1
Ministry of Agriculture & Rural Development
BÁO CÁO TIẾN ĐỘ 025/06VIE
Ứng dụng nông nghiệp tốt (GAP) để nâng cao chất lượng hạt
giống và cây giống rau cho ngành sản xuất rau lai của Việt Nam MS10: BÁO CÁO TỔNG KẾT
2
MỤC LỤC
1. Thông tin về đối tác 3
2. Tóm tắt các nội dung thực hiện 4
3. Giới thiệu và tổng quan dự án 4
4. Tiến độ thực hiện đến nay 6
5. Báo cáo các vấn đề phát sinh 9
6. Thực hiện & Các vấn đề về tính bền vững 9
7. Kết quả của dự án và hiệu quả đã đạt được 9
8. Tính bền vững của kết quả dự án và hoạt động của các đối tác 10
phẩm – Đại học Tây Sydney
Email: r.spooner-Phía Australia: Hành chính tổ chức
Tên: Mr Gar Jones Telephone: 0247360631
Chức vụ: Giám đốc cơ quan dịch vụ nghiên cứu Fax: 024736 0905
Cơ quan Đại học Tây Sydney Email:
Phía Việt Nam
Tên: Trần Khắc Thi Telephone: 84 4 8276316
Chức vụ: PGS. TS. Phó Viện trưởng Fax: 84 4 8276148
Cơ quan Viện Nghiên cứ
u Rau quả Email:
4
2. Tóm tắt dự án
2. Tóm tắt các nội dung thực hiện
ng do Viện Nghiên cứu rau quả chọn tạo và đánh giá ở miền
Bắc sẽ được đánh giá tính thích ứng ở miền Bắc, duyên hải miền Trung và cao nguyên
Trung bộ trong 2 mùa vụ. Các giống tốt sẽ được sử dụng trong các thử nghiệm trình diễn
tại 5 điểm của mỗi vùng, kết hợp với các biện pháp phòng trừ dịch hại tổng hợp IPDM sử
dụng dầu khoáng và ghi chép lưu giữ s
ố liệu. Nông dân sẽ tham gia đánh giá thử nghiệm
trình diễn, với sự hỗ trợ của các hoạt động tập huấn FFS do PPD tiến hành. Dự án này còn
có sự tham gia của các công ty thương mại chính, những công ty này cũng sẽ tham gia
vào xây dựng quy trình GAP cho sản xuất hạt giống và cây giống rau. Tập huấn bao gồm
cả chuyến thăm quan học tập của cán bộ Việt Nam tại Úc và các hội thảo. Nguồn gen tốt
được tuyể
n chọn sẽ được chuyển giao cho các công ty giống để sản xuất và phân phối cho
nông dân. Dự án sẽ giảm bớt việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật trong sản xuất rau, tăng
mức độ an toàn sản phẩm rau cũng như thu nhập cho người dân. Dự án cũng sẽ giúp Việt
Nam ti
ếtkiệm đ
ư
ợcmộtl
ư
ợng ngoạitệ cho việcnhậpkhẩuhạtgiống rau từ n
ư
ớc ngo
ài
5
và mục tiêu đến 2010 sẽ đạt 690 triệu USD. Cà chua, dưa chuột và cây họ bầu bí khác
là những sản phẩm rau xuất khẩu ổn định nhất. Cà chua có thể được trồng 9 tháng
trong năm và mang lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với trồng lúa (30 triệu đồng/ha với
trồng cà chua và 15 triệu đồng cho trồng lúa), qua đó đưa sản xuất cà chua thành sự
lựa chọn phổ biến nhất của nông dân. Mặc dù s
2) và pha III của dự án phòng trừ tổng hợp bọ phấn vùng nhiệt đới
được điều phối bở
trung tâm nông nghiệp nhiệt đới quốc tế (CIAT) tại Columbia, cung cấp những cơ sở
vững chắc để sản xuất hạt giống, cây giống sẽ tăng cường năng lực sản xuất rau an
toàn chất lượng cao. Mục đích của dự án là sẽ sử dụng những kết quả của dự án trước
để phát triển những mô hình sản xu
ất hạt giống và cây giống cà chua, dưa chuột, có sử
dụng những giống cà chua kháng tốt với bệnh xoăn vàng lá do Virus mà nguồn gen
được cung cấp từ trung tâm Rau Thế giới (AVRDC) và giống dưa chuột kháng bệnh
sương mai, phấn trắng được cung cấp từ Viện Nghiên cứu rau quả (FAVRI). Dự án
này cũng sẽ xây dựng quy trình nông nghiệp tiên tiến (GAP) cho sản xuất cà chua và
dưa chuột và tập huấn kỹ thuật cho các cán bộ Cụ
c Bảo vệ thực vật về sản xuất rau an
toàn. Dự án này cũng sẽ cung cấp các địa chỉ liên hệ cho lãnh đạo dự án phía Việt
6
Nam và Úc các công ty sản xuất hạt giống và cây giống cũng như các thiết bị sản xuất
công nghệ cao đến Việt Nam.
