực lợng
sản xuất thì phải xã hội hoá và chuyên môn hoá lao động. Quá trình ấy chỉ
dấu hiệu quan trong của tiến bộ KT.
Nh vậy phát triển sản xuất hàng hoá đối với nớc ta là một tất yếu
khách quan, một nhiệm vụ cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu sang nền
kinh tế hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con
đờng đúng đắn để phát triển lực lợng sản xuất , khai thác có hiệu quả
tiềm năng của đất nớc để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá , hiện đại
hoá. Kinh tế hàng hoá không đối lập với các nhiệm vụ kinh tế xã hội của
thời kỳ quá độ tiến lên XHCN mà trái lại thúc đẩy các nhiệm vụ đó phát
triển mạnh mẽ hơn.
Thực tiễn của những năm đổi mới chỉ ra rằng , việc chuyển sang mô
hình kinh tế hàng hoá là hoàn toàn đúng đắn nhờ mô hình kinh tế đó ,
chúng ta đã bớc đầu khai thác đợc tiềm năng trong nớc đi đôi với thu
hút vốn và kỹ thuật nớc ngoài giải phóng đợc năng lực sản xuất trong xã
hội, phát triển lực lợng sản xuất , gop phần quyết định đảm bảo nhip độ
tăng trởng GDP, bình quân hàng năm trong những năm 1991-1995 là 8,3%
vợt mức đề ra là 5,5-6%.
2.2 Bản chất và cơ cấu các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ :
2.2.1 Bản chất của các thành phần kinh tế:
Bớc vào thời kỳ quá độ lên CNXH, trong nền kinh tế của mỗi nớc ,
số lợng của các thành phần kinh tế và tỷ trọng kinh tế có thể khác nhau tuỳ
theo đặc đIúm cụ thể của từng nớc và trong mỗi nớc lại tuỳ từng giai
đoạn , hiện nay, nền kinh tế nớc ta có các thành phần sau đây:
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
a) Kinh tế nhà nớc : là thành phần kinh tế bao gồm các doanh
nghiệp nhà nớc các xí nghiệp quốc gia và tài sản thuộc quyền sở
hữu nhà nớc nh đất đai, hầm mỏ, rừng, biển ngân sách , các quỹ
dự trữ ngân hàng nhà nớc
Kinh tế nhà nớc rộng và mạnh hơn doanh nghiệp nhà
tham gia các loại hình kinh tế tập thể , hay liên doanh liên kết với
các doanh nghiệp nhà nớc dới nhiều hình thức.
d) Kinh tế t bản t nhân:là các đơn vị kinh tế mà vốn do một hoặc một
số nhà t bản góp lại để sản xuất kinh doanh và thuê mớn nhân
công. Kinh tế t bản t nhân có nhiều hình thức là xí nghiệp t
doanh hay công ty trách nhiệm hữu hạn.
Kinh tế t bản t nhân dựa trên sở hữu t nhân t bản chủ
nghĩa về t liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Trong đIều
kiện quá độ lên CNXH ở nớc ta, thành phần kinh tế này còn có
vai trò đáng kể xét về phơng diện phát triển lực lợng sản xuất, xã
hội hoá sản xuất cũng nh về phơng diện giải quyết các vấn đề xã
hội.
e). Thành phần kinh tế t bản nhà nớc:
Đó là đơn vị kinh tế hình thành do sự liên doanh giữa nhà nớc
xã hội chủ nghĩa với t bản t nhân trong nớc hoặc với t bản t
nhân nớc ngoàI, kinh tế t bản nhà nớc ra đời còn do nhà nớc
xã hội chủ nghĩa góp vốn cổ phần hoặc do t nhân ở trong và ngoài
nớc thuê tài sản , kinh tế t bản nhà nớc là cầu nối giữa sản xuất
nhỏ với sản xuất lớn . Đảng ta đã khẳng định kinh tế t bản nhà
nớc có vai trò quan trọng trong việc động viên tiềm năng to lớn về
vốn, công nghệ, khả năng tổ chức quản lý của các nhà t bản , vì
lợi ích của bản thân họ cũng nh công việc xây dựng và phát triển
đất nớc .
