Đề tài: QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUAN HỆ PHÂN PHỐI Ở NƯỚC TA TRONG THỜI GIAN TỚI. potx - Pdf 15


1

Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học kinh tế quốc dân


Đề án kinh tế chính trị

Đề tài: Quan hệ phân phối ở nớc ta hiện nay Thực trạng và
giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ phân phối ở nớc ta trong
thời gian tới. Giáo viên hớng dẫn: TS. Trần Việt Tiến
Sinhviên thực hiện: Đặng Hồng Minh
Lớp: Quản trị Nhân lực A
Khoá: 44
Năm học: 2003-2004

hàng loạt các vấn đề thuộc lĩnh vực phân phối thu nhập nh tiền lơng, lợi nhuận, lợi
tức đã nảy sinh, đòi hỏi phải có những cải cách thờng xuyên, liên tục để phù hợp
với những nguyên lý kinh tế kinh tế thị trờng cũng nh những đòi hỏi cấp thiết của
xã hội đang đặt ra. Vì vậy việc nghiên cứu quan hệ phân phối trong nền kinh tế thị
trờng và vận dụng vào Việt Nam là hết sức cấp thiết, cấp bách và có ý nghĩa quan
trọng cả về lý luận và thực tiễn.
Hơn thế nữa, trong chặng đờng đầu của thời kỳ quá độ ở nớc ta, do nền kinh tế
có nhiều thành phần kinh tế vận động trong cơ chế thị trờng nên cũng có nhiều lợi
ích kinh tế khác nhau và tất yếu cũng xuất hiện mâu thuẫn giữa các lợi ích kinh tế.
Việc phát hiện và giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế đợc thực hiện qua phân
phối. Do đó việc nghiên cứu quan hệ phân phối đợc xem là chìa khoá để tháo gỡ cho
các vấn đề liên quan đến việc phân chia các lợi ích trong xã hội.
Xuất phát từ những yêu cầu mang tính cấp bách đó đòi hỏi mỗi cá nhân phải
nhận thức rõ vai trò và tầm quan trọng của phân phối trong xã hội. Bài luận này với
mục đích nghiên cứu quan hệ phân phối ở Việt Nam trong những năm vừa qua từ đó
đa ra một số kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện quan hệ ở nớc ta ta thời gian tới,
đã thể hiện rõ quan điểm của cá nhân em trong quá trình nghiên cứu quan hệ phân
phối. Hy vọng rằng nó sẽ góp phần nhỏ bé vào quá trình hoàn thiện quan hệ phân phối
ở nớc ta nhằm đạt đợc mục tiêu

Tăng trởng kinh tế phải gắn với tiến bộ xã hội và
công bằng xã hội ngay trong từng bớc phát triển
,,
.
(1)

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Việt Tiến đã tận tình chỉ bảo để em
hoàn thành đề án này. Hy vọng rằng những kiến thức này sẽ có ích cho cho đất nớc
trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá.


đò vật đợc chủ thể hoá,trong phân phối dới hình thái những quy định phổ biến có tác
dụng chi phối thì xã hội đảm nhiệm vai trò trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng.Phân
phối xác định tỷ lệ về lợng sản phẩm dành cho cá nhân. Trao đổi xác định những sản
phẩm trong đó cá nhân đòi hỏi phần phân phối dành cho mình. Mac đã nhận định
rằng:

Một nền sản xuất nhất định quyết định một chế độ tiêu dùng nhất định, một
chế độ trao đổi nhất định cũng ảnh hởng đến phân phối.
,, (1)
Trên thực tế nếu ta chỉ
nhận định rằng các khâu đó chỉ là các bớc kế tiếp của nhau thì cha phản ánh hết
đợc bản chất bên trong mang tính khách quan của quá trình tái sản xuất. Sản xuất
chụi ảnh hởng bởi các quy luật của tự nhiên và phân phối cũng chụi ảnh hởng bởi
các quy luật ngẫu nhiên của xã hội, nên nó có ảnh hởng ít nhiều thuận lợi đến sản
xuất. Kế tiếp đó là quá trình trao đổi đợc xem nh sự vận động xã hội có tính hình
thức, còn hành vi cuối cùng là tiêu dùng, không những đợc coi là điểm kết thúc mà

(1): C.Mac- Angghen VI tập, tập IV, NXB Sự Thật, Hà Nội 1983 trg 300-301
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

4

còn là mục đích cuối cùng. Nh vậy phân phối đợc xem là công cụ đảm bảo
cho các quá trình tái sản xuất hoạt động một cách trôi chảy, là động lực cho các thành
viên trong nền kinh tế hoạt động một cách có hiệu quả.
1.1.2 Bản chất của quan hệ phân phối.
Tính chất của quan hệ phân phối do quan hệ sở hữu về t liệu sản xuất quyết
định. Khi ta xét nó trong mối quan hệ giữa ngời và ngời thì phân phối do quan hệ
sản xuất quyết định. Quan hệ sản xuất nh thế nào thì quan hệ phân phối nh thế đó

Cuối cùng phần vật phẩm tiêu dùng còn lại mới đợc trực tiếp phân phối cho
tiêu dùng cá nhân của những ngời làm việc trong nền sản xuất xã hội phù hợp với
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

5

chất lợng và số lợng của lao động cũng nh số lợng vốn và tài sản mà họ đóng góp
cho quá trình sản xuất.
1.2 Vai trò của quan hệ phân phối
Bàn về vai trò của phân phối trong nền sản xuất xã hội, F.Ăngghen cho rằng:


Sự phân phối chừng nào mà còn bị những lý do thuần tuý kinh tế chi phối, thì nó sẽ
đợc điều tiết bởi lợi ích của sản xuất, rằng sản xuất sẽ đợc thuận lợi trên hết trong
mọi phơng thức phân phối mà mọi thành viên trong xã hội có thể phát triển, duy trì
và thực hiện những năng khiếu của họ một cách toàn diện nhất.
,, (1)

