Bai Tieu luan Cuoi Ky Truyen HInh - Pdf 15

Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA BÁO CHÍ & TRUYỀN THÔNG


TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: Lí Luận Truyền Hình
Giảng viên: P.GS-TS Dương Xuân Sơn
Đề Bài:Phân tích sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ truyền hình và nhu cầu
hưởng thụ của công chúng tác động đến sản xuất chương trình.

Sinh viên: Vũ Văn Hùng
Lớp : K54 Báo chí và Truyền thông
Ngày sinh: 18/6/1990
Mã sinh viên: 09030509

1
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
Hà Nội – 01/2012
Đề Bài: Phân tích sự phát triển của kỹ thuật và công nghệ truyền hình và nhu
cầu hưởng thụ của công chúng tác động đến sản xuất chương trình.
Mục Lục:
 Mở đầu:………………………………………………………………… .1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRUYỀN HÌNH
1. Khái Niệm Truyền Hình……………………………………………………….5
2. Đặc trưng và đặc điểm của truyền hình.…………………………………… 6
CHƯƠNG 2: SỰ PHÁT TRIỂN CỦA KHOA HỌC CÔNG NGHỆ TRUYỀN
HÌNH TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN CỦA TRUYỀN HÌNH.

4.2.1; Sự thay thế dần dần của truyền hình kỹ thuật số với truyền hình tương
tự analog ở Việt Nam……………………………………………………………….
4.2.2; Truyền hình IPTV ở Việt Nam……………………………………………
4.2.3.; Truyền hình di động ở Việt Nam…………………………………………
4.3 Xu thế phát triển của công nghệ truyền hình Việt Nam………… 52
CHƯƠNG 3: SỰ TÁC ĐỘNG CỦA NHU CẦU HƯỞNG THỤ CỦA
CÔNG CHÚNG ĐẾN SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH.
1.Khái niệm công chúng truyền hình………………………………………… 53
3
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
1.1, Công
chúng……………………………………………………………………………
1.2; Công chúng báo chí…………………………………………………………………….
1.3; Công chúng truyền hình………………………………………………………………
2. Những đặc điểm của công chúng truyền hình.…………………………… 55
2.1, Phân Loại công chúng truyền
hình……………………………………… 57
2.1.1; Nhóm theo thị hiếu, sở thích………………………………………………………
2.1.2; Công chúng truyền hình theo lứa tuổi……………………………………………
2.1.3; Phân loại công chúng truyền hình theo văn hóa- giáo dục………………….
2.2.4; Phân loại theo dân tộc…………………………………………………………….
3.Nhu cầu của công chúng…………………………………………………… 61
3.1 Khái niệm……………………………………………………………………….
4. Sự tác động của Nhu cầu hưởng thụ của công chúng tới sản xuất các
chương trình truyền hình……………………………………………………. 62
4.1; Sản xuất chương trình truyền hình…………………………………………
A.khái niệm.
B.Quy trình sản xuất chương trình truyền hình.
4.2 ; Sự Tác động của nhu cầu hưởng thụ của công chúng đến sản xuất các

vụ khác.
5
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại
chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất
lượng. Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh. Với
những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã làm cho cuộc sống như
được cô đọng lại, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức và phong phú
hơn về nội dung.
Trong phạm vi của bài tiểu luận này tôi xin trình bày những thành tựu của khoa
học kĩ thuật công nghệ đã tác động đến sự phát triển của truyền hình và giữ vững
vị thế của truyền hình trong thời đại bùng nổ internet với sự ra đời của báo mang
điện tử. Đồng Thời chỉ ra sự phát triển đó còn là để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ
của công chúng xem truyền hình. Sự tác động của công chúng như thế nào và
truyền hình đã làm những gì để giữ vững vị thế trong lòng công chúng sẽ được
trình bày trong bài luận này.
Với vốn kiến thức còn eo hẹp, có thể mắc một số khuyết điểm, hay lập luận chưa
vững vàng, mong thầy và các bạn bổ sung giúp cho bài luận của tôi tốt hơn. Xin
chân trọng cảm ơn.
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TRUYỀN HÌNH
1.Khái Niệm truyền hình.
Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy
Lạp. Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là ''ở xa'' còn “videre” là ''thấy được'',
còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa. Ghép hai từ đó lại “Televidere” có
nghĩa là xem được ở xa. Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”,
tiếng Nga gọi là “Tелевидение”. Như vậy, dù có phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc
gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa
6
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông

hiện của truyền hình cáp là tín hiệu được truyền trực tiếp qua cáp nối từ đầu máy
phát đến từng máy thu hình. Từ đó, truyền hình cáp trong cùng một lúc có thể
chuyển đi nhiều chương trình khác nhau đáp ứng theo nhu cầu của người sử dụng.
Ngoài ra truyền hình cáp còn phục vụ nhiều dịch vụ khác mà truyền hình sóng
không thể thực hiện được.
2.Đặc trưng và đặc điểm của truyền hình.
Truyền hình mặc dù là một loại hình báo chí nhưng bên cạnh những đặc
điểm chung của báo chí nó còn có những đặc điểm riêng biệt mang đặc trưng của
truyền hình. Những đặc trưng đó làm nên những nét riêng biệt so với các loại hình
báo chí khác như phát thanh, báo in hay báo mạng điện tử, những đặc điểm này là
những ưu việt, thế mạnh của loại hình báo chí sống động nhất bởi bức tranh của
cuộc sống được phản ánh chân thực nhất đến công chúng truyền hình. Truyền hình
có các đặc trưng và đặc điểm cơ bản như sau:
A.Đặc trưng của truyền hình
• Khả năng lưu trữ hạn chế.
Đây là đặc trưng được quy định bởi đặc trưng phụ thuộc vào quy luật thời
gian của truyền hình. Chính vì sự liên tục mà việc lưu trữ của thông tin trên sóng
truyền hình vô cùng hạn chế.
Báo in, báo mạng là nhưng loại hình truỳên thông có khả năm lưu trữ thông
tin lâu nhất. Nếu như báo in báo mạng, hôm nay người ta đọc dở bài viết này, thì
ngày mai có thể đọc tiếp nhưng không nhất thiết phải đọc ngay lập tức. Mỗi khi ta
đọc thấy những thông tin hay, hữu ích, ta có thể copy (báo mạng) hay cất tờ báo đó
vào tủ sách, nhưng với truyền hình thì điều đó không thể thực hiện được. Chính ở
yếu tố thông tin liêu tục và truyền tín hiệu với dung lượng rất lớn nên truyền hình
8
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
buộc người ta phải theo dõi sự kiện đó từ đầu đến cuối chứ không thể vừa làm việc
vừa theo dõi.
Chính vì dòng chảy liên tục của truyền hình làm lượng thông tin trong sự ghi

Đây là một đặc trưng nổi bật của truyền hình cũng như phát thanh. Sự phụ
thuộc vào quy luật thời gian của truyền hình được hiểu là các hình ảnh, thước phim
cứ liên tục được chiếu trên màn hình theo trình tự thời gian. Người xem không thể
dừng lại một shoot hình nào, đoạn video nào để suy nghĩ lâu, để tìm hiểu chi tiết
mà phải phụ thuộc vào sự phát sóng của truyền hình. Nếu không muốn mất những
đoạn phim tiếp theo thì buộc công chúng phải xem liên tục mà không có sự dừng
lại.
Đặc trưng này là điểm cơ bản của tính hình tuyến. Vì không thể dừng lại,
nên truyền hình phải hạn chế tối đa những sai sót, nhầm lẫn gây khó hiểu, mơ hồ
về thông tin cho công chúng truyền hình. Những sai sót như vậy có thể làm họ
dừng lại để suy nghĩ, tìm hiểu mà bỏ qua đi những phần tiếp theo. Điều này ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả chuyển tải thông tin của truyền hình.
Như vậy, sự phụ thuộc vào quy luật thời gian là một đặc trưng quan trọng
của truyền hình. Đặc trưng này đòi hỏi những người làm truyền hình phải làm việc
tối đa công sức để tránh bất kỳ sai sót nào trên sóng, dù là chi tiết nhỏ.
• Ngôn ngữ truyền hình là ngôn ngữ hình ảnh và âm thanh
Một ưu thế của truyền hình chính là đã truyền tải cả hình ảnh và âm thanh
cùng một lúc. Khác với báo in, người đọc chỉ tiếp nhận bằng con đường thị giác,
phát thanh bằng con đường thính giác, người xem truyền hình tiếp cận sự kiện
10
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
bằng cả thị giác và thính giác. Qua các cuộc nghiên cứu người ta thấy 70% lượng
thông tin con người thu được là qua thị giác và 20% qua thính giác. Do vậy truyền
hình trở thành một phương tiện cung cấp thông tin rất lớn, có độ tin cậy cao, có
khả năng làm thay đổi nhận thức của con người trước sự kiện.
• Tính phổ cập và quảng bá
Do những ưư thế về hình ảnh và âm thanh, truyền hình có khả năng thu hút
hàng tỉ người xem cùng một lúc. Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ
truyền hình ngày càng mở rộng phạm vi phủ sóng phục vụ được nhiều đối tượng

