Ministry of Agriculture & Rural Development
CARD project
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ 025/06VIE
Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất
lượng hạt giống và cây giống rau cho ngành sản xuất
rau lai của Việt Nam
MS2: Báo cáo 6 tháng lần thứ nhất
Robert Spooner-Hart
Điện thoại
0245 701429
Chức vụ
PGS. Trưởng bộ môn Hệ thống
sản xuất
Fax:
0245 701103
Cơ quan
Trung tâm khoa học cây trồng
và Thực phẩm – Đại học Tây
Sydney
Email:
r.spooner-Phía Australia: Hành chính tổ chức
Tên:
Mr Gar Jones
Telephone:
0247360631
Chức vụ:
Giám đốc cơ quan dịch vụ
nghiên cứu
Fax:
024736 0905
Cơ quan
Đại học Tây Sydney
Email:
ố
liệu. Nông dân sẽ tham gia đánh giá thử nghiệm trình diễn, với sự hỗ trợ của các hoạt
động tập huấn FFS do PPD tiến hành. Dự án này còn có sự tham gia của các công ty
thương mại chính, những công ty này cũng sẽ tham gia vào xây dựng quy trình GAP
cho sản xuất hạt giống và cây giống rau. Tập huấn bao gồm cả chuyến thăm quan học
tập của cán bộ Việt Nam tại Úc và các hội thảo. Nguồn gen tốt được tuyể
n chọn sẽ
được chuyển giao cho các công ty giống để sản xuất và phân phối cho nông dân. Dự
án sẽ giảm bớt việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau, tăng mức độ an
toàn sản phẩm rau cũng như thu nhập cho người dân. Dự án cũng sẽ giúp Việt Nam
tiết kiệm được một lượng ngoại tệ cho việc nhập khẩu hạt giống rau từ
nước ngoài.
3. Tóm tắt các nội dung thực hiện
Báo cáo tiến độ dựa trên những thành tựu đã đạt được. Đã tiến hành thành công hội
nghị các đơn vị tham gia dự án vào tháng 2 năm 2007 tại Vện Nghiên cứu Rau quả,
Hà Nội, tiếp theo là chuyến thăm 3 vùng sẽ tiến hành thí nghiệm đánh giá giống.
Những giống rau được lựa chọn từ tất cả các cơ quan tham gia dự án (giống địa
phương, giống lai F1), giống cà chua được cung cấp bởi Dr. Peter Hanson, AVRDC.
Vụ
đánh giá giống đầu tiên được tiến hành tại Hà Nội và Lâm Đồng. Ở Huế sẽ bắt
đầu vào tháng 11 năm 2007. Thăm và phỏng vấn để tiến hành điều tra các hộ sản xuất
cây giống và hạt giống rau ở đồng bằng sông Hồng, duyên hải miền trung và Lâm
Đồng/ thành phố Hồ Chí Minh, đồng thời cũng tiến hành ở chợ rau Hà Nội trong
tháng 7 năm 2007 có sự kết hợp giữa cán bộ Vi
ện Nghiên cứu Rau quả với Robert
Spooner-Hart và Oleg Nicetic. Phỏng vấn nhân viên của siêu thị Metro sẽ được tiến
hành vào tháng 12. Hội thảo về GAP sẽ được tiến hành vào đầu tháng 12 tại Hà Nội.
Chương trình hội thảo và thành phần tham dự đã được hoàn thiện. Kế hoạch của dự án
với PPD và NIPP về tập huấn TOT và FFS trong năm 2008 đã được thảo luận
lần/ vụ trồng) và phân bón cho một diện tích trồng rau nhỏ, đặc biệt là ở vùng ngoại ô,
nơi đang có gắng để thúc đẩy sản xuất tăng sản lượ
ng rau. Việc thiếu các giống kháng
sâu bệnh đã làm cho vấn đề này càng đáng lo ngại . Những nghiên cứu gần đây cho
thấy ở Hà Nội 9% các mẫu rau vượt quá ngưỡng cho phép về dư lượng thuốc bảo vệ
thực vật 5-10 lần và 7% mẫu rau phân tích có dư lượng của thuốc bảo vệ thực vật cấm
sử dụng. Và kết quả là hàng năm có hàng ngàn vụ ngộ độc thực phẩm do
ăn phải rau
có dư luợng thuốc bảo vệ thực vật cao (MALICA, 2003). Bên cạnh đó, việc sử dụng
quá mức thuốc bảo vệ thực vật cũng là nguyên nhân làm gia tăng sâu bệnh hại vì nó
làm hủy diệt nguồn thiên địch tự nhiên và phát triển những loài có khả năng kháng
thuốc.
