Ministry of Agriculture & Rural Development
Báo cáo tiến độ dự án MS6: BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ TƯ
Dự án số 029/05VIE
Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều
ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính
Renkang Peng, Keith Christian và Lã Phạm Lân 28 tháng 2 năm 2008
1
Mục lục
1. Thông tin cơ quan _______________________________Error! Bookmark not defined.
2. Tóm lược dự án _________________________________Error! Bookmark not defined.
3. Tóm tắt việc đã thực hiện _________________________Error! Bookmark not defined.
4. Mở đầu và cơ sở _________________________________Error! Bookmark not defined.
5. Tiến độ thực hiện ________________________________Error! Bookmark not defined.
5.1 Các nét chính của hoạt động _______________________ Error! Bookmark not defined.
Dr Keith Christian and Dr Renkang Peng
Thời gian bắt đầu
Tháng 2, 2006
Thời gian hoàn thành (dự kiến)
Tháng 1, 2009
Thời gian hoàn thành (thực tế)
Giai đoạn báo cáo
Tháng 9, 2007 – Tháng 2, 2008
Đầu mối liên hệ
Úc: Chủ nhiệm
Họ và tên
Keith Christian
Điện thoại:
61 8 89466706
Chứ́c vụ
Phó Giáo sư
Fax:
61 8 89466847
Cơ quan
Đại học Charles Darwin
Email: Úc: Quản lý
Họ và tên
Jenny Carter
Điện thoại:
61 08 89466708
2. Tóm tắt dự án
Cây điều là một cây trồng quan trọng ở Việt Nam, và sự phát triển cây điều được Nhà
nước xem là một chương trình trọng điểm quốc gia. Từ năm 2002 sản lượng điều có gia
tăng nhưng việc sử dụng quá nhiều thuốc hóa học cũng đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe
của nông dân, gia súc, môi trường. Chương trình IPM trên cây điều có sử dụng kiến
vàng là thành ph
ần chính do trường Đại học Charles Darwin (CDU) triển khai không sử
dụng thuốc hóa học độc hại sẽ cho kết quả tốt về năng suất. Dự án ứng dụng và triển
khai chương trình IPM này trong điều kiện của Việt Nam. Những hoạt động dự kiến
cho giai đoạn 6 tháng qua đã hoàn thành. Lớp huấn luyện giảng viên (TOT) năm thứ
hai tại hai trung tâm đang tiến hành tốt. Ngoài hai vườn trình diễn đ
ã thực hiện, vườn
trình diễn thứ ba được thiết lập tại Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp
Hưng Lộc thuộc IAS, tại tỉnh Đồng Nai. Việc thu thập dữ liệu và quản lý vườn đang tiến
Hưng Lộc cho thấy quần thể kiến cao và ổn định trong lô IPM, kiến vàng rất hoạt động và
thu thập thứ
c ăn trên các bông hoa.
Học viên của lớp TOT năm thứ nhất đã triển khai 27 lớp FFS trên 8 tỉnh từ tháng
9/2007 với tổng số 675 nông dân đã tham dự. Mỗi lớp FFS được tổ chức tại nhà của nông
dân, và một phần vườn của chủ hộ được sử dụng làm vườn trình diễn. Ở mỗi lần tập trung,
chúng tôi chú trọng vào các hoạt động trên đồng ruộng, để nông dân thực tập dưới s
ự hướng
dẫn của các giảng viên. Theo báo cáo của các giảng viên, nông dân lớp FFS thích thú với
2
hoạt động kiểm soát của kiến vàng đối với bọ cánh cứng đục nõn, và bọ xít muỗi. Họ cũng
rất quan tâm đến lớp tập huấn.
Việc soạn thảo qui trình IPM cây điều và các áp-phích tiến triển thuận lợi. Bản thảo
tiếng Anh của quy trình gần hoàn tất, và sẽ được gởi đến IAS để dịch sang tiếng Việt trong
tháng 4/2008. Theo kinh nghiệm của các giảng viên TOT và của các học viên TOT, chúng tôi
đề nghị các áp-phích được chuyển thành sổ tay hướng dẫn có hình ảnh minh họa. Quyển sổ
tay này sẽ có các hình ảnh được chú giải, các sơ đồ, biểu đồ, nhấn mạnh các điểm lưu ý về
quản lý vườn điều, sâu hại điều và thiên địch của chúng, như vậy, người nông dân sẽ dễ dàng
tiếp thu. Công việc chọn lựa hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ cho quyển s
ổ tay đang tiến hành, bản
thảo sẽ hoàn thành trong tháng 6/2008.