4. Tiến độ thực hiện đến nay
4.1. Các nội dung đã thực hiện
Khóa đào tạo FFS cuối cùng của vụ thứ 2 được hoàn thiện tháng 4 năm 2010. Ở Thái
Bình (1 cà chua, 1 dưa chuột), ở Hải Phòng 1 cà chua, 1 dưa chuột), Hà Nam (1 dưa
chuột, 1 cà chua), Hà Nội (1 cà chua, 1 dưa chuột) Vĩnh Phúc (1 cà chua, 1 dưa chuột)
Hưng Yên (1 cà chua, 1 dưa chuột), Quảng Nam (1 cà chua, 1 dưa chuột), và Đà Nẵng
(1 cà chua, 1 dưa chuột). FAVRI sản xuất và cung cấp cây giống cà chua ghép và hạt
giống dưa chuột cho tất cả các FFS ở đồng bằng sông Hồng. Ông Phong, sản xuất cây
giống cà chua ở Lâm Đồng, sản xuất cây giống cà chua ghép cho FFS ở duyên hải
miền Trung với giống giống ngọn ghép là giống mà FAVRI cung cấp cho ông Phong.
Tổng cộng có 380 nông dân được đào tạo ở vụ FFS thứ hai. Mô hình trình diễn là một
phần quan trọng của mỗi FFS. Một danh sách các nông dân tham dự vòng gần đây của
7
để tránh bệnh héo xanh vi khuẩn đã phát triển rất tốt). Chúng tôi dự đoán các sinh
viên sẽ thăm AVRDC trong tháng 11 năm 2010, thời gian lý tưởng cho đào tạo về
bệnh sương mai. UWS sẽ cung cấp một số hỗ trợ tài chính cho đào tạo này.
Sản xuất giống lai F1
Để đánh giá thêm với những giống cà chua lai F1 triển vọng –con lai được tạo ra từ
vật liệu bố/mẹ (do Tiến sĩ Peter Hanson, m
ột cộng tác viên trong dự án, từ Trung tâm
Rau Thế giới (AVRDC), Đài Loan cung cấp) xác định trong dự án CARD 025 và sản
xuất bởi Công ty Giống cây trồng Miền Nam (SSC), được SSC tiến hành vụ xuân năm
2010. 2 giống lai F1 của AVRDC được xác định là có khả năng thương mại hóa được
là WVCT2 và WVCT8. Robert Spooner-Hart và Peter Hanson (AVRDC) thăm thí
nghiệm đánh giá cà chua của SSC tại Long An, Lâm Đồng và Hưng Yên, trong
chuyến thăm của họ hồi tháng 2/2010. Công việc này là vượt quá phạm vi kế hoạch
ban đầu c
ủa dự án nhưng nó là rất đáng khích lệ để thấy rằng SSC rất muốn tiếp tục
công việc của dự án 025 CARD vượt qua kết quả mong đợi của dự án.