Ta thấy rằng mỗi một hình thái kinh tế xã hội đều bao gồm cả một hệ thống
phức tạp các lợi ích mà trong đó lợi ích kinh tế đóng vai trò quyết định. Các lợi ích
kinh tế đợc quy định bởi quan hệ sản xuất cua mỗi chế độ xã hội, trong đó quan hệ
sở hữu với t liệu sản xuất có vai trò chi phối hệ thống lợi ích kinh tế.
Bản chất của quan hệ sản xuất trong mối phơng thức sản xuất đợc thể hiện
qua hình thức sở hữu - đó không phải là quan hệ đơn thuần nh mọi sự việc tồn tại
trong xã hội mà nó là mối quan hệ phức tạp giữa con ngời với con ngời. Trong lịch
sử không hề có một hình thái sở hữu nào mà không phản ánh những quan hệ trong sản
xuất.

Nơi nào không có một hình thái sở hữu nào cả thì ở đó không tồn tại một nên


6

Đó là lợi ích nhà nớc, lợi ích tập thể lợi ích và lợi ích của bản thân ngời lao động. Sự
thống nhất giữa các hình thức lợi ích kinh tế khác nhau trong xã hội sẽ dẫn đến sự liên
hệ chặt chẽ và thâm nhập nhau giữa chúng. Trong đó lợi ích cá nhân trực tiếp là động
lực mạnh mẽ nhất đối với sự phát triển của xã hội.
Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ đã nói lên sự
không đồng nhất về lợi ích kinh tế xã hội. Tuy nhiên đây là một xu thế tất yếu bởi
điểm xuất phát đi lên là thấp trong khi đó yêu cầu hội nhập quốc tế là cách duy nhất
để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá. Tơng ứng với quá trình đó,
trong nền kinh tế sẽ có nhiều quy luật vận động. Các quy luật kinh tế phát sinh trên cơ
sở những quan hệ kinh tếa tơng ứng và cũng trực tiếp quy định sự hình thành các lợi
ích kinh tế của từng giai cấp từng tầng lớp dân c trong xã hội. Tuy nhiên bên cạnh sự
thống nhất giữa các lợi ích kinh tế cơ bản, không loại trừ những mâu thuẫn giữa chúng
cũng nh trong phạm vi mỗi nhóm lợi ích. Vì vậy cần phải phát hiện kịp thời các mâu
thuẫn giữa các lợi ích và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó.
Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế đợc thực hiện thông qua quan
hệ phân phối. Khi phơng thức sản xuất còn phù hợp (lợi ích của giai cấp thống trị còn
phù hợp với lợi ích của xã hội) thì ngời ta còn bằng lòng với sự phân phối của xã hội.
Nhng khi nó thoái trào thì không còn điều kiện để tồn tại phân phối bởi phân phối
khi đó đã không còn là công cụ đẩm bảo cho sự công bằng xã hội, bất công ngày càng
sâu sắc đẫn đến đấu tranh xã hội và cuối cùng là một phơng thức sản xuất mới ra đời.
Nh vây quan hệ phân phối mang tính lịch sử và thớc đo mức độ tiến bộ của một
hình thái xã hội. Nó chỉ có thể thay đổi khi quan hệ sản xuất đẻ ra quan hệ phân phối
đó mất đi - đó là thông qua cách mạng xã hội.Bởi trong mỗi hình thái kinh tế thì quan
hệ phân phối giải quyết những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế và đến khi nào nó không
thể giải quyết đợc nữa thì tất yếu sẽ bị thay thế bằng hình thức phân phối khác cho
phù hợp.
1.3 Các hình thức phân phối ở nớc ta hiện nay.

cho các quỹ xã hội.
,,(1)
Mac coi đây là nguyên tắc phân phối cơ bản trong CNXH. Vì
nó là thành quả của lao động, tác động trực tiếp vào tính tích cực của lao động xã hội.
Đó là nguyên tắc phân phối đảm bảo công bằng cho những ngời sản xuất ngang
nhau, tham gia vào quỹ tiêu dùng xã hội khi làm công việc ngang nhau.
Trong giai đoạn ngày nay phân phối theo lao động phải đợc dựa trên kết quả
lao động và hiệu quả kinh tế. Việc đánh giá thông qua hai tiêu chí này không những
phản ánh đợc đầy đủ mặt lợng của lao động mà còn phản ánh đợc mặt chất ẩn sâu
trong phạm trù lao động đóng góp thực sự là bao nhiêu?. Chính vì việc phản ánh đúng
và đầy đủ nên phân phối theo lao động đợc coi là hình thức phân phối chủ yếu ở nớc
ta hiện nay. Nó không chỉ đảm bảo công bằng mà còn tạo động lực cho ngời lao
động làm việc hăng say, không ngừng nâng cao kiến thức, trình độ tay nghề.
1.3.1.2 Tính tất yếu của việc phân phối theo lao động.
Trong thời kỳ quá độ ở nớc ta hiện nay thì phân phối theo lao động là hình
thức thức căn bản, là nguyên tắc phân phối chủ yếu thích hợp nhất với các thành phần
kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công hữu về t liệu sản xuất. Trong thành phần kinh tế
này tất cả mọi ngời dều có quyền bình đẳng đối với t liệu sản xuất, thì chỉ có thể
thực hiện phân phối giữa những ngời lao động với nhau thông qua việc láy lao động
làm thớc đo. Đối với các thành phần kinh tế thì việc phân phối theo lao động là một
điều tất yếu. Bởi nhiều nguyên nhân:
Nhờ dựa trên chế độ công hữu mà chế độ ngời bóc lột ngời bị xoá bỏ.
Quyền làm chủ về mặt kinh tế đợc xác lập. Lao động đang trở thành cơ sở quyết định
địa vị xã hội và phúc lợi vật chất của mỗi ngời.Chính vì vậy mà phân phối theo lao
động và phù hợp với các thành phần kinh tế đang tồn tại ở nớc ta hiện nay.
Lý do thứ hai khiến phân phối theo lao động là cần thiết là: trình độ phát triển
của lực lợng sản xuất còn thấp, cha có đủ sản phẩm để phân phối theo nhu cầu. Tiếp
đó là sự khác biệt về tính chất và trình độ lao động Dẫn đến mỗi ngời có cống
hiến khác nhau đến kết quả lao động do đó phải căn cứ vào lao động đã cống hiến cho
xã hội để phân phối.