Với mục tiêu bảo tồn động vật quý hiếm, chúng tôi đã huấn luyện cho 2 người công
tác cho Chương trình Bảo tồn Tê tê Châu Á, Vườn Quốc gia Cúc Phương về kỹ thuật sử
dụng kiến vàng.
Sự chi tiêu của dự án đối với vườn trình diễn, lớp TOT, và lớp FFS trong năm 2007
đã vượt quá kinh phí đề xuất vì ảnh hưởng của sự trượt giá
ở Việt Nam. Để đáp ứng với kinh
phí thực của dự án, chúng tôi đề nghị Văn phòng Quản lý CARD quan tâm đến và hỗ trợ
thêm 35.416 A$ cho phía Việt Nam (Bảng 3).
5.1 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động 1)
Hoạt động I bao gồm 3 khía cạnh: (i) Xác định khu vực dự án thuộc 6 tỉnh có tham
gia dự án, (ii) Lựa chọn giảng viên IPM ở mỗi vùng dự án để thực hiện lớp tập huấn TOT về
IPM cây điều, và (iii) Thực hiện lớp tập huấn TOT về IPM cây điều.
I (i) Xác định khu vực dự án thuộc 6 tỉnh có tham gia dự án
Đã xác định đượ
c 30 điểm, mỗi điểm gồm vài xã thuộc 8 tỉnh có trồng điều (thêm 2
tỉnh so với dự kiến ban đầu) để mở lớp tập huấn nông dân (FFS). Thông tin chi tiết được báo
cáo 6 tháng lần thứ nhất.
I (ii) Chọn lựa giảng viên IPM từ các tỉnh dự án tham gia lớp TOT IPM cây điều
Lớp tập huấn TOT năm thứ nhất, chúng tôi đã chọn được 56 giảng viên IPM từ 8 chi
cục b
ảo vệ thực vật (báo cáo 6 tháng lần thứ nhất). Lớp tập huấn TOT năm thứ hai, chúng tôi
cũng đã chọn 56 giảng viên IPM từ 9 tỉnh có trồng điều để tham gia lớp TOT (tăng thêm 3
tỉnh so với dự kiến ban đầu). Theo yêu cầu của Chi cục Bảo vệ Thực vật hai tỉnh Trà Vinh và
Tây Ninh, lớp TOT năm thứ hai đã có vài giảng viên IPM từ các tỉnh này tham dự lớp tập
huấn (báo cáo 6 tháng lầ
n thứ ba).
I (iii) Tổ chức lớp TOT về IPM cây điều
Trong khoảng thời gian báo cáo từ tháng 9/2007 đến tháng 2/2008, chúng tôi đã tổ
chức đợt tập huấn thứ hai của lớp TOT năm thứ hai theo kế hoạch.
Đợt tập huấn lần hai được tổ chức từ 20-23/12/2007 tại Đồng Nai và từ 22-
25/12/2007 tại Bình Phước. Đợt tập huấn này tập trung vào 3 chủ đề: sinh học và sinh thái
học của kiến vàng, phươ
ng pháp sử dụng kiến vàng trong vườn điều, sâu hại chính trên cây
điều và thiên địch của chúng (Bảng 1, Phụ lục 1). Trong mỗi chủ đề, các giảng viên đã dành
nhiều thời gian để học viên thảo luận và thực hành trong vườn điều. Các học viên hoàn toàn
được thuyết phục về hiệu quả của chương trình IPM qua những quan sát trên đồng ruộng của
điểm trình diễn này phải đối đầu với sự canh tranh của kiến ma là loài làm tổ dưới đất. Kiến
ma có kích thước rất nhỏ khoả
ng 1,5 mm và rất phổ biến trong vườn. Một số biện pháp đã
được thử nghiệm (đặt bẫy ở gốc cây, tưới dầu nhớt ở gốc cây) nhưng các biện pháp này chỉ
có tác dụng tạm thời. Nguyên nhân chính là do các loại cỏ dại mọc trong vườn giữ vai trò là
nguồn cung cấp thức ăn và nơi cư trú cho kiến ma đã bị người nông dân làm sạch vào đầu
tháng 1/2008. Vì thiếu nguồn thức ăn, kiế
n ma bắt buộc phải tìm kiếm thức ăn trên cây điều
(nguồn thức ăn duy nhất còn sót lại trong vườn điều), và kết quả là sự đánh nhau giữa kiến
vàng và kiến ma ở gốc cây điều hoặc ở các cành điều. Vì vậy, kiến vàng không thể thu thập
thức ăn ở các chùm hoa mà tập trung vào sự kháng cự hoặc đánh nhau. Vào cuối tháng
1/2008, các chùm hoa bị gây hại đáng kể.