hội và các đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Ngày nay, do sự phát triển của khoa học công nghệ, công chúng của truyền
hình ngày càng đông đảo, nên sự tác động dư luận ngày càng rộng rãi. Chính vì
thế,truyền hình có khả năng trở thành diễn đàn của nhân dân. Các chuyên mục “ý
kiến bạn xem truyền hình”, “với khán giả VTV3”, “Hộp thư bạn xem truyền
hình” ,… đã trở thành cầu nối giữa người xem và những người làm truyền hình.
Qua đó người dân có thể nêu lên những ý kiến khen chê, ủng hộ, phản đối, góp ý
phê bình về các chương trình truyền hình của đài truyền hình hoặc gửi đi những
thắc mắc, bất cập, sai trái ở địa phương. Rất nhiều vụ tham nhũng, lạm dụng
quyền hạn đã được người làm báo làm sáng tỏ qua sự phản ánh của nhân dân.
B.Đặc điểm của truyền hình
12
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
Truyền hình là một loại hình báo chí đặc biệt và những đặc điểm của nó
được xét trên nhiều khía cạnh khác nhau nhưng trước hết để nhìn nhận chính xác
hơn về đặc điểm của truyền hình ta sẽ xét nó ở trên hai phương diện đó là về nội
dung kĩ thuật và Tư duy sáng tạo tác phẩm. Trong (giáo trình báo chí truyền hình-
NXB DDHQGHN, của PGS.TS Dương Xuân Sơn tr.17) đã đưa ra hai phương đặc
điểm về truyền hình như sau:
Về nội dung kỹ thuật
Trong các loại hình truyền thông đại chúng, truyền hình là phương tiện ra
đời muộn, tuy nhiên nó là sản phẩm của nền văn minh khoa học công nghệ phát
triển. Truyền hình đã thừa hưởng kinh nghiệm và phương pháp tạo hình, tiếng của
điện ảnh và phát thanh. Ở truyền hình có sự khái quát triết lý của báo in, tính chuẩn
xác cụ thể bằng hình ảnh, âm thanh của điện ảnh, phát thanh, tính hình tượng của
hội họa, cảm xúc tư duy của âm nhạc. Sự phát triển của các phương tiện kỹ thuật
công nghệ giúp truyền hình tạo ra phương pháp mới trong truyền đạt thông tin.
Truyền hình là loại hình truyền thông có các yếu tố kỹ thuật hiện đại, là sự kết hợp
giữa: kỹ thuật + mỹ thuật + nghệ thuật + kinh tế + báo chí.