CARD 025 cũng đã hỗ trợ FAVRI để mở rộng sản xuất hạt giống dưa chuột của CV5,
giống thể hiện có ưu thế ở đồng bằng sông Hồng. Tăng khả năng cung cấp h
ạt giống
và nông dân sẵn sàng mua hạt giống dưa chuột CV5, giống CV5 đã được công nhận,
đây cũng được xem như kết quả rất tốt của dự án.
Sản xuất giống cà chua lai F1 WVCT2 và WVCT8 cũng đang được thực hiện ở
FAVRI, mặc dù có những khó khăn trong sản xuất do phát sinh các bệnh khác ngoài
TYLCV. Nguyên nhân là do các giống cà chua khác, cây trồng khác cũng đang được
trồng trên cùng một thửa ruộng sản xuất.
t quá phạm vi của
dự án.
Tuy nhiên, hồ sơ của chúng tôi xin CARD tài trợ cho Dự án Tăng cường CARD với
các kết quả đạt được và kết quả là đơn xin đã được chấp nhận và phần lớn công việc
này bây giờ đang được triển khai thực hiện. Điều này sẽ để lại phía sau cơ sở vật chất
và năng lực để sản xuất cây giống cà chua ghép tại các khu v
ực mà trước đây nó đã
không tồn tại, hoặc sẵn có của cây giống đã được hạn chế.
4.4. Tăng cường năng lực
Trong thời gian báo cáo này, đã tăng cường năng lực cho một số đối tác. Đào tạo kỹ
thuật chọn tạo giống cà chua cho ông Tăng Đức Hùng từ SSC, tại AVRDC trong
tháng 5-6/ 2010 sẽ góp phần cải thiện đáng kể năng lực cho công ty này.
Phạm Mỹ Linh, từ FAVRI, đã được trao bằng tiến sĩ , để hoàn thành luận án, một số
nội dung nghiên cứu có liên quan đến dự án CARD 06/025. Robert Spooner-Hart
cũng đã thảo lu
ận với cán bộ FAVRI trong chuyến thăm và làm việc hồi tháng 2-3, đề
xuất một số ý tưởng phát triển các dự án nghiên cứu ứng dụng, và sẽ tiếp tục hỗ trợ
nhân viên tại FAVRI, nếu có thể. Điều đó là rất tốt vì chúng tôi thấy được sự quan
tâm và đóng góp của các cộng tác viên dự án, đặc biệt FAVRI và SSC, trong đơn xin
Tăng cường kết quả dự án CARD và ứng dụng các kết quả
.
4.5.Các ấn phẩm
Không có ấn phẩm đặc biệt nào liên quan đến dự án này trong kỳ báo cáo.
4.6. Quản lý dự án
Nicetic Oleg từng là một người của Đại học Tây Sydney (UWS) chủ chốt tham gia
nữ tham gia tại Đà Nẵng là thấp nhất, 35% trong cả FFS dưa chuột và cà chua.
6. Thực hiện & Các vấn đề về tính bền vững
6.1. Vấn đề và hạn chế
6.2. Tùy chọn
6.3. Tính bền vững
Không có vấn đề khác được xác định cho đến nay, khác với các quy định trên.
7. Kết quả của dự án và hiệu quả đã đạt được
Một bảng tóm tắt tình trạng của các kết quả dự án và Hiệu quả của các biện pháp như
nêu trong Khung Lôgíc dự án được trình bày tại Phụ lục 1. Tất cả các kết quả đầu ra
dự án đã đạt được, được xác định bởi các biện pháp thực hiện.
Như dự kiến và các đầu vào thực tế của Úc (và AVRDC, Đài Loan) nhóm được trình
bày trong Bảng 1. Nhìn chung, đã có số chuyến thăm đến Việt Nam nhiều hơn và một
10
thời gian dài hơn cho hoạt động dự án, cho cả ở Việt Nam và Australia nhiều hơn dự
kiến ban đầu.