Để giải quyết vấn đề, Chúng tôi đã thực hiện một
nghiên cứu tức thời về sinh học của kiến ma (hành vi, cấu trúc của tổ kiến, hoạt động trong
ngày và hành vi thu thập thức ăn) vào tháng 2/2008. Chúng tôi đã thử nghiệm một loạt các
phương pháp bẫy, và thấy rằng cá tươi xay nhuyễn trộn với thuốc Regent dạng bột (một bao
0,8 g trộn với 80 kg mồi) có hiệu quả trừ đượ
c kiến ma. Với kết quả này chúng tôi hy vọng
quần thể kiến ma sẽ giảm xuống.
Điểm trình diễn thứ ba được thiết lập tại Trung tâm Hưng Lộc, Đồng Nai, trực thuộc
IAS, vào tháng 10/2007. Lý do chúng tôi chọn điểm này là vì (1) nơi này gần với nơi tổ chức
lớp TOT, và thuận tiện cho học viên quan sát về thiên địch, sâu hại, và các hành vi của kiến
vàng, và (2) điểm này cũng là điểm nghiên cứu c
ủa ông Bình (đề tài nghiên cứu của ông
Bình gắn liền với hoạt động của dự án – xem thêm báo cáo lần thứ hai). Vườn điều này có
diện tích 1,2 ha và được chia làm 2 phần như hai điểm trình diễn cũ là một nửa vườn có thả
kiến (lô IPM ) và nửa vườn còn lại được quản lý theo kiểu nông dân (lô nông dân). Việc thu
thập dữ liệu được triển khai từ tháng 11/2007. Vào giữa tháng 1/2008 dữ liệu thu thập cho
thấy (1) quần th
ể kiến vàng trong lô IPM cao và ổn định, kiến vàng rất hoạt động hiện diện
5.2 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động III)
Hoạt động III là soạn thảo quy trình IPM. Bản thảo quy trình IPM bằng tiếng Anh gần
hoàn chỉnh, và sẽ được chuyển đến IAS trong tháng 4/2008 để dịch sang tiếng Việt trước khi
được gởi đi để nh
ận sự góp ý, đề nghị. Quy trình IPM này chủ yếu sử dụng những dữ liệu thu
thập định kỳ trong lô IPM và lô do nông dân quản lý ở các giai đoạn phát triển của cây điều.
Trong đó, cũng bao gồm những dữ liệu quan sát trong phòng và ngoài đồng. Ngoài ra, các
khuyến cáo về quản lý vườn và kinh nghiệm của người nông dân cũng được đề cập.
5.2 Các nét chính của hoạt động (Hoạt động IV)
Hoạt động IV là thực hi
ện các áp-phích. Theo kinh nghiệm của các giảng viên lớp
TOT, và các học viên, chúng tôi sẽ chuẩn bị các áp-phích này dưới dạng sổ tay hướng dẫn
IPM cây điều có hình ảnh minh họa. Quyển sổ tay sẽ có các hình ảnh được chú thích, sơ đồ,
biểu đồ nhấn mạnh các kỹ năng quản lý vườn điều (gồm cả quản lý các đàn kiến), các loài
sâu hại và thiên địch. Quyển sổ tay hướng dẫn này được soạn cho ngườ
i nông dân dễ sử
dụng. Đối với quyển sổ này, chúng tôi đã thu thập đủ các hình ảnh cần thiết, sơ đồ, và biểu
đồ từ các chuyến dã ngoại, theo dõi định kỳ ngoài đồng, dữ liệu trong phòng thí nghiệm vào
các giai đoạn ra lá non, trước ra hoa, ra hoa, và thu hoạch.