cứu và phát kiến theo chiều sâu hơn để cho ra được những phương tiện tạo nên
truyền hình như ngày nay. Đó là quá trình liên tục và sự cống hiến nhiệt thành của
các nhà khoa học trên khắp thế giới, từng bước đi của khoa học, những phát kiến
mới đã góp phần làm nên cái nền móng cơ bản, sơ khai cho truyền hình xuất hiện
14
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
trước công chúng. Để hiểu rõ hơn về điều này chúng ta cùng đi tìm hiểu sâu và
những sáng kiến khơi mào cho truyền hình ra đời.
1.1, Những bước đầu hình thành truyền hình từ khoa học kĩ thuật và công
nghệ.
Những hệ thống truyền hình thật sự đầu tiên bắt đầu đi vào hoạt động chính
thức trong thập niên 40 của thế kỷ này, không lâu sau khi khái niệm "truyền hình"
được sử dụng với nghĩa như chúng ta vẫn hiểu ngày nay. Ngành truyền hình thế
giới đã phải trải qua một thời gian dài phát triển mới có được thành tựu đó.
Sự phát triển của công nghệ truyền hình có thể được thực hiện trên 2 phạm vi: các
phát triển trên phương diện cơ học và điện tử học, và các phát triển hoàn toàn trên
điện tử học. Sự phát triển thứ hai là nguồn gốc của các tivi hiện đại, nhưng những
điều trên không thể thực hiện nếu không có sự phát hiện và sự thấu hiểu từ hệ
thống cơ khí.
Năm 1873, nhà khoa học người Scotland James Cleck Maxwell tiên đoán sự
tồn tại của sóng điện từ, phương tiện chuyền tải tín hiệu truyền hình.
Cùng năm này, nhà khoa học người Anh Willoughby Smith và trợ lý Joseph
May chứng minh rằng điện trở suất cuả nguyên tố Selen thay đổi khi được chiếu
sáng. Phát minh này đã đưa ra khái niệm "suất quang dẫn", nguyên lý hoạt động
của ống vidicon truyền ảnh. 15 năm sau, năm 1888, nhà vật lý người Đức Wihelm
Hallwachs tìm ra khả năng phóng thích điện tử của một số vật liệu. Hiện tượng này
được gọi là "phóng tia điện tử", nguyên lý của ống orthicon truyền ảnh.
Mặc dù nhiều phương thức chuyển đổi ánh sáng thành dòng điện tử đã được
phát minh và hoàn thiện nhưng hệ thống truyền hình đầu tiên vẫn chưa đủ điều

Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
Nguyên lý này được Zworykin áp dụng trong ống ghi hình iconoscope, bộ phận
quan trọng nhất của camera. Về sau, chiếc đèn orthicon hiện đại hơn cũng sử dụng
một thiết bị tương tự như vậy.
Năm 1878, nhà vật lý và hoá học người Anh, William Crookes phát minh ra
tia âm cực. Tới năm 1908, Campbell Swinton và Boris Rosing, người Nga, độc lập
nghiên cứu những kết qủa thu được của hai ông lại tương đồng. Theo đó, hình ảnh
được tái tạo bằng cách dùng một ống phóng tia âm cực (cathode-rays, tube-CRT)
bắn phá màn hình phủ photphor. Trong suốt những năm 30, công nghệ CRT được
kỹ sư điện tử người Mỹ tên là Allen DuMont tập trung nghiên cứu. Phương pháp
tái hiện hình ảnh của DuMont về cơ bản giống phương pháp chúng ta đang sử dụng
ngày nay.
Ngày 13/1/1928, nhà phát minh Emst Alexanderson cho ra đời chiếc máy
thu hình áp dụng phương pháp phân hình điện tử đầu tiên trên thế giới tại
Schenectady, New York, Mỹ. Hình ảnh trên màn hình 76 mm (3 inch) xấu và
không ổn định nhưng máy thu hình vẫn phổ biến ở nhiều gia đình. Nhiều máy thu
kiểu này đã được sản xuất và bán tại Schenectady. Cũng tại đây, ngày 10/5/ 1928,
đài WGY bắt đầu phát sóng đều đặn.
• Phát hình công cộng.
Trong khi đó chương trình truyền hình công cộng đầu tiên lại xuất hiện ở
London năm 1936. Những buổi phát hình này do 2 công ty cạnh tranh với nhau
thực hiện. Marconi- EMI phát bằng hình ảnh 405 dòng quét ngang với 25 mành
hình/ giây (25 frame/s) và hãng truyền hình Baird phát bằng hình ảnh 240 dòng
quét ngang cũng với 25 frame/s. Đầu năm 1937, hệ Marconi với chất lượng hình
ảnh tốt được chọn làm chuẩn. Năm 1941, Mỹ chấp nhận chuẩn 525 dòng quét với
30 frame/s cho bộ phận giải của mình. Thánh 11/1937, BBC thực hiện buổi phát
hình ngoài trời đáng chú ý đầu tiên. Đó là buổi phát hình lễ đăng quang của vua
17
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông

so với các loại hình khác. Một vấn đề thách thức mới cho các loại hình báo chí
khác như báo in, phát thanh và trong đó có cả truyền hình là phải thay đổi để
không bị tụt hậu và không bị công chúng lãng quên. Với thách thức đó mỗi loại
hình đã tự tìm con đường đi cho riêng mình, với truyền hình việc đầu tiên để vượt
qua thử thách đó là việc ứng dụng các công nghệ khoa học kĩ thuật mới về truyền
hình, nâng cao chất lượng đồng hành cùng nội dung, với những ưu việt do công
nghệ và những đặc thù riêng của loại hình truyền thông đại chúng này truyền hình
tiếp tục giữ vững được vị thế của mình trong lòng công chúng. Để hiểu rõ hơn
những ứng dụng khoa học công nghệ vào truyền hình chúng ta cùng đi sâu vào
những công nghệ mới mà truyền hình đang sử dụng và tương lai sẽ tiến hành.
1.2.1, Truyền hình tử bỏ công nghệ anolog để chuyển sang một thời đại
truyền hình mới.
Công nghệ truyền hình tương tự Analog đã gắn bó với truyền hình trong
những năm tháng đầu tiên khi truyền hình ra đời và sau bao năm công nghệ này
phục vụ cho sự phát triển của truyền hình thì giờ nó đang lui dần về quá khứ để
nhường bước cho những công nghệ truyền hình mới ( cáp hữu tuyến, truyền hình
internet ) phát triển.
Truyền hình theo công nghệ anolog ra đời gần như cùng với chiếc tivi đen
trắng và tồn tại cho đến ngày nay (tất nhiên được cải tiến theo thời gian, đặc biệt từ
khi có tivi màu) Là kỹ thuật truyền hình mặt đất bằng tín hiệu analog, được biết
đến với dạng hình sin (khác với truyền hình kỹ thuật số được số hóa ra những con
số 0, 1). Tín hiệu analog là tín hiệu liên tục,đồ thị biểu diễn tín hiệu analog là một
đường liên tục(ví dụ sin,cos,hoặc đường cong lên xuống bất kỳ),analog có nghĩa là
tương tự,tương tự có nghĩa là tín hiệu lúc sau cũng có dạng tương tự như lúc trước
19
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
đó,nói tương tự ko có nghĩa y chang mà có nghĩa tương tự về bản chất tín
hiệu,nhưng sẽ khác về cường độ tín hiệu lúc sau so với lúc trước.trong thiết bị điện
tín hiệu analog là dòng điện,trong cuộc sống analog có thể là tín hiệu âm thanh ta

khoa học máy tính
tín hiệu analog chủ yếu để truyền tải thông tin đi xa,ví dụ tín hiệu truyền hình,vệ
tinh,di động,cáp quang.
Để thấy rõ những ưu việt của truyền hình kỹ thuật số với truyền hình anolog
ta xem bảng so sánh sau:
Nội dung so sánh Truyền hình analog Truyền hình lỹ thuật số
Tín hiệu khi TV bắt
được
Giống tín hiệu gốc đã được mã hóa
Năng lượng cho
quá trình truyền tải
(máy thu, máy
Tốn năng lượng Tiết kiệm năng lượng hơn
21
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
phát)
Chất lượng hình
ảnh, âm thanh
- Hình bị mờ, chập chờn,
các hình bị chồng lên
nhau.
- Âm thanh nhiều lúc bị
nhiễu, không rõ
- hình có độ nét cao, sắc nét,
màu sắc đẹp, không bị hiện
tượng bóng hình, can nhiễu
- âm thanh chất lượng tương
đương với nghe từ đĩa CD,
trong trẻo, rõ ràng.

