Chương I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
TRONG DOANH NGHIỆP
I - Quản lý v cc dạng quản lý
1 - Quản lý
Cĩ nhiều cch hiểu khc nhau về quản lý nhưng nhìn chung: Quản lý l sự
tc động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những
mục tiêu nhát định trong điều kiện biến động của môi trường.
Đối tượng chủ yếu của quản lý là những mối quan hệ bên ngoài và bên
trong tổ chức.Chủ thể quản lý tác động lên con người, thông qua đó mà tác
động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như vốn,vật tư,máy móc
thiết bị,công nghệ, thông tin để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt
động
Với những đối tượng là mối quan hệ con người,tổ chức chính là dạng
quản lý phức tạp nhất.
Trong mối quan hệ với thời gian,quản lý là tập chung những cố gắng tạo
dựng tương lai mong muốn trên cơ sở của quá khứ và hiên tại.Quản lý luôn
phản ánh đặc điểm của mỗi giai đoạn lịch sử. Đồng thời quản lý là những
hành động có thể gây ảnh hưởng to lớn và lâu dài đối với doanh nghiệp.
Mục đích của quản lý là tạo ra giá trị ra tăng cho doanh nghiệp.Nhà
quản lý cần tạo dựng một môi trường mà trong đó mỗi người có thể thực
hiện được các mục đích theo nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự
không thỏa mãn cá nhân ít nhất, hoặc ở đó họ có thể đạt được mục đích ở
mức cao nhất với các nguồn lực sẵn có.
Những yếu tố trên của quản lý gắn liền với ba phạm trù cơ bản của tổ
chức cũng như của quản lý doanh nghiệp: thời gian, mối quan hệ con người
và hành động.
2 - Các dạng quản lý
Quản lý có phạm vi hoạt động vô cùng rộng lớn, được chia làm ba dạng
chính:
- Quản lý giới vô sinh:nhà xưởng, ruộng đất, hầm mỏ , máy móc
người, gồm có thể lực và trí lực.
Một xã hội phát triển hay cho dù một xã hội đang phát triển cũng không
thể tách rời một nguồn nhân lực phát triển một cách bình thường.Nguồn
nhân lực còn có thể với tư cách là nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế
xã hội , là khả năng lao động của xã hội được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, nó
2
bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động. Nguồn
nhân lực còn được hiểu với tư cách là tổng hợp cá nhân, những con người
cụ thể tham gia vào quá trình lao động , là tổng thể các yếu tố về thêchất và
tinh thần được huy động vào quá trình lao động .Với cách hiểu này , nguồn
nhân lực bao gồm những người bắt đầu bước vào độ tuổi lao động trở lên
có tham gia vào nền sản xuát xã hội ,tham gia vào tăng trưởng GDP quốc
gia.
1.2 - Vai trò của nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực có một vai trò rất quan trọng cho sự tồn tại cũng như sự
phát triển đất nước nói chung và trong doanh nghiệp nói riêng. Các vai trò
này của nguồn nhân lực xuất phát từ những vai trò của yếu tố con người.
Thứ nhất, con người là động lực của sự phát triển. Chỉ có con người mới
tạo ra động lực cho sự phát triển , những nguồn lực khác muốn phát huy
được tác dụng chỉ có thể thông qua nguồn lực con người.
Thứ hai, con người là mục tiêu của sự phát triển : phát triển kinh tế xã
hội suy cho cùng là nhằm mục tiêu phục vụ con người, làm cho cuộc sống
của chúng ta ngày càng trở nên tươi đẹp và hạnh phúc hơn.
Thứ ba, con người là nhân tố năng động nhất,quyết định nhất sự phát
triển.
Do vậy mà nguồn nhân lực là nguồn tài nguyên quý báu nhất của doanh
nghiệp. Mọi tổ chức muốn thành công thì việc khai thác và phát huy những
đặc tính ưu việt của nguôn nhân lực là điểm tất yếu.
1.3 - Các yếu tố cơ bản của nguồn nhân lực:
Vào cuối thế kỷ XX nguồn nhân lực phát triển mạnh mẽ nhất., nó là yếu
ở ác độ tuổi khác nhau. Nếu tổ chức có độ tuổi trung bình của nguồn nhân
lực cao thì tổ chức sẽ gặp phải vấn đề khó khăn. Vì vậy nó ảnh hưởng đến
hiệu quả kinh tế của tổ chức và đặc biệt ảnh hưởng đến quản lý nguồn nhân
lực của tổ chức.
- Cơ cấu giới tính và dân tộc thiểu số của nguồn nhân lực : Phát triển
cùng với sự thay đổi trong cách nhìn đối với người phụ nữ trong thế giới
hiện đại cơ cấu giới tính đã có những chuyển biến đáng kể. Không còn là
những người suốt ngày chỉ quanh quẩn nọi chợ trong gia đình người phụ
nữ ngày nay đã ,đang, và sẽ từng bước khẳng định mình trên tất cả các lĩnh
vực. Vì thế mà,tỷ lệ lao đọng nữ trong cơ cấu nguồn nhân lực của tổ chức
mỗi ngày một tăng lên. Đi theo sự thay đổi trong cơ cấu giới tính thì do
chính ách ưu tiên của nhà nước đối với vùng sâu vùng xa mà trình độ văn
4
hóa của những người thuộc dân tộc thiểu số được nâng lên và họ cũng tham
gia vào lực lượng lao động trong các tổ chức. Do đó, số lượng lao động dân
tộc thiểu số trong các tổ chức cũng tăng lên.
- Cơ cấu cấp bậc nhân lực: bao gồm số lượng nhân lực được phân chia
từ cấp cao cho đến cấp thấp và đến những người lao động, nhân viên trong
tổ chức. Cơ cấu này phản ánh các bước thăng tiến trong sự ngiệp của công
nhân trong tổ chức.
Trung tâm sản xuất là con người . Vì vậy, sử dụng có hiệu quả nguồn
nhân lực trong mỗi tổ chức luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Với sự
đa dạng và phức tạp của mình, các nhà sản xuất kih doanh muốn làm tốt
quản lý nguồn nhân lực thì việc nghiên cứu và nắm vững những nét đặc
trưng riêng biệt của nguồn nhân lực là điều tất yếu.
2 - Quản lý nguồn nhân lực:
2.1 - Khái niệm :
Con người chính là đối tượng của quản lý nguồn nhân lực. Con người là
một thực thể vô cùng phức tạp và đa dạng, chịu ảnh hưởng của rất nhiều
yếu tố, không ai giống ai, hơn nữa dù cùng là con người thì tâm hồn của
mục đích, kết quả thông qua người khác. Một nhà quản lý có thể lập kế
hoạch hoàn chỉnh, xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra
hiện đại, chính xác… nhưng họ vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển
đúng người cho công việc hoặc không biết khuyến khích, động viên nhân
viên làm việc, bởi một nhà quản lý giỏi cần phải biết cách làm việc và hòa
hợp với những người khác. Nghiên cứu nguồn nhân lực giúp cho các nhà
quản lý học được cách giao dịch với người khác, biết cách tự đặt câu hỏi,
biết cách lắng nghe, biết tìm ra ngôn ngữ chung với nhân viên, biết cách
nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá chính xác nhân
viên của mình, biết cách lôi cuốn nhân viên say mê với công việc và tránh
được các sai lầm trong công việc tuyển chọn và sử dụng lao động, nâng cao
chất lượng thực hiên công việc, nâng cao hiệu quả tổ chức.
Hoạt động quản lý nguồn nhân lực sẽ luôn diễn ra cho dù tổ chức đó có
phòng ban hay bộ máy quản lý nguồn nhân lực vẫn luôn diễn ra. Vì quản lý
nguồn nhân lực là thành tố quan trọng của chức năng quản lý, nó có gốc rễ
và các nhánh trải rộng khắp nơi trong tổ chức, nó hiện diện ở các phòng
ban, bộ phân trong tổ chức .
2.3 - Mục tiêu cuả quản lý nguồn nhân lực:
Mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực là gì? Quản lý nguồn nhân lực
củng cố và duy trì đầy đủ số và chất lượng người làm việc cần thiết cho tổ
6
chức để đạt mục tiêu đặt ra, tìm kiếm và phát triển những hình thức, những
phương pháp tốt nhất để con người có thể đóng góp nhiều sức lực cho các
mục tiêu của tổ chức, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển không ngừng
chính bản thân con người. Vì thế, sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực con
người là mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực.
Quản lý con người là thực chất của quản lý nguồn nhân lực trong phạm
vi nội bộ của tổ chức, là sự đối sử của tổ chức với người lao động. Từ đó ,
có thể thấy, mục tiêu của quản lý nguồn nhân lực chính là nhằm nâng cao
sự đóng góp có hiệu suất của người lao động đối với tổ chức, để giúp cho
doanh nghiệp, người quản lý doanh nghiệp đó là giám đốc và sẽ lo toàn bộ
công việc quản lý từ sản xuất, bán hàng, tài chính cho đến tuyển chọn nhân
lực.
- Đối với tổ chức có quy mô trung bình: thì chức năng quản lý của
nguồn nhân lực đòi hỏi phải được tách ra để phối hợp tất cả các hoạt động
quản lý nguồn nhân lực trong tổ chức. Mặc dầu vậy, các nhà quản lý nguồn
nhân lực phải thực hiện hầu hết các hoạt động quản lý mà rất ít có sự
chuyên môn hóa.
- Đối với các tổ chức có quy mô vừa: Các nhà quản lý nguồn nhân lực
được chuyên môn hóa theo các hoạt động như : biên chế, phát triển nguồn
nhân lực, trả công cho người lao động…. Có nghĩa là lúc này, bộ phận
quản lý nguồn nhân lực phải tăng cường chia làm nhiều ban chuyên môn
dưới quyền của trưởng ban, hay chuyên viên phụ trách từng chức năng
chuyên môn.
- Đối với các tổ chức có quy mô lớn: Quản lý nguồn nhân lực đảm nhận
nhiều trách nhiệm hơn, cho phép chuyên môn hóa sâu hơn. Như bộ phận
quản lý tiền công sẽ bao gồm những người quản lý chuyên môn hóa quản
lý tiền công theo giờ, Tiền công của bộ phận hành chính. Nhà quản lý bộ
phận nhân lực ở cấp cao nhất sẽ liên hệ chặt chẽ với người quản lý chung
của tổ chức được thiết lập nên các chiên lược và các chính sách của tổ
chức.
Chúng ta thấy ngay rằng bộ máy quản lý nguồn nhân lực có các vai trò
chủ yếu sau đây:
- Đưa ra các chiên lược, chính sách nguồn nhân lực, đồng thời đảm bảo
các chiến lược và chính sách đó được thi hành trong toàn tổ chức
- Cố vấn và tư vấn cho các cấp quản lý khác.
8
- Dịch vụ: Vai trò cung cấp các dịch vụ như tuyển dụng, đào tạo và phúc
lợi cho các bộ phận khác cũng là nhiệm vụ của bộ phận quản lý nguồn nhân
lực.