Bảng 1. Kế hoạch (hợp đồng) và thực tiễn về nhân sự của nhóm cán bộ dự án Úc
Số ngày ở Việt
Nam
Số ngày ở Uc
Số chuyến thăm
Việt Nam
Nhân sự phía Úc
Kế hoạch Thực
tế
Kế hoạch Thực
định được các giống cà chua, dưa chuột có năng suất cao, chất lượng tốt, kháng bệnh
hơn các giống hiện đang sử dụng.
Đối với cà chua, những giống lai F1 từ AVRDC đã được xác định cho đồng bằng
sông Hồng, Duyên hải miền Trung và miền Nam Việt Nam (mặc dù khu vực này lúc
đầu không có trong dự án). Hạt giống của những giống này hiện nay có thể sẽ được
11
sản xuất tại Việt Nam. SSC, một đối tác quan trọng, đã được bổ sung 1 khóa đào tạo
về chọn tạo giống và đánh giá nhiều loại giống cà chua tại AVRDC, và đã sản xuất
hạt giống cà chua lai F1 của mình cho các thí nghiệm đánh giá trong 3 vụ. SSC hiện
đang tiến hành thí nghiệm đánh giá cuối cùng với 2 giống để xin đăng ký công nhận
giống tại Bộ Nông nghiệp và PTNT xây dựng 10 mô hình trình diễn cho nông dân và
người mua hạt giống ở miền Bắc Việt Nam, Lâm Đồng và Đồng bằng sông Cửu
Long. Ngoài ra, họ còn chuyển các gen kháng bệnh (đặc biệt là gen kháng bệnh
TYLCV- mục tiêu chủ yếu của CARD 06/025) tham gia vào chương trình tạo giống
cà chua cho Việt Nam. Rõ ràng là từ các hoạt động này mà SSC cam kết sử dụng lâu
dài kết quả của dự án này (cụ thể là cung cấp các giống cà chua tốt) để mang lại hiệu
quả kinh tế cho nông dân. FAVRI cũng sản xuất cà chua lai F1, nhưng có vẻ không
phải là một nhà cung cấp hạt giống cà chua chuyên nghiệp cho nông dân trong tương
lai gần.
Đối với dưa chuột, giống lai F1 từ FAVRI, đặc biệt là CV5, được xác định cho vùng
đồng bằng sông Hồng. FAVRI đ
ã chứng tỏ khả năng của mình để sản xuất các giống
lai F1, và CV5 đã được Bộ NN & PTNT công nhận là giống Quốc Gia. FAVRI đã mở
rộng diện tích sản xuất với giống CV5 và phân phối trực tiếp cho nông dân trong dự
án, và năm ngoái bán được 50 kg hạt giống. Thu nhập từ hạt giống bán được phục vụ
cho chính lợi ích của FAVRI, do đó, nó là động cơ để tiếp tục và mở rộng ho
ạt động
này. Trong khi CV5 thể hiện rõ ưu điểm tại mô hình trình diễn ở duyên hải miền
về sản xuất rau an toàn trong nhà kính và ngoài đồng, tài trợ của Ngân hàng Phát triển
Châu Á. Đó cũng được xem là một ví dụ tổng quát hơn của tính bền vững của kết quả
dự án là SPPD tham gia vào sự phát triển của cây giống cà chua ghép trong tỉnh đồng
bằng sông Hồng và duyên hải miền Trung. Ngoài raTOT và bổ sung FFS, để đưa
công nghệ đến một các địa phương. Những hoạt động này đang được tài trợ từ dự án
CARD Tă
ng cường và chủ động kết quả đầu ra. Sáng kiến này, cùng với sự sẵn lòng
của nhân viên SPPD và nông dân góp phần đảm bảo tốt tính bền vững của những kết
quả đầu ra của dự án.
• Nông dân được tập huấn lưu giữ các ghi chép trong sản xuất cà chua và
dưa chuột an toàn.