Ngày 25/7/ 2011 Nhật bản, một cường quốc mạnh về khoa học công nghệ
truyền hình cũng đã tuyên bố từ bỏ công nghệ truyền hình anolog để bước sang
công nghệ truyền hình kĩ thuật số.
Tại Việt Nam quá trình chuyển đổi từ truyền hình anolog sang truyền hình kĩ
thuật số cũng đang được hoàn tất và đài truyền hình kĩ thuật số VTC đang đi tiên
phong trong cuộc chuyển đổi này. Với truyền hình kỹ thuật số, người xem được
hưởng thụ nhiều hơn bởi tín hiệu số cho phép truyền hình ảnh và âm thanh với chất
lượng tốt hơn. Sử dụng cùng một dải tần, người xem có thể truyền nhiều chương
trình truyền hình một lúc thay vì chỉ một như đối với tín hiệu analog, giúp có nhiều
lựa chọn hơn trong việc chọn kênh.
Truyền hình kỹ thuật số còn giúp giải phóng những dải tần số sóng vô tuyến
vốn được dùng cho tín hiệu TV để sử dụng vào những mục đích khác như liên lạc
của cảnh sát, cứu hỏa và cứu hộ. Đồng thời một phần của các dải tần được giải
phóng sẽ được bán đấu giá cho các công ty có nhu cầu để họ có thể cung cấp
những dịch vụ wireless tốt hơn, chẳng hạn như wireless băng thông rộng.
Sự chuyển đổi từ công nghệ anolog sang công nghệ truyền hình kĩ thuật số là điều
tất yếu khi anolog không còn đáp ứng được nhu cầu của công chúng truyền hình
ngày càng khắt khe. Sự chuyển đổi sẽ là một bước tiến cho sự lớn mạnh của truyền
hình và đưa nó giữ vững vị thế là một loại hình truyền thông đại chúng mạnh mẽ
bởi những khuôn hình mạnh mẽ sống động, âm thanh chân thật.
2. Một số công nghệ truyền hình mới áp dụng cho sự phát triển của
truyền hình.
2.1 Hệ thống truyền hình cáp hữu tuyến.
23
Vũ Văn Hùng- K54 Báo Chí và Truyền Thông
Lý Luận Truyền Hình
CATV ( Community Antenna Television) gồm có anten thu hình cực nhạy
đặt tại vị trí cao thu sóng tốt nhất, tín hiệu thu được đưa vào bộ khuếch đại cao
tần ( RFA) để tăng mức tín hiệu đủ mạnh và truyền tải qua mạng cáp đồng trục đưa
đến từng gia đình Nhân dân ở các vùng này không cần mua anten mà chỉ cần

nhất và là thị trường thuê bao tiềm năng.
Ngày nay, truyền hình cáp dây dẫn không còn là một thứ xa xỉ phẩm của các
nước công nghệ truyền hình phát triển. Mạng truyền hình dây dẫn là mạng không
thể thiếu bên cạnh mạng điện và điện thoại ở các thành phố, thị trấn, thậm chí
huyện lỵ, xóm làng. Từ năm 1993, mạng CATV đã được xây dựng ở TPHCM và
không lâu sau đó ở Hà Nội. Từ năm 2003, Trung tâm Truyền hình Cáp Đài Truyền
hình TPHCM đã triển khai mạng truyền hình cáp CATV ở TPHCM. Hiện nay,
nhiều địa phương ở Việt Nam đã có mạng CATV ( Hải Phòng, Nghệ An, Đà Nẵng,
Qui Nhơn…).
Trong quá trình số hoá công nghệ truyền hình, tiêu chuẩn truyền hình số cho
CATV đã được giới thiệu với tên gọi DVB-C vào giữa thập niên 90 và đã được
khai thác thương mại.
Truyền hình cáp hữu tuyến CATV được vận dụng linh hoạt để giải quyết
triệt để 100% dân số xem truyền hình . Mạng cáp hữu tuyến CATV có cấu trúc rất
đơn giản , đầu tư kỹ thuật rất ít , lắp đặt dễ dàng , nhanh chóng với chất lượng
cao , ổn định quanh năm và phổ biến ở tất cả địa hình phức tạp trên mọi lãnh thổ .
Qua khảo sát tại các nước , đặc biệt là Trung Quốc , ta thấy rõ “ truyền
hình cáp CATV đến mọi gia đình ở mọi xóm thôn “ , đã có 90 triệu thuê bao xem
23-26 chương trình phát thanh - truyền hình và các loại hình thông tin khác .
25

Trích đoạn Xu thế phát triển của công nghệ truyềnhình Việt Nam Phân Loại công chúng truyền Khái niệm Nhu cầu hưởng thụ của công chúng truyềnhình tác động đến sự ra đời các
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status