Trong giai đoạn báo cáo (8/2007-2/2008), chúng tôi đã thu thập thêm 85 hình ảnh cho
quyển số tay hướng dẫn này. Công việc tuyển lựa chi tiết đang tiến triển, và bản thảo s
ẽ hoàn
thành trong tháng 6/2008.
Đối tượng hưởng lợi
Theo báo cáo của các giảng viên IPM, nông dân tham dự lớp FFS rất thích thú vì họ
đã thấy tận mắt hiệu quả kiểm soát của kiến vàng đối với các sâu hại chính trên cây điều
(nhất là bọ đục nõn và bọ xít muỗi) mà không sử dụng thuốc trừ sâu. Người nông dân cũng
hài lòng về hạt điều có sắc sáng hơn trong lô IPM so với lô sử dụng thuốc trừ sâu. Với tiế
n
độ thực hiện của các lớp FFS, báo cáo về lợi ích của người trồng điều sẽ được trình bày trong
khai của dự án, một phần lớp huấn luyện TOT, giải quyết vần đề phát sinh từ hai điểm trình
diễn và phân tích dữ liệu.
6. Báo cáo về những vấn đề giao thoa
Môi trường
Theo kết quả điều tra cơ bản, thuốc trừ sâu đã có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người
nông dân, gia súc và môi trường. Chương trình IPM trên cây điều sẽ cải thiện đáng kể môi
trường và sức khỏe người nông dân vì chương trình IPM trên cây điều sử dụng kiến vàng là
thành phần chính và không sử dụng thuốc trừ sâu độc hại. Thí dụ, sau khi vườn đã được thả
kiến vàng thuốc trừ sâu không được sử dụng trong giai đoạn cây điều ra hoa và kết quả. Hạt
điều trong lô IPM sáng và sạch hơn so với hạt trong lô do nông dân quản lý. Nông dân tham
gia lớp FFS tin tưởng rằng chương trình IPM trên cây điều chắc chắn sẽ cải thiện sức khỏe
của họ và môi trường canh tác.
Vấn đề giới tính và xã hội
Theo kết quả điều tra cơ bản, vào khoảng 40% lao động ph
ụ nữ đã tham gia các khâu
quản lý vườn điều, như làm cỏ, xén tỉa, bón phân, thu hoạch, v.v. Vì chương trình IPM cây
điều không đòi hỏi nhiều về sức lực, và không liên quan đến sử dụng thuốc trừ sâu độc hại,
sự chấp nhận chương trình này sẽ thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong ngành trồng điều
sản xuất nhỏ. Trong lớp FFS, phụ nữ và dân tộc ít người được
động viên tham gia. Ngoài ra,
chúng tôi cũng kêu gọi người dân tộc tham gia quản lý vườn điều.
Lớp học chúng tôi đã huấn luyện thêm cho hai người, ông Nguyễn Văn Thái và cộng
sự, công tác tại Trung tâm Bảo tồn Tê tê Châu Á, Vườn Quốc gia Cúc Phương. Sau khi nhận
thấy rằng kiến vàng là thức ăn tốt nhất để nuôi dưỡng con tê tê, họ đã liên hệ với chúng tôi để
tham dự lớp huấn luyện về kiến vàng với mục tiêu là thi
ết lập kế hoạch sử dụng kiến vàng để
nuôi con tê tê. Để giúp đỡ chương trình bảo tồn động vật quý hiếm, chúng tôi đã nhiệt tình
ủng hộ và đồng ý ông Thái và cộng sự tham dự lớp huấn luyện.
7. Vấn đề triển khai và sự bền vững
7.1 Vấn đề và những giới hạn
3. Tiếp tục lớp huấn luyện FFS năm thứ nhất ở 8 tỉnh trồng điều,
4. Hoàn thành quy trình IPM cây điều,
5. Tiếp tục soạn thảo sổ tay hướng dẫn có hình ảnh minh họa.
9. Kết luận
Những hoạt động dự kiến của dự án cho giai đoạn 6-tháng lần thứ tư đã hoàn thành.
Hoạt động I, lớp huấn luyện TOT
Lớp huấn luyện TOT năm thứ hai tiến triển tốt. Việc huấn luyện tập trung vào 3 chủ
đề: sinh học và sinh thái học của kiến vàng, phương pháp sử dụng kiến vàng trong vườn điều,
và sâu hại quan trọng và thiên địch của chúng. Ở mỗ
i chủ đề, giảng viên đã dành nhiều thời
gain cho việc thảo luận trong lớp, và thực tập trong vườn trình diễn. Học viên hoàn toàn
thuyết phục bởi hiệu quả của chương trình IPM qua những quan sát do họ tự thực hiện về
sinh học của kiến vàng, và hiệu quả kiểm soát cao của thiên địch trên rệp sáp giả và rầy mềm.
Các học viên cũng hài lòng với phương pháp giảng của chúng tôi. Báo cáo của lớp TOT trình
bày trong Phụ lục 1.
Quản lý vườn trình diễn
Việc thu thập dữ liệu và quản lý vườn đều ở 3 điểm trình diễn tiến triển tốt. Về quản
lý kiến vàng, theo kết quả gần đây trong tháng 1/2008, sự phong phú của đàn kiến thấp ở
Bình Phước là do sự đánh nhau giữa các đàn kiến, và kiến vàng khó khăn thu thập thức ăn ở
phác hoa ở Đồng Nai do có sự canh tranh vớ
i kiến ma. Việc đánh nhau giữa các đàn kiến đã
được giải quyết và 2 đàn kiến đã được thả thêm vào vườn ở Bình Phước. Việc kiểm soát kiến
8
ma ở Đồng Nai đang tiến hành. Dữ liệu gần đây ở điểm Hưng Lộc cho thấy quần thể kiến
vàng cao và ổn định trong lô IPM, và kiến vàng rất hoạt động thu thập thức ăn ở phác hoa.
Hoạt động II, lớp tập huấn nông dân FFS
Các học viên lớp TOT sau khi tốt nghiệp đã tổ chức được 27 lớp FFS tại 8 tỉnh từ
tháng 9/2007, với 675 nông dân tham dự. Lớp FFS
được tổ chức tại nhà nông dân, và một
kinh phí dự kiến do tỷ lệ lạm phát cao ở Việt Nam. Để đáp ứng kinh phí thực của dự án,
chúng tôi đề nghị Văn phòng CARD quan tâm cung cấp thêm là 35.416 AD cho phía Việt
Nam.
9
10. Bảng và Phụ lục
Bảng 1. Bài giảng và giảng viên trong lớp tập huấn TOT năm thứ hai
Bài giảng Giảng viên
Sinh thái học và sinh học của kiến vàng Nguyễn Thị Thu Cúc
Phương pháp sử dụng kiến vàng Lã Phạm Lân, Nguyễn Thanh Bình
Sâu hại điều và thiên địch trong giai đoạn
điều ra hoa
Lã Phạm Lân, Nguyễn Thanh Bình
Bảng 2. Số lượng lớp FFS và số nông dân tham dự.
Tỉnh Số lớp FFS Ngày khai giảng Số nông dân
Bình Dương 5 14/9/2007 125
Dak Nông 2 5 và 8/11/ 2007 50
Đồng Nai 5 24-30/1/2008 125
Bình Thuận 2 11/2007 50
Bình Phước 4 17/1/2008 100
Bà Rịa - Vũng Tàu 5 1/2008 125
Ninh Thuận 1 11/2007 25
Dak Lak 3 11/2007 75
Tổng cộng 27 675
Tổng
cộng
360,145 166,668 35,416
*, Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam là 8% năm 2006, 12.03% năm 2007 và 8.04% trong tháng
2/2008 theo số liệu thống kê được công bố.