2.2.2 Mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế :
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH có mối quan
hệ và tác động qua lại lẫn nhau , hoạt động đan xen vào nhau trong cơ cấu
kinh tế quốc dân thống nhất . Vai trò của các thành phần kinh tế ,mối quan
quốc dân tăng 3,2% so với năm 1985 ,các chỉ tiêu tơng ứng của năm 1990
tăng 25% và 20% . Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng nhanh nhu
đIện tăng gần 60%, xi măng tăng 80%. Một số ngành công nghiệp mới ra
đời và phát triển nhanh nh thăm dò và khai thác dầu khí, lắp giáp đIện tử,
đặc biệt trong nông nghiệp sản lợng lơng thực qui thóc tăng từ 18,2 triệu
tấn năm 1985 lên 21,5 triệu tấn năm 1990, tăng gần 18,1%. Lần đầu tiên
trong lịch sử , Việt Nam đã giải quyết về cơ bản vấn đề lơng thực , bảo
đảm cân đối nhu cầu tối thiểu trong nớc và một phần đáng kể để xuất
khẩu, trong hai năm 1989-1990 đã xuất khẩu mỗi năm 1,3 triệu tấn. Sản
xuất và xuất khẩu đã tăng lên đáng kể , đã hình thành một số mặt hàng xuất
khẩu chủ lực nh : Thuỷ sản , dầu thô , gạo Cùng với thị trờng truyền
thống Liên Xô (cũ ) và các nớc Đông Âu , Việt Nam đã mở rộng quan hệ
trao đổi hàng hoá với nhiều nớc khác.
Cơn sốt lạm phát đã thuyên giảm rõ rệt , thành công đáng kể là toàn
bộ cơ chế hai giá đã chuyển sang cơ chế một giá , nhà nớc chỉ qui dịnh giá
đối với rất ít mặt hàng nh đIện , xăng, dầu, xi măng ,sắt , thép, gạo
Sáu tháng đầu năm 1991,tuy thị trờng xuất khẩu truyền thống bị thu
hẹp đột ngột (giảm tới 85% ) song sản xuất công nghiệp vẫn tăng 2% so với
cùng kỳ năm ngoáI, đIều đáng lu ý là công nghiệp do trung ơng trực tiếp
quản lý đã phục hồi dần dần thích nghi với điều kiện kinh doanh mới ,nhờ
vậy mức sản xuất đã tăng 7,4% so với 6 tháng đầu năm 1990 , trong đó bộ
năng lợng tăng 3,2%. Bộ công nghiệp tăng 11,2 %. Bộ xây dựng tăng 11,8
% sản xuất nông nghiệp : Diện tích gieo trồng cây lơng thực vụ đông xuân
năm 1991 trong cả nớc tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trớc trừ miền Bắc
do thời tiết không bình thờng và sai lầm trong chỉ đạo về cơ cấu giống lúa
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
và thời vụ nên bị thất thu , miền Nam thu hoạch khá , tăng gần 30 vạn tấn
qui thóc so với đông xuân năm 1990.
Nhìn chung từ đầu năm 1991, Việt Nam bớc vào thời kỳ gay gắt
các quận, huyện 70-80 % số cơ sở cấp tỉnh, 20-30% số cơ sở cấp
trung ơng quản lý đang thô lỗ. Trong đó khoảng một nửa số đơn
vị này đang gặp khó khăn gay gắt khó có thể tồn tại.
3. Thị trờng vật t và tiêu thụ sản phẩm ở khu vực bị thu hẹp đột
ngột, khả năng tiếp thị với thị trờng khu vực hai còn qua hạn
chế , chủ yếu là về chất lợng sản phẩm và nguồn ngoại tệ mạnh.
4. Dân số tăng nhanh, số lợng lao động dôi ra từ các cơ sở sản
xuất, kinh doanh , hành chính sự nghiệp, quốc phòng , số học
sinh bỏ học, số tốt nghiệp ở các trờng và số thanh niên đến tuổi
đến tuổi lao động ngày càng đông cùng với chế độ lạm phát còn
cao, gây sức ép gay gắt về việc làm và đời sống.
5. Ngân sách nhà nớc thất thu, bội chi lớn, mất cân đối nghiêm
trọng trong cán cân thanh toán nội bộ nền kinh tế và kinh tế
trong khi nợ nớc ngoài lớn khó có khả năng thanh toán, càng
gây sức ép về vốn cho sản xuất kinh doanh về bảo đảm thu nhập
của công nhân viên chức, những ngời thuộc diện chính sách xã
hội, khó kìm đợc tình trạng xuống cấp nhanh chóng trong lĩnh
vực y tế, giáo dục, vh-xh.