Quy trình nông nghiệp tiên tiến (GAP), cùng với kết quả của một số dự án quốc tế mà
đặc biệt là dự án CARD 004/04VIE “ Nghiên c
ứu xây dựng mô hinh sản xuất rau an
toàn dạng công nghệ cao và tăng cường năng lực về kiểm tra chất lượng, quản lý sau
thu hoạch cho ngành sản xuất rau của Việt Nam", dự án ACIAR CS2/1998/078 “
Phòng trừ bọ phấn – một loài côn trùng – một vecto truyền bệnh Virus ở châu Á (pha
2) và pha III của dự án phòng trừ tổng hợp bọ phấn vùng nhiệt đới được điều phối bở
trung tâm nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT) t
ại Columbia, cung cấp những cơ sở
vững chắc để sản xuất hạt giống, cây giống sẽ tăng cường năng lực sản xuất rau an
toàn chất lượng cao. Mục đích của dự án là sẽ sử dụng những kết quả của dự án trước
để phát triển những mô hình sản xuất hạt giống và cây giống cà chua, dưa chuột, có
sử dụng những giống cà chua kháng t
ốt với bệnh xoăn vàng lá do Virus mà nguồn gen
được cung cấp từ trung tâm Rau Thế giới (AVRDC) và giống dưa chuột kháng bệnh
sương mai, phấn trắng được cung cấp từ Viện Nghiên cứu rau quả (FAVRI). Dự án
này cũng sẽ xây dựng quy trình nông nghiệp tiên tiến (GAP) cho sản xuất cà chua và
dưa chuột và tập huấn kỹ thuật cho các cán bộ Cục Bảo vệ thực vật về sản xuất rau an
ánh giá giống. Các
giống cà chua được chuyển về từ AVRDC cho các đối tác dự án, vụ thí nghiệm đầu
tiên đang được tiến hành tại FAVRI và PVFC
Oleg Nicetic thăm FAVRI vào ngày 24 tháng 9 năm 2007 để chuẩn bị cho
chương trình hội thảo GAP sẽ được tiến hành vào đầu tháng 12 năm 2007
5.2. Các đối tượng được hưởng lợi
Dự án mới bắt đầu nên còn quá sớm để đánh giá được những lợi ích mà các đối tượng
được hưởng. Tuy nhiên, nhóm thực hiện dự án sẽ xác định vấn đề này trong chuyến
thăm vào tháng 3 và tháng 6-7 năm 2008.
5.3. Tăng cường năng lực
FAVRI đóng vai trò chính trong việc điều phối dự án cũng như tiến hành các hoạt
động của dự an thông qua việc phối hợp chặt chẽ giữa chủ trì dự án phía Việt Nam và
Úc. Đồng thời, UWS cũng đã chia sẻ những kinh nghiệm, kỹ năng và công nghệ sản
xuất hạt giống, cây giống và sản xuất rau đến những vùng của Việt Nam
5.4. Các ấn phẩm
UWS xuất bản ấn phẩm cho dự án, Giải quyết GAP cho sản xuất Rau ở Việt Nam
tháng 6 năm 2007 (xem phụ lục 2).
5.5. Quản lý dự án
Quản lý dự án rất tốt mặc dù Robert Spooner-Hart đã trải qua một số vấn
đề về sức khỏe và việc gia đình trong thời gian vừa qua. Nhóm thực hiện
dự án rất tốt. Các nôi dung của dự án đều hoàn thành đúng tiến độ. Nhóm
thực hiện dự án phía Việt Nam đã thể hiện rất tốt trình độ và kỹ năng
quản lý và thực hiện dự án. Họ d
ịch các các câu hỏi điều tra sang tiếng
5
Việt và phiên dịch tốt các câu trả lời sang tiếng Anh trong quá trình điều
tra. Tổ chức các cuộc họp các cơ quan tham gia dự án, các cuộc điều tra
rất tốt. Nhờ đó mà các cán bộ của Úc đã tiết kiệm được thời gian so với
Một khó khăn quan trọng của dự án là giới hạn về nguồn tài chính để các nhà khoa
học, các nghiên cứu viên đặc biệt là ở FAVRI đi công tác ở các địa phương. Đây là
vấn đề quan trọng của rất nhiều dự án trong đó có dự án VIE025/06. Để khắc phục
điều này, UWS đã trợ giúp thêm kinh phí cho việc đi lại. Hiện tại việc tăng giá Đô la
Úc cũng phần nào trợ giúp được cho hoạ
t động này.
7.2. Lựa chọn
Thời gian các cán bộ Việt Nam đi tham quan học tập tại Úc, theo kế hoạch thì tháng 7
năm 2008 sẽ tiến hành. Nhưng thực tế tổ chức vào tháng 7 là không phù hợp, thời
6
gian này ở Úc không có cà chua và dưa chuột để tham quan. Chúng tôi đã quyết định
chuyển nội dung này sang tháng 10 năm 2008
7.3. Vấn đề cần giải quyết
Cho đến nay chưa có vấn đề gì.
8. Những nội dung kế tiếp
Những nghiên cứu điều tra thăm dò về sản xuất hạt giống và cây giống ở chợ Hà Nội
với cà chua và dưa chuột sẽ được hoàn thành trong tháng 12 năm 2007 bởi Robert
Spooner-Hart và Oleg Nicetic. Công việc này sẽ được tiến hành phỏng vấn cán bộ của
Metro và các điều tra khác trên thị trường Hà Nội để xác định nguồn cung cấp, chất
lượng và giá của cà chua, dưa chuột, phần này sẽ được bổ sung vào phần
điều tra
trong mùa hè. Metro sẽ được trợ giúp thông qua việc hợp tác với các cán bộ của dự án
VIE 021/06 và chúng tôi sẽ chứng tỏ cho họ thấy được những lợi ích của việc kinh
doanh cà chua dưa chuột được sản xuất theo GAP
Hội thảo GAP sẽ được tiến hành tại Hà Nội vào ngày 3-5 tháng 12 năm 2007. Nhóm
dự án đã quyết định chuyển địa điểm hội thảo từ Huế vì Đại họ
c Huế không thể tổ
chức được hội thảo tại trường, giá khách sạn ở Huế rất cao, chi phí cho đi lại bằng
máy bay (đặc biệt là các đại biểu Việt Nam) rất cao, kinh phí của dự án không đủ để