Tổng cộng có 860 người tham gia nông dân tham dự FFS trong dự án, và 36 FFS (16
dưa chuột và 20 cà chua) đã được tiến hành. Hầu hết những người nông dân được điều
tra đều cho thấy lợi ích của dự án đối với sản xuất của họ, bao gồm cả sản xuất cà
chua và dưa chuột an toàn và lưu giữ lại các ghi chép. Tất cả chương trình đào tạo
FFS và mô hình trình diễn được sử dụng thực hành kế
t hợp IPDM để sản xuất an toàn,
bao gồm các giống kháng bệnh, công nghệ ghép cà chua (ít nhất là trong vụ thứ hai),
sử dụng các PSO và thuốc trừ sâu phòng trừ tổng hợp khác phù hợp, sử dụng an toàn,
xử lý, lưu trữ các thuốc trừ sâu, và xử lý chất thải thuốc trừ sâu. Ngoài ra, tất cả các
bài giảng của FFS bao gồm đào tạo dịch hại trên cà chua và / hoặc dưa chuột. Nhận
dạng chính xác triệu chứng củ
a sâu bệnh là bước quan trọng đầu tiên trong bảo vệ
hiệu quả và an toàn cho cây trồng.
Tại các tỉnh được khảo sát, nông dân cho biết họ đã tăng kiến thức và kỹ năng trong
các lĩnh vực sau: chọn giống tốt để sản xuất, sử dụng cây giống cà chua tốt để giảm
thiệt hại, phát hiện kịp thời và chính xác các loài côn trùng gây hại quan trọng và bệnh
ất là trong tương lai. Nông dân ở Lâm Đồng nói chung
đều lưu giữ hồ sơ, nhưng những dữ liệu chủ yếu được sản xuất, bán hàng, và đôi khi
mua đầu vào-nhưng chưa đạt được mức độ cần thiết của VIETGAP.
Ngoài ra, SSC đã sửa đổi các tài liệu quảng cáo như kỹ thuật sản xuất cà chua và dưa
chuột, để làm cho chúng thêm phù hợp với IPDM. Những sửa đổi này dựa trên hoạ
t
động của CARD 06/025. Sáng kiến này cũng sẽ hỗ trợ cho tính bền vững của nông
dân thông qua các thực hành sản xuất an toàn cho các loại cây trồng.
• Cải thiện sự tiếp thu các nguyên tắc của IPDM và sản xuất rau an toàn
hơn, trong khi đồng thời gia tăng lợi nhuận cho nông dân.
Vấn đề này đã được thảo luận chủ yếu theo quan điểm trước đó. Hai khía cạnh quan
trọng mà rất nhiều tác động đến tính bền vững của kết quả này là sự sẵn có của hạt
giống của các giống xác định, giống rau cao cấp và sẵn có của cây giống cà chua
ghép. Như thảo luận trước đó, hạt giống của giống đăng ký ngay bây giờ CV5 dưa
chuột đang được sản xuất và phân phối trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng, và SSC
hiện đang hoàn tất đăng ký của giống cà chua cao, và các trang trình diễn trên khắp
Việt Nam. Như đã nói, đã có trung bình 43-50% sản lượng cao hơn trong cà chua hơn
tương tự "nông dân" thực hành "khối, và trong một số trường hợp, nó có nghĩa là sự
khác biệt giữa thu hoạch một vụ mùa và mất mùa. Sự khác biệt này là rõ ràng nhất
trong off (mưa) mùa giải, và hơn hiệ
u số bất kỳ chi phí đầu vào gia tăng, như cây
giống cà chua ghép hoặc PSO thay vì thuốc trừ sâu tổng hợp. Với dưa chuột, sự khác
biệt là ít rõ ràng, nhưng mô hình tình diễn, năng suất đã tăng 20-30%, và với số lượng
giảm của các ứng dụng thuốc trừ sâu. Những dữ liệu này cho thấy nông dân áp dụng
các kết quả đầu ra của dự án sẽ tăng hiệu quả kinh tế cho sản xu
ất của họ. Điều này
được xác nhận bởi các cuộc điều tra nông dân ở cuối của dự án, thực hiện trong bốn
9 Khả năng cung cấp giống cà chua mới chống bệnh bằng cách giới thiệu giống
lai F1 mới và vật liệu phục vụ công tác chọn tạo giống.
9 Hợp tác tốt và tăng cường hiểu biết giữa các nhà khoa học t
ừ Đại học Tây
Sydney và tại Việt Nam sẽ dẫn đến nghiên cứu nông nghiệp lâu dài và hợp tác
phát triển
9 Dự án đã giúp trong một số cách để xác tiến sự phát triển VIETGAP trong
tỉnh, và trong Viện.
Đối với hoạt động trên-đi từ dự án, PVFC nhận xét họ đã được mở rộng diện
tích trồng cà chua lai F1 mới cho tỉnh Lâm Đồng và mở rộng công việc của họ
về th
ực hành IPM.
PPD
PPD báo cáo những lợi ích lớn cho họ, về xây dựng năng lực, đó là:
15
9 Nhân viên các chi cục BVTV được cải thiện kỹ năng kỹ thuật của họ liên quan
đến công nghệ ghép cà chua, hệ sinh thái nông nghiệp của lĩnh vực cà chua
ghép; thay thế cho thuốc trừ sâu hóa học
9 Cải thiện kỹ năng cho cán bộ PPSD, tạo điều kiện cho nông dân ở FFS và
cũng là tạo điều kiện cho nông dân tham gia theo dõi hoạt động FFSs
9 PPSD nhân viên đã có thể chia sẻ kinh nghiệm của họ thông qua các h
ội thảo
quốc gia hàng năm được dự án tổ chức
Đối với hoạt động trên, họ đã báo cáo rằng nông dân, sau khi hoàn thành FFS,
đã được tiếp tục làm việc trong nhóm của mình để chia sẻ kinh nghiệm và thực
hiện các thí nghiệm để hiểu được vấn đề và xác định các giải pháp để cải thiện
o Tăng cường năng lực để thực hiện các công việc trong tương lai
o Tăng cường công nhận và hồ sơ, đặc biệt tại Việt Nam
o Cơ hội về thu nhập
- FAVRI có thể bán dưa chuột có khả năng kháng bệnh cao, (và có thể
16
cà chua) hạt giống và cây giống ghép
- PVFC bán giống cà chua kháng nhiều bệnh
- SSC bán hạt giống cà chua lai kháng bệnh
•
Các chi cục Bảo vệ thực vật (SPPD) của Bộ NN & PTNT tại 9 tỉnh
(Hà
Nội, Thái Bình, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Hà Nam, Quảng Nam, Đà
Nẵng, Lâm Đồng)
o Tăng cường năng lực để thực hiện công việc với cà chua và dưa chuột.
o Cải thiện mối quan hệ với các tổ chức nghiên cứu của Việt Nam (đặc biệt là
FAVRI)
o Cơ hội tăng thu nhập từ sản xuất và bán cây giống cà chua ghép
•
Nông dân sản xuất cà chua và dưa chuột ở
đồng bằng sông Hồng, Trung Bộ
và Lâm Đồng. Sản xuất cà chua ở đồng bằng sông Hồng (RRD) và các tỉnh
duyên hải Trung Bộ (Đà Nẵng, Quảng Nam): giúp cho nông dân thu nhập cao
hơn nhiều so với hầu hết các cây trồng khác (5 lần so với lúa). Tuy nhiên, các
khu vực này thường có thể mất mùa do lũ lụt, ngập úng, bệnh nghiêm trọng,
chẳng hạn như héo vi khuẩn.
Nông dân, cả nhữ
và dưa chuột, bao gồm xác định các dịch hại quan trọng, lự
a chọn và sử dụng
thuốc trừ sâu an toàn theo IPDM. Điều này sẽ tăng thêm năng suất cây trồng
cho nông dân cũng là tăng thu nhập cho họ. Nó cũng là kết của việc áp dụng
các kết quả đầu ra của dự án như sử dụng giống chống bệnh và cây giống
ghép, giảm sử dụng thuốc trừ sâu. Kết quả này đã đạt được tại các mô hình
trình diễn, nhưng còn quá sớm để
xác định xem điều có thể thu được ở ruộng
của nông dân.