6. Tệ nạn xã hội không ngăn chặn đợc là bao và vẫn phát sinh, lây
lan dới nhiều hình thức tinh vi hoặc trắng trợn hơn.
7. Công tác tổ chức, cán bộ vẫn sơ cứng,trì trệ, đại bộ phận cán bộ,
nhân viên cha đợc đào tạo lại, bồi dỡng theo cơ chế quản lý
nhà nớc, tiềm năng chất xám khá lớn song vẫn còn để trôi nổi ,
phân tán , cha đợc huy động, sử dụng đúng mức.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
8. Chế độ tiền lơng quá lạc hậu không đợc đổi mới đồng bộ với
hệ thống giá và các hệ thống phân phối khác cùng với tình trạng
sử dụng lãng phí của công, sự phân phối tuỳ tiện trong kinh tế
quốc doanh, sự trốn thuế, lậu thuế trong các thành phần kinh tế ,
tế quốc doanh tràn lan, tạo nên quá trình XHH hình thức, do vậy đến nay
phải lựa chọn lại theo hớng giảm bớt số cơ sở KTQD hiện có. Đấy là vấn
đề dễ đạt đợc sự nhất trí nhng giữ lại cái gì, giảm bớt ở chỗ nào và bằng
biện pháp nào không phải là việc đơn giản, vì nó không chỉ là vấn đề kinh
tế mà còn là vấn đề chính trị và xã hội.
Giải quyết vấn đề kinh tế quốc doanh đang là một trong những nội
dung lớn của đờng lối đổi mới kinh tế của nhiều nớc, do vậy đã có hàng
loạt biện pháp đợc áp dụng. ở Ân Độ đã tiến hành hiện đại hoá và đa dạng
hoá sản xuất, sử dụng và bảo dỡng máy móc thiết bị đúng tiêu chuẩn kỹ
thuật nhằm nâng cao công việc sử dụng công suất các cơ sở quốc doanh,
cho phép các xí nghiệp quốc doanh tự chủ về vốn đầu t, xây dựng mục
đích và kinh doanh sản xuất, sửa đổi giá cho phù hợp, bãi bỏ hình thức trợ
cấp giá, nâng cao trình độ quản lý của lãnh đạo xí nghiệp và học vấn của
công nhân.ở Inđônêxia đã áp dụng các biện pháp đánh giá và phân loại hệ
thống xí nghiệp quốc doanh, đổi mới cơ chế bằng cách thực hiện cơ chế
hoạch toán chặt chẽ, cắt giảm các khoản trợ cấp không cần thiết, cải tổ bộ
máy kết hợp với phong trào quần chúng chống tham nhũng chuyển một bộ
phận KTQD sang t nhân. Ngoài ra Inđônêxia còn áp dụng biện pháp chế
hoá các đạo luật hoá văn bản về KTQD.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Nh vậy, việc sử lý KTQD các nớc đã áp dụng nhiều biện pháp , sở dĩ
nh vậy vì không có biện pháp nào hoàn chỉnh cả, mỗi biện pháp vừa có
mặt tích cực vừa có mặt hạn chế. Chỉ có trên cơ sở sử dụng nhiều biện pháp
mới tạo ra đợc sức mạnh tổng hợp, chúng ta phải kết hợp nó để hạn chế
thấp nhất những tiêu cực, tăng các mặt tích cực để KTQD đạt hiệu quả
mong muốn.
b) Hai là , đối với các thành phần kinh tế khác đang có một câu hỏi
lớn đặt ra là: Mặc dù nhà nớc khuyến khích phát triển nhng tốc độ tăng
chậm chạp và không tơng xứng với tiềm năng hiện có . Muốn phát triển
ra còn có các hình thức hợp tác khác nh : Các nông trại chung nhau mua
đầu vào hoặc chung nhau bản hoặc chung nhau bản đầu ra hoặc cũng
thể hợp tác kinh doanh. Tổ chức nông trại và sự hợp tác giữa các nông trại
chính là hình thức HTX nông nghiệp theo mô hình mới cần đạt đợc.