chất tinh thần của ngời lao động.
Trong quá trình phân phối theo lao động cần chống hai sai lầm cơ bản khi thực
hiện, đó là chủ nghĩa bình quân tiểu t sản trong việc trả công lao động, vì nó gạt bỏ
hoàn toàn nuyên tắc lợi ích vật chất, kìm hãm động lực lao động của ngời lao động.
Thứ hai là khuynh hớng đòi mở rộng quá mức khoảng cách giữa các bậc lơng, thang
lơng một cách không có căn cứ kinh tế và những đòi hỏi có sự u đãi đặc biệt đối với
một số ngời.
Thực hiện tốt phân phối theo lao động sẽ có nhiều tác dụng to lớn đối với xã
hội và bản thân ngời lao động. Bởi lẽ nó đáp ứng đợc những đòi hỏi cấp bách của sự
công bằng xã hội đang đặt ra ở n
ớc ta, nó kết hợp chặt chẽ lợi ích của sản xuất xã
hội với lợi ích của từng cá nhân lao động. Nó khuyến khích ngời lao động đi
sâu vào nghề nghiệp chuyên môn làm
cho đội ngũ lao động lành nghề ngày càng
đông đảo. Điều đó còn thúc đẩy ngời lao động ra sức học tập văn hoá kỹ thuật, góp
phần làm cho sự khác biệt giữa lao động trí óc và lao động bằng chân tay bị xoá bỏ
dần. Tạo điều kiện cho việc phân bổ và sử dụng nguồn sức lao động đợc ổn định
trong cả nớc đảm cho sản xuất xã hội cân bằng và có kế hoạch. Thêm vào đó nó góp
phần giáo dục về quan điểm, thái độ và kỷ luật lao động đối với mỗi thành viên xã hội.
Nó làm cho bản thân ngời lao động vì lợi ích vật chất của mình mà quan tâm đến kết
quả lao động của mình , từ đó ra sức mà đẩy mạnh sản xuất.
Tuy nhiên để thực hiện đợc mục tiêu

làm theo năng lực hởng theo nhu cầu
,,

thì còn nhiều việc phải làm. Bởi theo Mac phân phối theo lao động vẫn là một thứ
pháp quyền t sản, quyền bình đẳng vẫn nằm trong khuôn khổ t sản, tức là trong xã
hội sản xuất hàng hoá đợc thực hiện theo nguyên tắc trao đổi ngang giá và quyền của
ngời lao động tỷ lệ với lao động ngời ấy cung cấp thì điều đó vẫn còn thiếu xót. Bởi

Với nhu cầu vốn lớn nh vậy nhng nền kinh tế lại xuất phát từ một nền sản
xuất nhỏ có đặc điểm nổi bật đó là tình trạng thiếu vốn và phân tán vốn , quá trình sản
xuất , tích tụ và tập trung vốn cha cao, một phần tơng đối lớn vốn sản xuất hiịen nay
vẫn còn nằm rải rác, phân tán trong tay những ngời lao động t hữu nhỏ, t sản nhỏ
dới nhiều dạng hình thức khác nhau. để có thể sử dụng đợc nguồn vốn đó cho sản
xuất xã hội chúng ta không thể áp đặt các chính sách nh trng thu, trng mua hay
đóng góp cổ phần một cách bình quân. Vì tất cả cách biện pháp đó đều là suy yếu lực
lợng sản xuất vốn có của xã hội. Biện pháp đợc xem là hiệu quả nhất đó là phải có
chính sách khuyến khích cho ngời sở hữu tài sản đầu t vào việc phát triển sản xuất,
từ đó không chỉ tạo lợi nhuận cho chính bản thân họ mà còn phát triển đợc nền sản
xuất, giải quyết đợc nhu cầu việc làm đang trở nên ngày càng cấp thiết.
1.3.2.2 Quá trình thực hiện phân phối theo tài sản hay vốn và những đóng góp
khác.
Từ sau nghị quyết Hội nghị lần thứ VI Ban chấp hành trung ơng (khoá VI) ở
nớc ta đã xuất hiện các biện pháp huy đọng vốn nh một số đơn vị kinh tế quốc
doanh và tập thể đã huy động vốn của dân c dới các hình thức vay vốn, hùn vốn và
góp vốn cổ phần không hạn chế với mức lãi hợp lý Cách làm nh vậy đã có tác
dụng đa đợc vốn nhàn rỗi vào vòng chu chuyển. Qua đó kinh tế quốc doanh và kinh
tế tập thể nắm quyền sử dụng một nguồn vốn to lớn hơn nhiều nguồn vốn tự có. Nh
vậy, mặc dù sở hữu vốn là t nhân, nhng việc sử dụng vốn đã mang tính xã hội.
Trớc nhu cầu vốn nh hiện nay cần tạo đủ điều kiện pháp lý để các thành
phần kinh tế , t nhân cá thể và tất cả các thành viên trong xã hội yên tâm mạnh dạn
đầu t vốn vào sản xuất kinh doanh để nguồn vốn không chỉ tạo ra cơ hội sinh lợi cho
các thành viên tham gia đầu t mà còn tạo ra những lợi ích kinh tế xã hội to lớn.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

10

Đại hội VI của Đảng nhấn mạnh: Cần sửa đổi bổ sung và công bố rộng rãi các

là một điều tất yếu.
Với bản chất của chế độ XHCN và mục tiêu đảm bảo cho các thành viên trong
xã hội có điều kiện phát triển, cùng với đó là xu hớng toàn cầu vì một thế giới tốt đẹp
hơn thì việc phân phối ngoài thù lao lao động đang ngày càng đợc chú trọng quan
tâm hơn, không chỉ vì để ổn định chính trị mà con vì đạo lý tốt đẹp từ ngàn đời xa.
1.3.3.2 Yêu cầu và tác dụng của việc phân phối ngoài thù lao lao động thông qua
các quỹ phúc lợi xã hội.
Muốn thực hiện có hiệu quả trớc tiên phải đảm bảo những nhu cầu thiết yếu
về vật chất cho các thành viên trong xã hội. Mặt khác, ngay mức sống của cán bộ công
nhân viên chức nhà nớc và những ngời làm việc trong tất cả các thành phần kinh tế
cũng không chỉ dựa vào tiền công cá nhân mà còn dựa vào một phần các quỹ phúc lợi
công cộng của nhà nớc, của các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế xã hội khác.
Việc phân phối ngoài thù lao động sẽ ngày càng đợc chú trọng hơn khi nền
kinh tế phát triển. Tuy nhiên trong điều kiện kinh tế nớc ta hiện nay thì việc phân
phối này cha phải là phân phối theo nhu cầu nh trong giai đoạn cao của chủ nghĩa
cộng sản mà C.Mac đã dự đoán. Đây là một hình thức phân phối quá độ, nó phù hợp
với xu hớng phát triển của xã hội. Hình thức phân phối này là sự bổ sung cần thiết và
quan trọng đối với nguyên tắc phân phối theo lao động. Nó thích hợp nhất với việc
thoả mãn những nhu cầu công cộng của xã hội. Nó có lợi trớc hết cho những gia đình
có thù lao lao động tơng đối thấp. Nó chẵng những bảo đảm cho các thành viên xã
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

11

hội có mức sống bình thờng tối thiểu mà còn có tác dụng kích thích lao động sản
xuất, kích thích sự phát triển toàn diện của mọi thành viên xã hội.
Bằng những tác dụng to lớn của hình thức phân phối này nó khẳng điịnh việc
xây dựng các quỹ phúc lợi xã hội là việc làm cần thiết và ngày càng có ý nghĩa to lớn.
Đảng ta rất coi trọng việc mở rộng dần các sự nghiệp phúc lợi xã hội với hai mục tiêu

những mối quan hệ, thì vấn đề phân phối thu nhập nh thế nào để nó vừa là động lực
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

12

cho phát triển kinh tế xã hội, và đảm bảo tính công bằng xã hội. Chínhvì vậy, nó
đang đòi hỏi phải có những chính sách hợp lý và đang là một thách thức to lớn đối với
đảng và nhà nớc ta.
Trớc tiên ta cần xem xét vai trò của nó duới các phơng diện khác nhau bởi
phân phối thu nhập có ảnh hởng to lớn đối với sản xuất. Mac đã từng nói tới vai trò
của phân phối đói với sản xuất, trên phơng diện phân phối trực tiếp các yếu tố cho
quá trình sản xuất, nó nối liền sản xuất với sản xuất. Điều đó có nghĩa là nó đảm bảo
các yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp, đảm bảo các nguồn lực cho sản xuất kinh doanh
để cung cấp hàng hoá trên thị trờng sản phẩm. Sự phân phối các nguồn lực diễn ra
thông suốt sẽ đảm bảo quă trình tái sản xuất đợc tiến hành một cách liên tục.
Mặt khác, phân phối thu nhập quyết định tiêu dùng của các chủ thể yếu tố sản
xuất. Thông qua phân phối thu nhập các chủ thể yếu tố sản xuất có đợc thu nhập để
mua hàng tiêu dùng và dịch vụ trên thị trừng hàng tiêu dùng hàng hoá và dich vụ. Về
cơ bản quy mô của phân phối quyết định quy mô của tiêu dùng. Các chủ thể nhận
đợc thu nhập nhiều thì mức tăng tiêu dùng sẽ càng cao hơn về tuyệt đối.
Kể từ sau đại hội Đảng VI năm 1986 chúng ta đã từng bớc xáo bỏ cơ chế
bình quân bao cấp, thực hiện chế độ phân phối theo nguyên tắc thực hiện nhiều hình
thức phân phối, lấy phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế là chủ yếu,
đồng thời phân phối dựa trên mức đóng góp các nguồn lực khác vào kết quả sản xuất
kinh doanh và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội đi đối với chính sách điều
tiết hợp lý nhằm bảo hộ quyền lợi ngời lao động. Nguyên tắc phân phối theo lao
động đã phát huy tác dụng trong khu vực kinh tế quốc doanh và tập thể. Trong các
doanh nghiệp nhà nớc và các tổ chức kinh tế thuộc sở hữu của nhà nớc phân phối
theo lao động động biểu hiện dới hình thức tiền lơng còn các doanh nghiệp thuộc sở

thành công việc đợc giao, và không ngừng học hỏi nâng cao trình độ tay nghề vì
chính lợi ích của bản thân, đồng thời góp phần nâng cao trình độ lực lợng của toàn xã
hội.
Trong quá trình sử dụng tiền lơng đợc phân biệt thành tiền lơng danh nghĩa
và tiền lơng thực tế. Nếu tiền lơng danh nghĩa là tiền lơng mà ngời lao động nhận
đợc dới hình thức tiền tệ còn tiền lơng thực tế đợc biểu hiệ bằng số liệu t liệu
sinh hoạt và ngời lao động đợc sử dụng. Mức tiền lơng thực tế chỉ rõ số lợng vật
phẩm tiêu dùng và dịch vụ mà ngời lao động có thể mua đợc bằng tiền lơng danh
nghĩa của mình. Sự biến động của tiền lơng thực tế chịu ảnh hởng của nhiều nhân tố
nh: việc tăng giá cả của hàng hoá, tăng thuế, tăng chi phí vận chuyển những nhân
tố này sẽ hạ thấp giá trị của tiền lơng thực tế. Chính vì vậy mà trong thời gian vừa
qua nhà nớc ta đã chú trọng tới việc tăng các mức lơng tối thiểu, tăng trợ cấp hu trí
tăng các khoản phụ cấp và các khoản thu nhập bằng tiền khác cho ngời lao động để
giá trị của tiền lơng thực tế không bị giảm dần theo thời gian. Việc tăng tiền lơng
đợc thể hiện trên cơ sở không ngừng phát triển sản xuất, đảm bảo công ăn việc làm
đầy đủ.
Trong cơ chế thị trờng định hớng XHCN thì vai trò của nhà nớc là vô cùng
quan trọng, cụ thể nhà nớc trực tiếp định mức kao động, trực tiếp định mức tiềm
lơng, duyệt quỹ tiền lơng, quy định thang lơng, bảng lơng, bậc lơng cụ thể cho
các doanh nghiệp nhà nớc (chiếm đa số trong nền kinh tế quốc dân) phải thực hiện.
Tuy nhiên đối với các doanh nghiệp t nhân tiền lơng là chỉ số đánh giá hiệu quả của
sản xuất kinh doanh, cùng nhiều chỉ tiêu khác, nhà nớc chi khống chế tiền lơng tối
thiểu không khống chế tiền lơng tối đa. Chính sách tiền lơng đợc coi là một bộ
phận quan trọng trong hệ thống các chính sách kinh tế xã hội, tác động trực tiếp đến
đời sống của những ngời làm công ăn lơng, đến đời sống của những ngời dân trong
xã hội. Đồng thời chính sách tiền lơng còn ảnh hởng sâu sắc đến sản xuất, đến mối
quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, đến quan hệ giữa các tầng lớp lao động, giữa các
ngành nghề, các khu vực, đến động lực tăng trởng và phát triển kinh tế, đến năng suất
và hiệu quả công tác, đến vấn đề ổn định chế độ chính trị xã hội. Chính vì lẽ đó nhà
nớc ta luôn luôn quan tâm đến cải cách và hoàn thiện chế độ tiền lơng để làm sao

tiền vay thể hiện ở mức lợi tức là tỷ kệ phần trăm giữa số lợi tức và số tiền cho vay.
Mức thực tế của tỷ suất lợi tức do quan hệ giữa cung và cầu về lợng tiền tệ cho vay ở
từng giai đoạn khác nhau.
Theo nhận định của các nhà kinh tế học để huy động đợc vốn đàu t nớc
ngoài thì vốn trong nớc huy động phải cao gấp 1,5 lần vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài cần huy động (FDI). Trên thực tế dân c luôn có một khối lợng tiền tệ nhàn rỗi
dới nhiều hình thức: tiền mặt, kim khí quý, ngoại tệ Với một khối lợng lớn nh
vậy cần phải có chính sách thu hút vốn đầu t để phát triển sản xuất đang ngày càng
đợc chú trọng. Khi đầu t vào các doanh nghiệp họ sẽ thu đợc lợi tức, nh vậy lợi
tức đã trở thành một hình thức thu nhập hợp pháp không chỉ phù hợp trong thời kỳ quá
độ ở nớc ta mà còn tạo thu nhập cho nhiều tầng lớp dân c khác trong xã hội, thông
qua việc đầu t mở rộng sản xuất từng bớc thoả mãn nhu cầu của ngời dân.
Trong thời kỳ quá độ ở nớc ta đã xuất hiện các doanh nghiệp và các công ty
cổ phần trong nhiều nghành và nhiều lĩnh vực kinh tế khác nhau. đó là xu hớng hợp
với quy luật, phù hợp với cơ cấu kinh tế và cơ chế mới ở nớc ta. Thu nhập mà các chủ
đầu t cổ phiếu nhận đợc là lợi tức cổ phần. Lợng lợi tức cổ phần này phụ thuộc vào
thu nhập của doanh nghiệp trong năm. Hiện nay nhà nớc ta cho phép thành lập và mở
rộng các công ty cổ phần nhằm thu hút một khối lợng lớn vốn nhàn rỗi hoặc sử dụng
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

15

kém hiệu quả vào việc phát triển sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp và cả cá nhân
ngời lao động đều có quyền mua cổ phiếu để nhận đợc lợi tức cổ phần dựa trên
những đóng góp của mình vào thành quả chung của doanh nghiệp.
2.1.2 Quan hệ phân phối trong nền kinh tế thị trờng và những vấn đề
còn tồn tại.
Cùng với quá trình chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đòi hỏi tất yếu phải đổi mới các

cán bộ đều là con cháu của những ngời trong ngành hoặc cán bộ ở các cơ quan khác,
thêm vào đó là tình trạng kéo bè kéo cánh làm các doanh nghiệp không còn đơn thuần
vì mục đích kiếm lời mà còn vì nhiều mục đích khác.
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

16

2.1.2 Quá trình thực hiện cính sách tiền lơng còn nhiều bất cập.
Trong những năm vừa qua chính sách tiền lơng ở nớc ta thờng xuyên đợc
cải tiến đổi mới. Từ khi ban hành nghị định 235/HĐBT tháng 9 năm 1985 dến đầu
năm 1993 nhà nớc đã hải điều chỉnh đến 21 lần. Tháng 4 năm 1993 thực hiện cải
cách chính sách tiền lơng ban hành nghị định 25/CP và 26/CP về chế độ tiền lơng
cho công nhân viên chức khu vực hành chính sự nghiệp và sản xuất kinh doanh tuy
nhiên các thang bảng lơng và cơ chế quản lý cha có nhiều thay đổi . Chính vì lý do
đó mà chính sách tiền lơng ở nớc ta còn tồn tại nhiều hạn chế.
Trớc hết là diện hởng ngân sách nhà nớc còn quá rộng, cơ cấu bất hợp lý
và vẫn mang nặng tính chất bao cấp. Hiện nay có tám đối tợng hởng lơng phụ cấp,
trợ cấp mang tính chất lơng từ chính sách nhà nớc gồm: cán bộ công chức hành
chính, cán bộ công chức khối sự nghiệp, cán bộ công chức khối cơ quan Đảng và đoàn
thể, cán bộ công chức khối cơ quan dân cử , cán bộ cấp xã phờng, cán bộ chiến sĩ
khối lực lợng vũ trang, công an, an ninh , các đối tợng bảo hiểm xã hội hu trí mất
sức, những ngời có công, thơng binh bệnh binh, gia đình liệt sĩ. Tính đến tháng 12
năm 1999 tổng các đối tợng là 6,2 triệu ngời chiếm 8% dân số, trong đó 66,9%
thuộc nhóm hu trí và các chính sách xã hội. Số cán bộ công nhân viên chức đang làm
việc chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ lại hoạt động không hiệu quả, còn hoang phí trong việc sử
dụng tiền của nhà nớc để phục vụ cho mục đích cá nhân.
Thứ hai là mức tiền lơng tối thiểu còn quá thấp cho đến trớc 1/1/2004 . Đối
với đội ngũ cán bộ công chức nhà nớc (mức lơng đợc xây dựng trên cơ sở mức
lơng tối thiểu) thì tiền lơng chỉ chiếm từ 21 dến 38% thu nhập (thống kê của tổ chức

động, nhiều chức danh theo bảng lơng thậm chí không thể chu cấp đủ để ăn, cha kể
đến việc chúng ta đã thực hiện tiền tệ hoá các khoản nh tiền nhà, tiền chữa bệnh, tiền
điện nớc, điện thoại vào lơng. Hơn nữa mỗi lần điều chỉnh mức lơng tối thiểu là
mỗi lần đấu tranh giằng co giữa đòi hỏi tất yếu, bức bách từ cuộc sống với hạn chế của
ngân sách tài chính. Chính điều đó đã làm các khoản thu nhập bất hợp pháp dờng
nh đợc thừa nhận một cách

chính đáng
,,
.
Thêm vào đó, sự bất cập về tiền lơng đối với nhu cầu của cuộc sống đang đẻ
ra nghịch lý. Hầu nh mọi ngời đều biết rằng mức lơng hiện nay là không đảm bảo
đợc cuộc sống bình thờng. Chênh lệch về thu nhập giữa các ngành, các cơ quan, các
đơn vị là rất lớn. Hiện nay có khoảng 40% số các đơn vị hành hành chính sự nghiệp
của cả nớc là hoạt động sự nghiệp. Đó là cha kể đến việc chênh lệch đến chóng
vánh giữa lao động trong biên chế nhà nớc với các thành phần kinh tế khác, những
chênh lệch và nghịch lý ấy đang là lý do cả về vật chất lẫn ý thức làm cho ngời lao
động coi tiền lơng là một khoản thu nhập phụ, không ai sống bằng lơng, nhà nớc
không quản lý đợc thu nhập và chúng đang gây ra những hiệu quả tiêu cực nh: hạch
toán sai, báo cáo không đầy đủ, giấu nguồn thu, trốn thuế thu nhập, sử dụng thu nhập
mập mờ, tuỳ tiện, cản trở kiểm tra kiểm soát. Điều tệ hại là chúng ta không thể đánh
giá đợc những tiêu cực mà nó gây ra cho xã hội nh tạo ra tâm lý lạm dụng của công,
xuất hiện nạn tham nhũng tập thể, kéo bè kéo cánh để bao che tìm cách đục khoét của
công gây ra sự chia rẽ mất đoàn kết, làm đình trệ sản xuất, không tạo ra môi trờng
cạnh tranh bình đẳng để các thành viên trong xã hội khẳng định mình.
2.1.2.3 Vấn đề lợi nhuận và những nảy sinh trong quá trình quản lý của nhà
nớc.
Trong thời gian vừa qua nhà nớc đã xoá bỏ cơ chế

lỗ nhà nớc bù, lãi nhà

lớn trong xã hội. Đây là nguyên nhân quan trọng nhất tạo ra tình trạng

lãi giả, lỗ thật;
lỗ giả, lãi thật
,,
ở Việt Nam hiện nay. Cũng từ đó làm nảy sinh một hiện tợng phổ
biến khác là có nhiều doanh nghiệp thờng tìm cách tăng chi phí để giảm lợi nhuận và
do đó giảm phần lợi nhuận trích nộp vào ngân sách nhà nớc.
Đối với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đợc xem là hoạt động có
hiệu quả nhng lại không đóng góp nhiều cho nhà nớc, bởi nhà nớc cha quản lý
đợc thu nhập của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, vì vậy cha có một căn cứ
chính xác để thu thuế. Tình trạng chốn lậu thuế, buôn bán lậu qua biên giới và trong
nớc, làm hàng giả, núp bóng dới doanh nghiệp quốc doanh để trốn thuế khá phổ
biến với các doanh ngiệp ngoài quốc doanh và t nhân. Điều này làm nẩy sinh sự bất
bình đẳng lớn trong xã hội. Và nếu nhà nớc không có các chính sách quản lý phù hợp
thì khó có thể thực hiện tốt các mục tiêu xã hội đã đặt ra.
Nh vậy thực tế ở nớc ta đòn bẩy kinh tế của lợi nhuận cha đợc phát huy
với sức mạnh vốn có của nó. Sở dĩ nh vậy là vì cơ chế hình thành lợi nhuận không
hợp lý. Đồng thời cơ chế phân phối lợi nhuận cha đủ tao ra động lực kích thích các
doanh nghiệp mở rộng sản xuất kinh doanh góp phần thúc đẩy tăng trởng và phát
triển của đất nớc nói chung. Thêm vào đó việc hình thành các công ty độc quyền nh
điện lực, bu chính viễn thông đã làm giảm sức hấp dẫn đối với các nhà đầu t nớc
ngoài và biến nền kinh tế mang nặng màu sắc chính trị.
2.1.2.4 Quá trình phân phối theo vốn hay tài sản và những đóng góp khác còn
diễn ra chậm chạp và gặp nhiều vớng mắc.
Đi liền với các chính sách mở cửa, trong thời gian qua nhà nớc ta không
ngừng tìm mọi biện pháp nhằm thu hút vốn đầu t vào phát triển sản xuất, kể cả việc
thu hút vốn đầu t trực tiếp từ nớc ngoài (FDI), nhng hiệu quả thấp vì cha tạo đợc
hành lang pháp lý thuận lợi cho các nhà đầu t đảm bảo đợc lợi ích của họ. Mặc dù
đã cắt giảm nhiều thủ tục hành chính phiền hà, nhng các chính sách pháp luật vẫn

trong thời gian tới.
2.2.1 Các giải pháp phân phối theo lao động trong cơ chế thị trờng định
hớng xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức đợc hiệu của quá trình phân phối theo lao động sẽ đảm bảo đợc
công bằng cho các thành phần kinh tế khi tham gia vào quá trình sản xuất, nhng làm
thế nào để phân phối theo lao động thực sự đi sâu vào thực tế lại là một vấn đề hết sức
phức tạp trong điều kiện nên kinh tế đang vận động theo cơ chế thị trờng, việc quản
lý của chính phủ còn nhiều hạn chế.
Nh vậy yêu cầu đặt ra là phải có thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể đủ
mạnh để làm cơ sở định hớng XHCN . Muốn nh vậy nhà nớc cần mở rộng cổ phần
hoá đối với các xí nghiệp quốc doanh, đồng thời ban bố luật phá sản đối với các xí
nghiệp làm ăn thua lỗ. Khi đó các thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể phải tự
vơn lên chiến thắng các áp lực trong cạnh tranh và phát triển đủ sức chi phối các
thành phần kinh tế khác hoặc sẽ bị các thành phần kinh tế khác lấn át. Nhà nớc chỉ
can thiệp vào nếu các doanh nghiệp đó bị phá sản bằng cách khôi phục lại sau đó bán
lại cho t nhân ( đây cũng là biện pháp đang đợc các nớc t bản thực hiện khá thành
công).
Thứ hai, để hoàn thành mục tiêu xây dựng đợc cơ sở vật chất cho CNXH nhà
nớc ta phải tiến hành tuần tự các bớc của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá
bởi xuất phát điểm đi lên của nớc ta là nền kinh tế vẫn mang nặng tính chất nông
nghiệp lạc hậu, công nghiệp nhỏ bé, kết cấu cơ sở hạ tầng kém phát triển. Mặt khác ta
phải có chính sách

đón đầu
,,
để hình thành những mũi nhọn phát triển theo trình độ
tiên tiến của khoa học công nghệ thế giới tạo điều kiện cho sự tăng trởng nhanh, hiệu
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.


đề tiền lơng trong khu vực nhà nớc còn có tác dụng định hớng chung cho các
thành phần kinh tế ngoài quốc doanh và nh vậy cần phải xây dựng và hoàn thiện
chính sách tiền lơng để làm sao:
Tiền lơng phải thực sự trở thành giá cả của sức lao động.
Hiện nay ở Việt Nam thị trừơng lao động đang ngày càng phát triển, cung vợt
quá cầu, sức lao động cũng trở thành hàng hoá, ngời lao động có quyền tự do lựa
chọn nơi làm việc đáp ứng nhu cầu và khả năng của mình theo đúng hợp đồng lao
động. Trong nền kinh tế thị trờng tiền lơng thực sự là giá cả của sức lao động, điều
đó đòi hỏi phải tính đúng, tính đủ giá trị sức lao động để làm cơ sở cho việc xác định
mức tiền lơng. Muốn nh vậy, mức lơng cho ngời lao động phải thể hiện trình độ
học vấn, tay nghề, quá trình lao động, lao động giản dơn hay phức tạp và quan trọng
nhất là hiệu quả công việc của ngời đó. Mức lơng đó phải đảm bảo thoả mãn nhu
cầu tái mở rộng sản xuất sức lao động, đảm bảo cho ngời lao động sống đủ mà không
cần phải lao động gì thêm (nếu họ muốn làm giàu thì buộc phải làm thêm nhiều việc).
Chỉ trên cơ sở nh vậy tiền lơng mới khuyến khích mọi ngời lao động luôn luôn
nâng cao trình độ học vấn, tay nghề phục vụ đắc lực cho công việc, khuyến khích thế
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

21

hệ trẻ ra sức hoạ tập để không ngừng nâng cao trình đọ văn hoá, khoa học kỹ thuật và
nghiệp vụ sản xuất kinh doanh thích ứng với cơ chế thị trờng. Qua đó từng bớc nâng
cao trình độ phát triển của lực lợng sản xuất.
* Để tiền lơng thực sự trở thành một đòn bẩy thúc đẩy ngời lao động làm việc
với sức sáng tạo cao, trong thời gian tới chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện chính sách
tiền lơng. Trong việc xác định tiền lơng cần quán triệt các quan điểm sau đây:
+ Tiền lơng phải đủ đảm bảo tái sản xuất mở rộng sức lao động, nó phải thực
sự là bộ phận thu nhập chủ yếu của ngời lao động.
+ Tiền tệ hoá tiền lơng một cách triệt để (xoa bỏ tận gốc các khoản bao cấp

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

22

của các doanh nghiệp này. Ngân sách nhà nớc phải tiếp tục thực hiện cắt hẳn những
khoản chi bao cấp về tiền lơng và thu nhập. Các doanh nghiệp náy sau khi bù đắp các
chi phí, hoàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách, ttổng thu nhập của doanh nghiệp do
doanh nghiệp toàn quyền sử dụng phân chia cho các quỹ xí nghiệp. Nhà nớc cần thực
hiện việc kiểm soát và điều tiết thu nhập của các doanh nghiệp cho hợp lý.
+ Trong lĩnh vực hành chính sự nghiệp: Nhà nớc trả lơng phải dựa trên cơ sở
biên chế nghiêm ngặt và tiếp tục thực hiện khoán quỹ lơng. Cần khoán quỹ lơng
theo khối lợng và chất lợng công việc (khối lợng và chất lợng giờ giảng, đề tài
nghiên cứu ).
+ Thực hiện mạnh mẽ việc sàng lọc sa thải và thực hiện tuyển dụng lại theo
quy chế mới với phơng châm chú ý chất lợng, trình độ, hạn chế dần số lợng, tiến
tới tinh giảm bộ máy đến mức tối u.
+ Nhà nớc cần có những chính sách riêng đối với các phát minh sáng chế để
một mặt tăng thu cho ngân sách, mặt khác khuyến khích các hoạt động khoa học sáng
tạo, không ngừng nâng cao trình độ sản xuất, chất lợng và hiệu quả của công việc.
2.2.3 Các giải pháp về vấn đề lợi nhuận nhằm góp phần thúc đẩy tăng
trởng và phát triển kinh tế.
2.2.3.1 Thực hiện nhất quán quan điểm kết hợp hài hoà các loại lợi ích kinh tế
trong sự phát triển kinh tế.
Một vấn đề đặt ra cho phân phối thu nhập là phân phối lợi ích kinh tế cho ngời
lao động, tập thể và xã hội cần đợc giải giải quyết nh thế nào cho công bằng so với
sự đóng góp về lao động trong quá trình tạo ra lợi ích kinh tế. Một nèn kinh tế đạt tốc
độ tăng trởng và phát triển ngày càng cao hoàn toàn có điều kiện và khả năng thực tế
để giải quyết tốt vấn đề phân phối các lợi ích kinh tế. Đến lợt mình việc giải quyết tốt
ccác vấn đề phân phối lợi ích sẽ thúc đẩy phát triển. Các mối quan hệ cần đợc giải

các doanh ngiệp đứng vững trong cạnh tranh thị trờng.
2.2.4 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn và tăng cờng
đầu t cho các quỹ phúc lợi xã hội.
Nhu cầu về vốn ngày nay đợc xem là nhu cầu quan trọng nhất trong việc mở
rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Xác định đợc vai trò quan trọng đó
nhà nớc cần chú trọng, nâng cao hiệu quả của các chính sách huy động vốn trong và
ngoài nớc. Muốn nh vậy nhà nớc cần tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho các nhà
đầu t trong nớc và nớc ngoài yêm tâm đầu t. Cụ thể nh cắt giảm những thủ tục
hành chính rờm rà, có chính sách khuyến khích đối với các nhà đầu t nớc ngoài,
bảo hộ cho những ngời lao động thủ công truyền thống Thêm vào đó là việc mở
rộng cổ phần hoá ra toàn dân để huy động vốn trong dân, để cho hoạt động của mỗi
ngời thực sự gắn liền với lợi ích của họ và không ngừng đổi mới các chính sách huy
động vốn cho phù hợp trong điều kiện mới nh tăng lợi tức, lợi tức cổ phần
Nhà nớc cần thay đổi cơ cấu thu chi ngân sách . Cần giảm bớt chi đầu t phát
triển dới dạng đầu t vào các công trình sản xuất kinh doanh mà hãy để các doanh
nghiệp tự làm, nh vậy ngân sách nhà nớc sẽ có đủ nguồn bảo đảm cho những cải
cách về tiền lơng. Nhà nớc cần tăng cờng đầu t cho các quỹ phúc lợi xã hội để
góp phần đáng kể vào thu nhập của ngời dân để một mặt vừa nâng cao đời sống vật
chất cũng nh tinh thần của ngời dân, một mặt vừa tạo ra sự phân phối công bằng
trong xã hội và góp phần giữ vững ổn định chính trị tạo đà cho phát triển lâu dài. Nếu
nhà nớc không đủ sức làm thì có thể huy động cả nhâ dân cùng làm trên tinh thần
tơng thân tơng ái, tự nguyện san sẻ miếng cơm manh áo cho những ngời khó khăn
(đây cũng là một hoạt động rất thiết thực và có ý nghĩa trong năm 2003 vừa qua).
Trên đây là một số giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo sự phân phối công bằng
trong xã hội, khẳng định tính u việt của XHCN, tạo cơ sở, động lực cho sự phát triển
và ổn định xã hội.

Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.


viên trong xã hội. Không ngừng

Đổi mới chính sách tiền lơng và thu nhập, khuyến
khích mọi ngời tăng thu nhập và làm giàu dựa vào kết quả lao động và hiệu quả kinh
tế, bảo vệ các nguồn thu nhập hợp pháp; điều tiết hợp lý thu nhập giữa các bộ phận
dân c, các ngành và các vùng. đấu tranh ngăn chặn thu nhập phi pháp.
,, (1)
đã và đang
là định hớng cho Đảng và nhà nớc ta từng bớc cải cách quan hệ phân phối cho phù
hợp với điều kiện của đất nớc và của quá trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá. Từng
bớc khẳng định đợc tính u việt của chế đọ mới.

(1): Văn kiện đại hội VII - Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Sự thật, Hà Nội 1991, tr73
Generated by Foxit PDF Creator â Foxit Software
For evaluation only.

25
Tài liệu tham khảo
1. Bộ lao động và thơng binh xã hội:
Thị trờng lao động và giải quyết việc làm.
Trung tâm thông tin khoa học lao động và xã hội, Hà Nội , 1994
2. Bộ lao động và thơng binh xã hội:
Đói nghèo, hiện trạng và giải pháp
Trung tâm thông tin khoa học lao đọng và xã hội, Hà Nội, 1994


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status