•
Thứ tư,
nông dân đã được giới thiệu để lưu giữ các ghi chép, đó là một phần
của GAP. Trong khi cấp giấy chứng nhận GAP cho nhiều nông dân trong dự
17
án này là không chắc trong tương lai gần, người nông dân được khảo sát, cũng
như phản hồi từ các giảng viên FFS chỉ ra rằng người nông dân thấy lợi ích
của một số ghi chép lưu giữ (ngay cả khi chỉ bán hàng của cây trồng và sử
dụng đầu vào và chi phí) sẽ hỗ trợ họ trong tương lai kế hoạch tốt hơn các hoạt
động trồng trọt.
10. Tính bền vững và lợi ích của dự án
Những vấn đề của cả tính bền vững và lợi ích của dự án đã được thảo luận trước đó
tại mục 8 và 9. Tóm lại, có khả năng ảnh hưởng lâu dài từ dự án này vì
• Giống cà chua mới có khả năng kháng bệnh cao và dưa chuột (hạt giống) là một
trong hai hiện đang có sẵn hoặc sẽ sẵn sàng được cung cấp cho nông dân Việt Nam,
thông qua các tổ chức như (SSC và FAVRI).
• Hai tổ
chức nói trên đã tăng năng lực từ các hoạt động của dự án. Điều này là kết
• Lũ lụt ở đồng bằng sông Hồng và Trung bộ cũng bị ảnh hưởng đến một số FFS. Ba
FFS (Hưng Yên, Quảng Nam và Đà Nẵng) đã bị trì hoãn ở vụ thứ hai, và được hoàn
18
thành vào cuối tháng 6, muộn hơn so với dự kiến ban đầu.
12. Chất lượng của những thành tựu hoạt động
Rất khó để đánh giá chất lượng của những thành tựu hoạt động. Nhìn lại, một số vấn
đề có thể đã được xử lý khác nhau, và có thể có ảnh hưởng trên các kết quả dự án.
Thứ nhất, sự tham gia của HUAF trong dự án, như là tổ chức nghiên cứu tại vùng
duyên hải miền Trung, là một vấn đề mà nhóm dự án đã thảo luận trước khi bắt đầu
dự án. Trong khi HUAF cung c
ấp nhiều số liệu đánh giá hữu ích, sự tham gia của các
sinh viên trong hoạt động dự án đã không như kế hoạch. Chỉ có sự tham gia của
Nguyễn Văn Quý của HUAF trong hoạt động dự án tiếp theo là trong chuyến tham
quan học tập tại Úc. Mối quan hệ giữa FAVRI và SPPD tại Đà Nẵng, Quảng Nam đã
dễ dàng và hiệu quả hơn, nhưng điều này bản thân nó cũng xuất hiện mộ
t số vấn đề,
vì khoảng cách giữa các tổ chức này.
Thứ hai, các quyết định về cây giống cà chua ghép như một công nghệ trong dự án
hóa ra lại là một công nghệ rất tốt, mặc dù lúc đầu nó chỉ là một thành phần nhỏ.
Ghép cà chua là một trong những thành công của mô hình trình diễn FFS, và cây
giống ghép tương đối rẻ và khỏe mạnh đã được xác định bởi người nông dân ở hầu
hết các FFS. Tuy nhiên, công tác vận chuy
ển cây giống từ FAVRI cung cấp cho FFS
tại vùng duyên hải miền Trung tỏ ra rất khó khăn, cây xấu và kém chất lượng trong vụ
đầu tiên ảnh hưởng không tốt đến các mô hình trình diễn, SPPD và lợi ích người
trồng cà chua. Ngoài ra, cà chua ghép lên gốc ghép cà tím không được phù hợp như ở
đồng bằng sông Hồng. Trong vụ thứ hai, ông Phong một nhà cung cấp cây giống ghép
chuyên nghiệp từ Lâm Đồng đã cung cấp cây con cho FFS, ghép lên gốc cà chua