+ Để nhân dân yên tâm bỏ vốn ra sản xuất kinh doanh và hoạt động
đúng hớng. Nhà nớc phải đa ra đợc một hệ thống các văn bản pháp quy
nh luật kinh doanh, luật thừa kế , luật chuyển nhợng ,luật thuê mớn lao
động Đồng thời hoàn thiện chế độ đăng ký kinh doanh, kế toán, thống
kê, thuế , hợp đồng kinh tế. Các luật và chế độ này không chỉ nhằm đảm
bảo lợi ích của nhà nớc mà phải góp phần thoả đáng 3 lợi ích: Nhà nớc-
tập thể-cá nhân, khuyến khích làm giàu trên cơ sở bỏ vốn kinh doanh đúng
pháp luật.
c) Ba là, tiến hành đồng bộ những giải pháp vĩ mô để tạo môi trờng
thuận lợi cho các thành phần kinh tế hoạt động có hiệu quả, bao gồm:
- Hoàn thiện nhanh chóng hệ thống tài chính và ngân hàng bằng
những công nghệ kỹ thuật nghiệp vụ hiện đại , đảm bảo thông suốt trong và
ngoài nớc. Đại bộ phận ,các khoản thanh toán , ngân hàng phải đảm đơng
đợc qua bộ máy của mình ; sử dụng tiền mặt chỉ ở mức hạn chế . Tín dụng
ngân hàng phải thực hiện đi vay để cho vay chứ không dựa vào nguồn phát
hành và chủ yếu đảm bảo cho kinh tế quốc doanh nh hiện nay. Hoạt động
tài chính cũng phải đợc đổi mới , lấy thu lơng chi , thu đủ và chi đúng.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Trong điều kiện nguồn thu có hạn, không nên chi quá khả năng bằng cách
vay nợ nớc ngoài và phát hành. Điều đó chỉ dẫn đến lạm phát thì không
thể nâng cấp bất cứ ngành nào , lĩnh vực nào, do đó cần phải từ bỏ ngay ý
định nâng cấp ngành này hay lĩnh vực kia bằng lạm phát. Lâu nay, tài
chính nớc ta thờng chạy theo nhu cầu chi quá lớn của một số ngành, một
số lĩnh vực trong khi nguồn thu hạn hẹp. Đây rõ ràng không thực tế. Do đó
chống lạm phát không đạt đợc mục tiêu đề ra phải nhanh chóng xây
thuật. Giá cả sức lao động sẽ nh những năm trớc đây, những sản phẩm
hàn hoá có thị trờng lớn là sản phẩm có hàm lựơng chất xám và khoa học
kỹ thuật cao.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.
Kết luận
Đặc điểm kinh tế thế giới hiện nay là các quốc gia đang cố gắng xây
dựng mô hình kinh tế có sự kết hợp kế hoặc và thị trờng mà trong đó cơ
cấu kinh tế nhiều thành phần kết lõi , nớc ta sau một thời gian duy trì mô
hịn kinh tế tập trung cao độ , đã thấy sự không phù hợp của nó. Quá trình đi
tìm một mô hình kinh tế mới manh nha từ những năm cuối thập kỷ 70,
những lúc bùng lên , có khi chững lại, chần chừ trong t duy và do dự trong
hành động. Nhng rồi cái phải đến đã đến. Đại hội Đảng lần thứ
VI(12/1986) là cái mốc quan trọng đánh dấu quá trình đổi mới nói chung và
đổi mới kinh tế nói riêng. Phơng hớng đổi mới kinh tế là xây dựng nền
kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hớng XHCN. Đại hội Đảng
lần thứ VII lại tiếp tục khẳng định đờng lối nhất quán đó. Đây là sự lựa
chọn phù hợp với xu thế thời đại , và thc trang cũng nh xu thế phát triển
của nền kinh tế nớc ta . Trên con đờng hoàn thiện nền kinh tế mới đó ,
chúng ta đã gặt hái đợc nhừng thành tựu bớc đầu có ý nghĩa rất quan
trọng, nhng không thể chỉ có hoa thơm và trái ngọt . Chúng ta đang đứng
trớc khó khăn và thách thức lớn lao. Cái cũ và cái mới cùng tồn tại đan xen
và triệt tiêu nhau. Bổn phận của chúng ta là phải làm cho cái mới tất thắng.
Song ủng hộ cái mới không có nghĩa là phủ định sạch trơn cái cũ và cũng
không đợc để cái mới bị lợi dụng.
Các giải pháp phát triển kinh tế nhiều thành phần ở nớc ta chỉ có thể
chấp nhận khi nó phủ nhận vai trò phủ đạo của kinh tế gia đình và sử dụng
sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong nền kinh tế quốc dân
thống nhất . Trong tình hình hiênj nay kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể