LỜI MỞ ĐẦU
Ngày 20/7/2000, trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh chính thức khai trương hoạt động- thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời
mang lại những sự thay đổi lớn lao trong nền kinh tế Việt Nam. Sau hơn 6 năm hoạt
động và phát triển, thị trường chứng khoán đã chứng tỏ là kênh huy động và đầu tư
vốn không thể thiếu, mang lại những thành tựu to lớn, gặt hái nhiều thành công, có
nhiều dấu ấn, đặc biệt là sự phát triển vượt bậc của thị trường chứng khoán trong
năm 2006 đã góp phần nâng cao vị thế của thị trường chứng khoán Việt nam trên
trường quốc tế. Thị trường chứng khoán nước ta ngày càng được đánh giá cao, thu
hút được sự tham gia đông đảo của các nhà đầu tư trong nước và các nhà đầu tư
nước ngoài, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội của đất nước. Trong đó phải
kể đến sự đóng góp lớn lao của một bộ phận then chốt, luôn dẫn đầu đó là Trung
tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước phát triển, hoàn thiện góp phần vào
quá trình phát triển chung của thị trường chứng khoán. Để trung tâm giao dịch
chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh hoạt động thường xuyên, liên tục và ngày
càng phát triển đáp ứng nhu cầu của thị trường thì một vấn đề cần phải chú ý là làm
thế nào để nâng cao số lượng và chất lượng hàng hoá trên trung tâm. Xuất phát từ
thực tế và nghiên cứu về thị trường chứng khoán trong các năm qua, em xin mạnh
dạn chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng và số lượng hàng hoá trên
trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh” để viết tiểu luận
môn học thị trường chứng khoán. Tiểu luận có kết cấu được chia làm ba chương
bao gồm:
Chương 1. Cơ sở lí luận về thị trường chứng khoán
Chương 2. Thực trạng về số lượng và chất lượng của hàng hóa tại trung
tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Chương III: Giải pháp nâng cao chất lượng và số lượng cho hàng hoá tại
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Đây là một đề tài rộng, yêu cầu sự phân tích cao, nắm bắt tình hình chắc
chắn, do đó trong quá trình làm tiểu luận còn có nhiều vấn đề còn thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự chỉ bảo, chỉnh sửa của các thầy cô trong bộ môn Thị trường
phủ, của các doanh nghiệp và hộ gia đình. Thị trường vốn có thị trường vay nợ dài
hạn và thị trường chứng khoán.
Để huy động vốn dài hạn lớn, Chính phủ và một số doanh nghiệp còn
thực hiện huy động thông qua việc phát hành các chứng khoán. Khi một bộ phận
các chứng khoán có giá nhất định đã được phát hành thì tất yếu sẽ làm nảy sinh nhu
cầu về mua bán, trao đổi các chứng khoán đó. Vì vậy thị trường chúng khoán đã ra
đời với tư cách là một thị trường vốn.
1.1.2. Khái niệm thị trường chứng khoán .
Thị trường chứng khoán là nơi các chứng khoán được phát hành và
trao đổi, thông qua đó một bộ phận vốn được huy động và luân chuyển trong nền
kinh tế.
Thị trường chứng khoán đầu tiên trên thế giới ra đời vào năm 1780.
Từ năm 1790, chính phủ liên bang Mỹ đã phát hành trái phiếu Chính phủ lên tới 80
triệu USD để tài trợ cho các dự án của Nhà nước. Đến năm 1792, thị trường chứng
2
khoán New York đi vào hoạt động. Thị trường chứng khoán Trung Quốc ra đời vào
năm 1990….
1.1.3. Đặc điểm của thị trường chứng khoán.
Thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi hình thức tài chính trực
tiếp, người cần vốn và người có khả năng cung ứng vốn đến trực tiếp tham gia vào
thị trường, giữa họ không có trung gian tài chính.
Thị trường chứng khoán là thị trường gần với thị trường cạnh tranh
hoàn hảo. Mọi người đều được tự do, bình đẳng tham gia vào thị trường. Không có
sự áp dặt giá cả trên thị trưòng mà giá cả ở đây được xác định dựa trên quan hệ
cung cầu về hàng hoá trên thị trường và phản ánh các thông tin có liên quan đến
chứng khoán. Đây là một thị trường có nhiều người mua, nhiều người bán, là thị
trường tương đối đồng nhất.
Thị trường chứng khoán về cơ bản là một thị trường liên tục. Sau khi
các chứng khoán được phát hành trên thị trường sơ cấp thì có thể được mua bán
nhiều lần trên thị trường thứ cấp. Thị trường chứng khoán đảm bảo cho các nhà đầu
một trong những kênh tạo vốn cho Chính phủ để điều hành, phát triển nền kinh tế
phục vụ cho những mục tiêu xã hội và thông qua thị trường chứng khoán cũng chỉ
báo được tình hình kinh tế trong tương lai.Thị trường chứng khoán là nơi đánh giá
giá trị của doanh nghiệp và tình hình của nền kinh tế một cách tổng hợp và chính
xác thông qua chỉ số giá chứng khoán trên thị trường.
Chức năng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.
Thị trường chứng khoán là thị trường nơi cung và cầu dài hạn gặp nhau. Trên thị
trường chứng khoán giá cả của các chứng khoán phản ánh sự phát triển của các
doanh nghiệp nói riêng và của các ngành kinh tế nói chung. Khi giá chứng khoán
tăng lên cho thấy đầu tư đang mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng và ngược lại khi giá
chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Thị trường
chứng khoán được coi là một phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan
trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Thông qua thị trường
chứng khoán, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn
thu bù đắp thâm hụt ngân sách và điều chỉnh cung, cầu tiền trong nền kinh tế, quản
lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số biện pháp tác động
vào thị trường chứng khoán nhằm định hướng đầu tư, đảm bảo cho sự phát triển cân
đối của nền kinh tế.
1.1.5. Công cụ của thị trường chứng khoán.
Trên thị trường chứng khoán, công cụ là các loại chứng khoán khác
nhau. Theo điều 6 của luật chứng khoán Việt Nam đã được Quốc hội khoá XI thông
qua tháng 6 năm 2006 và chính thức áp dụng từ ngày 01/01/2007, chứng khoán là
bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản
hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức
chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây:
a) Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ;
b) Quyền mua bán cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền
chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
Cổ phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của
người sở hữu đối với một phần vốn cổ phần của tổ chức phát hành.
chỉ đạo chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc xây dựng thị trường chứng khoán
ở Việt Nam. Đây là bước đi có ý nghĩa rất quan trọng nhằm thúc đẩy quá trình hình
thành thị trường chứng khoán, làm tiền đề cho sự ra đời cơ quan quản lý Nhà nước
với chức năng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn.
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước được thành lập ngày 28/11/1996 theo
Nghị định số 75/CP của Chính phủ, là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức
năng tổ chức và quản lý Nhà nước về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Việc
thành lập cơ quan quản lý thị trường chứng khoán trước khi thị trường ra đời là
bước đi phù hợp với chủ trương xây dựng và phát triển thị trường chứng khoán ở
5
Việt Nam, có ý nghĩa quyết định cho sự ra đời của thị trường chứng khoán sau đó
hơn 3 năm. Cho đến khi Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
chính thức đi vào hoạt động ngày 20/07/2000 thì thị trường chứng khoán Việt Nam
ra đời.
Hơn 6 năm thành lập, thị trường chứng khoán Việt Nam dã chứng tỏ
là kênh huy động vốn không thể thiếu, bên cạnh lĩnh vực Ngân hàng.
1.3. Sự ra đời và phát triển của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh.
1.3.1. Lịch sử ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh.
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh được thành
lập theo quyết định số 127/1998/QĐ- TTg ngày 11/07/1998 của Thủ tường Chính
phủ và chính thức đi vào hoạt động thực hiện phiên giao dịch đầu tiên ngày
20/07/2000 đã đánh dấu một sự kiện quan trọng trong đời sống kinh tế- xã hội của
đất nước. Sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
có ý nghĩa rất lớn trong việc tạo ra một kênh huy động và luân chuyển vốn mới
phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là sản phẩm của nền
kinh tế chuyển đổi cơ cấu kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã
hội của Đảng và Nhà nước ta. Là dơn vị sự nghiệp có thu, có tư cách pháp nhân, có
trụ sở, có con dấu và tài sản riêng, kinh phí hoạt động do Nhà nước cấp. Trung tâm
cho thị trường chứng khoán những hàng hoá có chất lượng cao, số lượng nhiều và
chủ thể tham gia lớn. Nếu một nền kinh tế suy thoái, thị trường tài chính bất ổn, hay
kém năng động thì hoạt động của các doanh nghiệp niêm yết gặp nhiều khó khăn,
do đó thị trường sẽ kém sôi động. Số luợng hàng hoá trên thị trường sẽ ít đi và kém
chất lượng. Khi đó thị trường hoạt động sẽ kém hiệu quả và bất ổn làm ảnh hưởng
tới trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Thứ hai là các doanh nghiệp niêm yết. Chứng khoán chỉ đáng tin cậy
khi các tổ chức phát hành ra chúng là các doanh nghiệp làm ăn đứng đắn, có uy tín,
có thành tích kinh doanh tốt, hiệu quả kinh tế phát triển cao, có triển vọng phát triển
với quy mô lớn, có hệ thống quản lý và quản trị tiên tiến, tiềm năng cạnh tranh
mạnh và phải công khai, minh bạch, đảm bảo quyền lợi công bằng cho cổ đông
cũng như quyền lợi của các bên liên quan tới doanh nghiệp. Số lượng của chứng
khoán sẽ tăng khi các doanh nghiệp cổ phần hoá đăng ký niêm yết tăng lên. Tuy
Nhà nước đã có nhiều chính sách khuyến khích doanh nghiệp niêm yết như miễn
giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn phí phát hành, niêm yết… nhưng phần lớn
các công ty đã cổ phần hoá vẫn đang đứng ngoài thị trường chứng khoán có tổ
chức, không muốn phát hành chứng khoán ra công chúng.
Thứ ba, một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, ổn định; các
chính sách hợp lý sẽ lôi kéo sự tham gia vào thị trường chứng khoán của nhiều
doanh nghiệp. Từ đó góp phần nâng cao số lượng của các chứng khoán trên trung
tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống pháp luật đầy đủ,
đồng bộ, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao, cạnh
tranh lành mạnh, được đảm bảo về pháp lý, tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất,
cải tiến kỹ thuật. Do đó giúp cho chất lượng của các chứng khoán được đảm bảo và
nâng cao, tăng khả năng phát hành chứng khoán cho thị trường.
7
Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ SỐ LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG CỦA
HÀNG HOÁ TẠI TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHÓ HỒ CHÍ MINH
2.1. Thực trạng về hoạt động của trung tâm giao dịch chứng khoán
8
ra thông tri về thời hạn nắm giữ cổ phiếu đưa thêm hàng hoá vào niêm yết… Tuy
nhiên việc mở rộng biện độ lớn trong khi lượng hàng hoá đưa vào thị trường chứng
khoán không đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư, nên giá chứng khoán tăng càng
mạnh (mỗi phiên +7%), làm cho thị trường càng mất cân đối cung cầu lớn.
Qua hơn 80 phiên giao dịch chúng ta có thể thấy rõ khó khăn mà
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh vấp phải đó là sự thiếu
hụt hàng hoá một cách trầm trọng. Điều đó được minh chứng bởi số công ty nêm
yết cổ phiếu (5 công ty) và 3 loại trái phiếu của Chính phủ và một loại trái phiếu
của ngân hàng đầu tư và phát triển. Các loại hàng hoá khác như trái phiếu công,
chứng chỉ quỹ đầu tư, các công cụ phái sinh… hoàn toàn chưa có mặt trên thị
trường.
Chủng loại hàng hoá đã ít, lại thêm sự mất hút của hàng hoá (hàng
hoá mất hút 19 phiên giao dịch liên tiếp như chứng khoán TMS) lại càng làm cho
thị trường trở nên khan hiếm. Nhìn chung sự có mặt thường xuyên của 4 loại cổ
phiếu đã làm giảm đi sự ảm đạm của thị trường. Trái phiếu Chính phủ bao gồm 3
loại đã phát hành với khối lượng lớn thời đầu kỳ. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực
hiện không có người mua cũng như không có người bán trái phiếu, chỉ có trái phiếu
của Ngân hàng đầu tư và phát triển là được giao dịch thường xuyên hơn. Thời gian
này, mức cầu chứng khoán thường cao hơn mức cung dẫn đến giá trị của chứng
khoán thường cách xa rất nhiều so với giá trị thực, nó làm ảnh hưởng tới tâm lý của
các nhà đầu tư.
Tính đến hết tháng 2 năm 2001 thì tổng giao dịch trên Trung tâm giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đạt con số rất khiêm tốn, khoảng 100 tỷ
VNĐ, chỉ bằng 1/4 ngày giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán Jakarta (Indonexia)
và là một khối lượng không đáng kể so với một phiên giao dịch tại Sở chứng khoán
London (Anh) hay Sở giao dịch chứng khoán NewYork (Mỹ). Điều này có thể lý
giải được là do hàng hoá trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh vừa ít về chủng loại vừa ít về số lượng hàng hoá. Chính nguyên nhân trên đã
gây ra hiện tượng cầu trên thị trường luôn luôn căng thẳng gấp nhiều lần cung. Tình
tụt xuống mức dưới 170 điểm và mức thấp kỷ lục là 130.9 điểm (tại phiên giao dịch
562 ngày 24/10/2003).
Theo đánh giá của Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh năm 2002, chỉ số VN-Index vẫn giảm sút và chỉ xoay quanh mức 200
điểm, cách xa mức 300 điểm cuối tháng 11/2001 và cho đến cuối tháng 3/2003 chỉ
số này giảm xuống còn 180 điểm. Trước tình hình đó Trung tâm đã chính thức tăng
số phiên giao dịch trong tuần từ 3 đến 5 phiên kể từ ngày 1/03/2002 nhằm kích cầu
và ngăn chặn xu hướng giảm sút của chỉ số giá chứng khoán , tuy nhiên cách làm
này cũng làm cho chỉ số VN-Index chững lại và tăng không nhiều.
Từ tháng 6 đến hết tháng 10 năm 2002, xu hướng giảm cả về chứng
khoán cả về khối lượng giao dịch từng phiên lại bắt đầu quay trở lại. Trong thời
10
gian này, việc tổ chức niêm yết công bố thông tin không chính xác về tình hình hoạt
động kinh doanh của mình đã khiến lòng tin của nhà đầu tư đối với thị trường bị
lung lay. Chỉ số VN-Index từ 210 điểm vào thời điểm tháng 5/2002 đã giảm liên tục
và đạt mức thấp nhất là 174.62 vào phiên giao dịch ngày 07/11/2002. Đây không
chỉ là mức thấp nhất của chỉ số VN-Index trong năm 2002 mà còn là mức thấp nhất
kể từ đầu năm 2001. Đúng trong thời gian này, cổ phiếu của công ty đồ hộp Hạ
Long bị ngưng giao dịch do những gian lận trong việc khai báo hoàn thuế giá trị gia
tăng càng làm xói mòn lòng tin của nhà đầu tư.
Tuy hoạt động trong thời gian qua không sôi động nhưng nguyên
nhân chính hoàn toàn không phải do hoạt động kinh doanh kém của các tổ chức
niêm yết. Doanh thu 9 tháng đầu năm 2002 đều đạt mức tăng trưởng cao hơn cùng
kỳ năm 2001 từ 5 đến 20%. Thị giá cổ phiếu giảm trong thời gian dài và đã xuống
mức thấp nhất là 130.9 điểm. Nhưng điều đáng nói ở đây là giá cổ phiếu giảm trong
khi tình hình sản xuất kinh doanh của các công ty niêm yết vẫn còn dẫu hiệu tốt.
Năm 2002, hầu hết các công ty đều có doanh thu và lợi nhuận tăng so với năm 2001
và đều hoàn thành kế hoạch năm 2002.
Về các giao dịch trái phiếu thì trong giai đoạn từ tháng 7/2000 đến
tháng 12/2002, trừ một số ít các nhà đầu tư có tổ chức, phần lớn các nhà đầu tư
yết cho đến ngày 31/12/2003, cổ phiếu REE vẫn tiếp tục là cổ phiếu có tỷ trọng giao
dịch cao nhất trên thị trường với khối lượng giao dịch bình quân đạt 34.678 cổ
phiếu. Trong khi đó khối lượng bình quân thấp nhất toàn thị trường thuộc về cổ
phiếu TS4 với mức giao dịch trung bình đạt 432 cổ phiếu, tức là thấp hơn khối
lượng bình quân giao dịch của cổ phiếu REE đến 80 lần.
Khối lượng giao dịch khớp lệnh của cổ phiếu cao nhất trong năm
được thực hiện vào ngày 17/11/2003 với 506.350 cổ phiếu.Trong phiên giao dịch
này, chỉ riêng cổ phiếu REE đã được giao dịch với khối lượng 237.710 cổ phiếu,
chiếm tỷ trọng 46,35% khối lượng giao dịch toàn thị trường của phiên đấy. Ngược
lại, phiên giao dịch có khối lượng giao dịch thấp nhất trong năm được thực hiện vào
ngày 24/7/2003 với 23.210 cổ phiếu được giao dịch.Giao dịch thoả thuận, nếu như
khối lượng giao dịch thoả thuận năm 2002 đạt trên 6.000.000 cổ phiếu thì trong
năm 2003 đã giảm xuống còn xấp xỉ 4,5 triệu. Tương ứng với tỷ lệ giảm 25,89 %.
Khối lượng giao dịch thoả thuận cao nhất năm được thực hiện vào ngày 18/11/2003
với trên 241.000 cổ phiếu được giao dịch. Toàn bộ khối lượng này thuộc về giao
dịch cổ phiếu LAF, cũng là giao dịch bán ra của nhà đầu tư nước ngoài.
Trong số 22 cổ phiếu niêm yết, khối lượng giao dịch thoả thuận cao
nhất thuộc về cổ phiếu GMD với trên 775.000 cổ phiếu được giao dịch. Ngược lại,
có 4 cổ phiếu không hề giao dịch thoả thuận là BTC, DPC, HAS và PMS.
Trong tình hình thị trường diễn biến không thuận lợi vào những đầu
tháng 5, sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài là yếu tố quan trọng, có thể tác
động tích cực đến hoạt động giao dịch. Tổng cộng khối lượng giao dịch khớp lệnh
12
và thoả thuận là trên 3.000.000 cổ phiếu, tăng hơn 500.000 cổ phiếu so với năm
trước, trong đó bao gồm cả giao dịch 200.000 trái phiếu Chính phủ, là giao dịch trái
phiếu đầu tiên của nhà đầu tư nước ngoài vào thời điểm đó kể từ khi thị trường
được thành lập. Sự kiện quan trọng nhất trong năm đánh dấu sự khuyến khích nhà
đầu tư nước ngoài tham gia vào giao dịch là việc Chính phủ cho phép nâng tỷ lệ
nắm giữ cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài từ 20% lên 30%. Trong năm 2003, 4
cổ phiếu được nhà nước ngoài mua nhiều nhất đó là: GMD, BT6, AGF, SAM. Đây
Nam. Những lúc này đây dư luận đã quan tâm nhiều hơn đến thị trường chứng
khoán, đến các nhà phát hành. Cho đến lúc này thị trường sơ cấp mới được đặt đúng
chỗ: thị trường sơ cấp là gốc, là nền tảng tạo ra hàng, tạo ra những người nắm cổ
phiếu và có nhu cầu trao đổi với nhau để thị trường thứ cấp hoạt động.
Nếu như những phiên giao dịch đầu tiên Trung tâm giao dịch mới chỉ
có khoảng một vài nghìn người Việt Nam biết đến thì đến nay có hàng triệu người
Việt Nam quan tâm đến thị trường chứng khoán. Nổi trội nhất vẫn là sự trưởng
thành của các nhà đầu tư tâm lý bầy đàn hầu như không còn xuất hiện, cách đầu tư
được chuyển từ cảm tính sang lý tính theo những căn cứ là sự phát triển của doanh
nghiệp và toàn nền kinh tế.
Bước vào phiên giao dịch thứ 1000, chỉ sổ VN- Index bằng với phiên
đầu năm 2005. Thú vị hơn là VN- Indexx tăng đến 5,1% chỉ trong 4 phiên giao dịch
đầu tuần qua và đạt đến điểm tương đương mức đỉnh của chu kì giảm giá từ tháng 6
/2004 đến nay. Giá trị giao dịch trung bình của thị trường từ phiên 1000 đến phiên
1004 đột nhiên tăng vọt lên 12,8 tỷ đồng/phiên, gấp 4 lần so với mức bình quân
3,13 tỷ đồng/phiên của 48 phiên đầu năm 2005 và mức bình quân 998 phiên giao
dịch là 3.78 tỷ đồng/phiên. với nhiều nhà đầu tư, cơ hội dường như đã chín muồi
trong mắt họ khi khối lượng giao dich tăng lên đột ngột và giá cổ phiếu tăng sau
một thời gian dài ổn đình. Nhà đầu tư đến thị trường đông hơn và tiền đổ vào các tài
khoản cá nhân đã nhiều hơn. Diễn đàn website vietstock.com.vn cho rằng “ con
gấu” VN-Index đã vươn vai thức dậy sau thời gian dài ngủ đông.
Bảng quy mô giao dịch chứng khoán từ 01/01/2005 đến 01/01/2006:
Loại giao dịch Khớp lệnh Thoả thuận Tổng cộng
Giá trị giao dịch 44.780.683.913 4.454.847.118 49.235.531.031,30
Khối lượng giao dịch 617.341.230 22.771.284 673.112.514,00
2.1.5. Giai đoạn từ đầu năm 2006 đến nay.
Năm 2006, thị trường chứng khoán Việt Nam tăng trưởng nhanh trên
thế giới; chỉ số VN-Index đạt kỷ lục trong hơn 6 năm qua. Bên cạnh đó, luật chứng
khoán đã tạo ra một cuộc đua mới, và chứng khoán trở thành kênh đầu tư hấp dẫn
nhất. Với sự kiện Việt Nam gia nhập WTO khiến thị trường chứng khoán tăng
doanh nghiệp trong 2 năm liên tiếp kể từ ngày lên sàn như trước đây, tạo ra cuộc
đua thứ hai trên thị trường chứng khoán là đua lên sàn. Chỉ trong tháng 12 có đến
51 chứng khoán mới niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh.
Tổng giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu toàn thị trường chứng
khoán Việt Nam đạt 240.000 tỷ đồng, tương đương 15 tỷ USD, chiếm 25% GDP cả
nước. Trong đó, giá trị thị trường cổ phiếu niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng
khoán thành phố Hồ Chí Minh đạt 148.000 tỷ đồng, tương đuơng 9 tỷ USD, chiếm
15,36 GDP.
Nhìn lại những "nét son" trên thị trường chứng khoán Việt Nam năm
2006, nhiều nhà đầu tư đang tin tưởng vào triển vọng tốt đẹp trong năm 2007. Đầu
15
tư vào chứng khoán sẽ tiếp tục là một trong những kênh đầu tư hấp dẫn nhất trong
năm 2007.
Phiên giao dịch ngày 19-1, giá cổ phiếu tăng kỷ lục, đẩy chỉ số VN-
Index lần đầu tiên vượt qua ngưỡng 1.000 điểm, đóng cửa ở mức 1.023,05 điểm,
tăng 39,96 điểm so với phiên giao dịch trước, đánh dấu mốc phát triển quan trọng
của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Nguyên nhân khiến thị trường chứng khoán Việt Nam nóng bỏng
trong phiên giao dịch này là một loạt thông tin tích cực đối được đăng tải trên các
phương tiện thông tin đại chúng trong 2 ngày qua. Và thông tin về bảng xếp hạng
mới nhất của Tạp chí tài chính Motley Fool là Thị trường chứng khoán Việt Nam có
tiềm năng sinh lời thứ 3 thế giới; cùng với thông tin giới tài chính quốc tế tiếp tục
tin tưởng vào thị trường chứng khoán Việt Nam và coi đây là một trong những điểm
đến hàng đầu trong năm nay. Kỳ vọng vào tiềm năng của thị trường, các nhà đầu tư
tiếp tục mua vào và đẩy giá lên cao.
Phiên giao dịch ngày 25-1-2007, giá cổ phiếu trên thị trường tiếp tục
giảm mạnh, kéo chỉ số VN-Index xuống dưới mức 1.000 điểm, còn 988,86 điểm,
giảm 27,53 điểm so với phiên giao dịch trước. Đây là phiên giảm giá lớn nhất kể từ
đầu năm 2007. Sang tới phiên giao dịch 1471, ngày 29/01/2007 chỉ số VN-Index
trong thời gian tới số cổ phiếu niêm yết tại Trung tâm sẽ tăng lên rất nhiều do Chính
phủ đã có chủ trương đẩy mạnh cổ phần hoá, đưa cổ phiếu của 4 ngân hàng thương
mại Nhà nước và 53 tập đoàn và tổng công ty lớn tham gia niêm yết trên thị trường.
Phần lớn các công ty có cổ phiếu niêm yết trên thị trường đều hoạt động kinh doanh
có lãi. Đa số công ty niêm yết đều thực hiện tốt các nghĩa vụ công bố thông tin theo
đúng quy định, duy trì tiêu chuẩn niêm yết và áp dụng nhằm nâng coa quản trị công
ty. Do đó, về chất lượng của các chứng khoán trên Trung tâm cũng được đảm bảo.
Hoạt động quản lý, điều hành thị trường tính cho đến thời điểm ngày 31/12/2006,
Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức thành công
1451 phiên giao dịch. Các hoạt động giao dịch được diễn ra thông suốt. Bên cạnh
đó, Trung tâm luôn nghiên cứu các giải pháp, kiến nghị Chính phủ và Uỷ ban chứng
khoán Nhà nước ban hành những chính sách, quy định kịp thời để điều tiết thị
trường cho phù hợp với xu hướng phát triển và tạo ra môi trường đầu tư thông
thoáng, công bằng, đúng pháp luật đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của nhà đầu
tư. Đó là việc điều chỉnh biên độ giá để phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
thị trường; tăng phiên giao dịch từ 3 phiên/tuần lên 5 phiên/tuần; sử dụng các kỹ
thuật mới như: tăng từ một đợt khớp lệnh lên ba đợt trong một phiên giao dịch, chia
nhỏ lô giao dịch cổ phiếu từ 100 cổ phiếu xuống còn 10 cổ phiếu, giảm tỷ lệ ký quỹ
tiền mua chứng khoán giảm từ 100% xuống 70%, tăng tỷ lệ nắm giữ của nhà đầu tư
nước ngoài từ 20% lên 39% và 49% trên tổng khối lượng cổ phiếuniêm yết của một
tổ chức phát hành, không có giới hạn đối với trái phiếu; thay đổi phương thức giao
dịch trái phiếu, theo đó cổ phiếu chỉ được giao dịch theo phương thức thoả thuận,
không quy định khối lượng giao dịch, biên độ giao động giá, đơn vị giao dịch và
đơn vị niêm yết và nhiều chính sách giải pháp khác. Bên cạnh đó, hoạt động giám
sát giao dịch của trung tâm được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện và đề xuất
17
Thanh tra Uỷ ban chứng khoán nhà nước xử lý kịp thời các hành vi vi phạm. Nhờ
đó mà khả năng thanh khoản của các chứng khoán được đảm bảo nên chất lượng
chứng khoán được nâng cao.
Trong 1451 phiên giao dịch tính đến cuối năm 2006 thì có tổng khối
Giá trị giao dịch (tr.đ) 92.357 1.034.721 1.080.891 2.998.321 19.887.150 26.877.959 32.438.892
18
Cổ phiếu 90.215 964.020 959.330 205.022 1.970.969 2.784.291 9.703.144
Trái phiếu 2.143 70.702 121.561 2.896.299 17.883.282 23.837.589 21.728.477
Chứng chỉ quỹ 32.899 256.079 1.007.272
2.3. Một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến số lượng hàng hoá chưa nhiều
và chất lượng hàng hoá chưa cao trên trung tâm giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh.
2.3.1. Do tâm lý của các nhà đầu tư.
Lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán đã có hơn 6 năm
xây dựng và phát triển ở Việt Nam nhưng vẫn còn là lĩnh vực khá mới mẻ với đại
bộ phần công chúng ở nước ta. Trên thực tế, đa số dân chúng vẫn còn mơ hồ thậm
chí chưa có khái niệm cơ bản về lĩnh vực đầu tư chứng khoán. Hình thức gửi tiền
vào ngân hàng để hưởng lãi và đầu tư vào bất động sản là lĩnh vực quen thuộc và
được công chúng ưa chuộng tham gia thị trường nhưng có xu hướng cảm tính và
theo phong trào, bộ phận này có nhiều biểu hiện ảnh hưởng và chịu tác động bởi
hiệu ứng tâm lý “đám đông”.
Có thể nói tâm lý “đám đông” làm cho hoạt động trên Trung tâm giao
dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh không ổn định. Biểu hiện rõ nét là việc
mua bán chứng khoán ồ ạt, theo trào lưu của thị trường. Khi thị trường đang lên, thì
hầu hết các nhà đầu tư đều đặt lệnh mua và khi thị trường xuống thì ngược lại đăt
lệnh bán nhiều hơn, làm cho quan hệ cung cầu trên thị trường bị mất cân đối, dẫn
đến chỉ số cổ phiếu VN- Index hoặc liên tục tăng hoặc liên tục giảm trong thời gian
khá dài.
Trong 6 tháng cuối năm 2001 nhiều nhà đầu tư phải chịu những mất
mát không nhỏ khi chỉ số VN-Index liên tục giảm sút và điều này đã làm ảnh hưởng
rất nhiều tới tâm lý các nhà đầu tư chứng khoán. Giai đoạn đầu, thị trường chứng
khoán Việt Nam có giá cổ phiếu tăng một cách chóng mặt, nhiều nhà đầu tư bỏ tiền
vào mua cổ phiếu ở mức giá quá cao- giá ảo và thị trường quay trở lại tốc độ tăng
trưởng bình thường, giá cổ phiếu giảm dần theo đúng giá trị thực của nó, thì các nhà
tồn đọng về giải quyết nguồn nhân lực hoặc thuộc các lĩnh vựa kinh doanh ít lợi
nhuận, vì vậy một số doanh nghiệp bán đáu giá cổ phiếu ra công chúng nhưng
không có người mua. Tuy đã có hàng trăm công ty tổ chức đấu giá cổ phiếu công
khai trên thị trường nhưng tính đại chúng chưa cao, có nhiều doanh nghiệp tổ chức
bán đấu giá cổ phần nhưng chưa đảm bảo phát hành ra công chúng mà chỉ có một
vài tổ chức, các nhân mua hết lượng cổ phiếu đấu giá. Cũng chính vì vậy, cổ phiếu
của các công ty đã đấu giá chưa đáp ứng các tiêu chí đưa vào niêm yết và giao dịch
trên thị trường tập trung.
Bên cạnh đó doanh nghiệp phải tốn kém nhiều chi phí tư vấn, kiểm
toán, đầu tư lại phần mềm, tổ chức lại bộ máy kế toán để đảm bảo việc hạch toán
nhanh chóng kịp thời cung cấp các thông tin cho các nhà đầu tư. Bộ máy lãnh đạo
mất nhiều thời gian nghiên cứu về thị trường chứng khoán , nghiên cứu văn bản
pháp luật để tránh bị phạm luật, doanh nghiệp niêm yết còn chịu sự quản lý của nhà
nước của Uỷ ban chứng khoán và Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh . Đa phần các doanh nghiệp cho rằng, khi ra niêm yết điều lệ tối thiểu trên
20
10 tỷ đồng, 2 năm liền họ sẽ chịu nhiều bất lợi như doanh nghiệp tham gia niêm yết
trên thị trường chứng khoán. Khi được niêm yết thì các doanh nghiệp phải thực
hiện rất nhiều nghĩa vụ so với trước khi ra niêm yết như: phải thực hiện chế độ tài
chính công khai công bằng và minh bạch; cung cấp thông tin nhanh chóng kịp thời;
phải áp dụng điều lệ mẫu cho công ty niêm yết khi đối thủ biết được nhiều thông tin
về họ; việc công khai niêm yết thông tin tài chính sẽ làm cho các đối tác và khách
hàng gia tăng áp lực giảm giá bán sản phẩm. Cộng thêm sự thiếu hiểu biết của công
chúng về thị trường chứng khoán , không biết mình tham gia thị trường chứng
khoán thì sẽ mua gì, bán gì ở đó. Khi tham gia thì quyền lợi của doanh nghiệp sẽ
được gì, mất gì. Ngoài ra, thủ tục hành chính khi doanh nghiệp xin giấy phép niêm
yết còn nhiều vướng mắc…
Tóm lại, những doanh nghiệp đủ điều kiện niêm yết tuy rằng lợi ích
tham gia là chưa rõ ràng, nhu cầu chưa cấp bách bản thân thị trường mới đi vàp hoạt
động trong khi đó tham gia thị trường thì gặp không ít những khó khăn. Do vậy, họ
bản, song vẫn còn nhiều khoảng trống trong việc quản lý nhứng hoạt động công
khai, minh bạch, chưa điều chỉnh một cách thống nhất và đồng bộ các công ty đại
chúng về hoạt động phát hành ra công chúng, quản trị công ty, về thiết kế kiểm
toán, thông tin minh bạch công khai thường xuyên…
Hoạt động phát hành chứng khoán ra công chúng của các loại hình
doanh nghiệp cho đến nay vẫn chưa được pháp luật điều chỉnh một cách thống nhất.
Các quy định đối với hoạt động phát hành ra công chúng không thống nhất, không
bình đẳng đối với mọi đối tượng. Chính sự bất bình đẳng về luật pháp làm cho
nhiều doanh nghiệp vẫn có thể phát hành đại chúng mà không bị quản lý, không
phải công khai thông tin, không phải áp dụng cách thức quản trị công ty phù hợp.
Các công ty đã là đại chúng không cần niêm yết trên thị trường chứng khoán vẫn có
thể huy động vốn đại chúng mà không bị pháp luật điều chỉnh. Điều này là một
trong những nguyên nhân chưa khuyến khích thúc đẩy việc niêm yết và giao dịch
chứng khoán trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Mặt khác, các quy định pháp luật chuyên ngành về phát hành và niêm
yết chứng khoán tuy đã bước đầu đáp ứng yêu cầu của thị trường, nhưng vẫn chưa
thực sự phù hợp, linh hoạt và chưa thực sự tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp phát
hành, niêm yết và đăng ký giao dịch, chẳng hạn như việc quy định một tiêu chuẩn
cứng duy nhất của tất cả các loại hình tổ chức phát hành hay niêm yết là chưa đầy
đủ và hợp lý, chưa khuyến khích nhiều loại hình tổ chức phát hành và niêm yết.
Do môi trường pháp lý chưa đồng bộ và ổn định nên ảnh hưởng đến chất lượng và
số lượng của chứng khoán giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán thành
phố Hồ Chí Minh.
2.3.5. Tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước diễn ra qua
chậm.
Sau khi nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý của
Nhà nước thì một vấn đề được đặt ra và thực hiện ngay khi đó là cổ phần hoá các
doanh nghiệp Nhà nước. Đó là điều tất yếu vì ngân sách nhà nước không thể ‘bao”
cho một khối lượng doanh nghiệp lớn như vậy. Đa số các doanh nghiệp nhà nước
22
họ ra quyết định mua bán chứng khoán. Mà khi có hoạt động giao dịch của các nhà
đầu tư sẽ phản ánh được chất lượng của hàng hoá hoạt động trên thị trường. Từ đó
giúp các doanh nghiệp đưa ra các quyết định đúng đắn cho doanh nghiệp trong việc
niêm yết mới, bổ sung các chứng khoán kịp thời, góp phần tăng số lượng hàng hoá
trên Trung tâm.
23
Chương III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VÀ SỐ LƯỢNG
CHO HÀNG HÓA TẠI TRUNG TÂM GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1. Giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô và phát huy nhịp độ tăng trưởng
kinh tế.
Đây là giải pháp bao trùm vì thị trường chứng khoán không chỉ phụ
thuộc vào bản thân nó mà sâu xa hơn là nó phụ thuộc vào chính môi trường mà nó
đang tồn tại. Thật vậy, một nền kinh tế tăng trưởng vững chắc sẽ cung cấp cho thị
trường chứng khoán những hàng hoá có chất lượng cao, số lượng nhiều và chủ thể
tham gia vào thị trường chắc chắn sẽ sôi động. Điều đó được thể hiện bằng sự ra đời
của thị trường chứng khoán Singapo trước đây. Ngược lại, một nền kinh tế suy thoái
hay kém năng động thì hoạt động của các doanh nghiệp sẽ khó khăn, do đó thị
trường mà các chủ thể tham gia sẽ kém sôi động. Số luợng hàng hoá trong thị
trường sẽ ít đi và kém chất lượng. Khi đó thị trường hoạt động sẽ kém hiệu quả và
bất ổn. Ví dụ như thị trường chứng khoán Nhật Bản hay Mỹ chỉ cần một dấu hiệu
suy thoái của nền kinh tế thì tác động ngay đến thị trường chứng khoán ngay tức
khắc. Đối với Việt Nam cũng vậy, muốn thị trường chứng khoán phát triển thì nền
kinh tế phải giữ được tốc độ tăng trưởng ổn định. Sau sự suy thoái liên tục trong
giai đoạn 1995-1999 thì từ năm 2000 cho đến nay tốc độ tăng trưởng của nền kinh
tế nước ta cũng đã làm sáng sủa đôi chút cho nền kinh tế nói chung và cho thị
trường chứng khoán nói riêng. Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã thổi một luồng gió
mát cho thị trường bởi các doanh nghiệp làm ăn hiệu quả hơn, môi trường đầu tư
hấp dẫn hơn, từ đó kéo người đầu tư đến với thị trường nhiều hơn cũng như các
công ty niêm yết sẽ tăng và đặc biệt là nguồn vốn nước ngoài sẽ chảy vào nền kinh
quả nhằm tạo lập một hệ thống văn bàn pháp luật đồng bộ điều chỉnh thị trường
chứng khoán một cách toàn diện, phù hợp với thực tiễn thị trường cũng như các
thông lệ và chuẩn mực Quốc tế. Để công tác tạo hàng cho thị trường chứng khoán
có thể thuận lợi và hiệu quả hơn phải triển khai Luật chứng khoán và các pháp luật
liên quan nhằm bình đẳng hoá các đối tượng doanh nghiệp có chứng khoán phát
hành đại chúng về mọi nghĩa vụ và quyền lợi, đặc biệt là nghĩa vụ công khai minh
bạch thông tin, các quyền lợi ưu đãi từ phía Nhà nước.
Bên cạnh đó, thường xuyên rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp
quy về thị trường chứng khoán để đảm bảo đáp ứng được thực tiễn phát triển của
thị trường. Nghiên cứu hoàn chỉnh các quy định về sự tham gia của các nhà đầu tư
nước ngoài vào thị trường chứng khoán Việt Nam theo lộ trình và phù hợp với điều
kiện của Việt Nam, chính sách tuế, quy định về kế toán đối với các tổ chức tài chính
khi tham gia thị trường. Phối hợp với các cơ quan hữu quan trong việc xây dựng,
ban hành, sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan để giảm thiểu sự mâu
thuẫn, khác biệt và sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật.
3.3. Giải pháp thúc đẩy tiến trình cổ phần hoá các doanh nghiệp.
Trước hết cần có chính sách và chỉ đạo kiên quyết, sâu sát hơn của
Chính phủ và các cơ quan hữu quan đối với việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước ở các lĩnh vực hoạt động có lãi, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu
quả và có quy mô vốn lớn đủ điều kiện thu hút người đầu tư và tham gia vào thị
trường chứng khoán như Ngân hàng, dầu khí, viễn thông… Đổi mới chính sách cổ
25