10
Phụ lục 1
Báo cáo tập huấn đợt 2 của lớp TOT năm thứ hai
(tháng 1/2007)
Lần tập huấn đợt 2 của lớp TOT năm thứ hai được tổ chức từ 20-23/12/2007 tại Đồng
Nai, và từ 22-25/12/2007 ở Bình Phước. Các học viên rất thích thú với phần bài giảng và
thực hành, họ hài lòng về phương pháp tập huấn.
Thời điểm tập huấn vào giai đoạn điều trước ra hoa, rất quan trọng
để thả kiến vàng.
Vì vậy, lớp tập huấn tập trung vào 3 chủ đề: sinh học và sinh thái học của kiến vàng, phương
pháp sử dụng kiến vàng trong vườn điều, các sâu hại quan trọng và thiên địch (Bảng 1).
Chủ đề 1, Sinh học và sinh thái học kiến vàng
Chủ đề này bao gồm lý thuyết và thực hành được hướng dẫn bởi TS Cúc, ông Lân và
ông Bình. Mục tiêu của chủ đề là:
(1) Biết về sự phân bố củ
a kiến vàng ở Việt Nam,
(2) Nhận dạng các giai đoạn phát triển của kiến vàng,
(3) Biết về sự hình thành của một đàn kiến vàng, và cấu trúc của đàn kiến,
(4) Biết về biến động quần thể của kiến vàng theo mùa và theo cây trồng ở Việt Nam,
(5) Giới thiệu kiểu sinh sản của kiến vàng ở điều kiện địa phương.
Chủ đề bao gồm phầ
n lý thuyết trong lớp học, và một loạt các thực hành trên đồng.
Về lý thuyết, giảng viên dành cho các học viên TOT nhiều thời gian đặt câu hỏi, và thảo luận
huấn luyện. Ông Thái nhận thấy rằng con tê tê ưa thích ăn kiến vàng và có thể sống mạnh
khỏe, và không bị chết. Kết quả này tốt hơn là nuôi tê tê bằng thịt động vật. Vì vậy, Trung
tâm Bảo tồn Tê tê Châu Á muốn nuôi kiến vàng để có nguồn cung cấp thức ăn liên tục thay
vì thu lượm kiến từ những cây bụi mọc gần Trung tâm (nguồn cung cấp bị giới hạn và không
ổn định). Ông Thái đ
ã liên hệ với chúng tôi và mong muốn tham gia lớp huấn luyện. Chúng
tôi hoàn toàn ủng hộ và đồng ý ông Thái và cộng sự tham gia chương trình nhằm giúp đỡ
Chương trình bảo tồn động vật quý hiếm. Trong khóa học, ông Thái và cộng sự cộng tác rất
chặt chẽ với các giảng viên và học viên TOT, và rất vui về những kiến thức và kỹ năng nuôi
kiến vàng. Đây là một lợi ích thêm của dự án.
Chủ đề 3, Sâu hại quan trọng c
ủa cây điều và thiên địch
Chủ đề gồm có phần thực tập do ông Bình và ông Lân hướng dẫn. Mục tiêu của chủ
đề là:
(1) Hiểu biết về sự kiện các sâu hại thứ yếu như rệp sáp giả, rầy mềm có trở thành sâu
hại chính hay không khi sử dụng kiến vàng trong vườn điều, và
(2) Giúp các học viên nhận biết sự hiện diện và vai trò của thiên địch rệp sáp giả và
rầy m
ềm.
Chủ đề bao gồm một loạt các hoạt động bao gồm quan sát rệp sáp giả và rầy mềm
trong lô IPM, nhận biết các thiên địch của chúng, thu thập dữ liệu đồng ruộng về hiệu quả
của thiên địch đối với rệp sáp giả và rầy mềm. Các học viên đã xác định các thiên địch của
rệp sáp giả, rầy mềm với sự giúp đỡ của các giảng viên, gồm các loài như
bọ rùa, ruồi ăn rệp,
và ong ký sinh. Học viên hoàn toàn thuyết phục bởi số liệu thau thập trong vườn trình diễn
và quan sát đồng ruộng, đã cho thấy mặc dù kiến vàng sống cộng sinh với rệp sáp giả và rầy
mềm, nhưng chúng không gây hiệu quả nghịch đối với thiên địch của hai loài sâu hại này.
Thiên địch đã kềm hãm quần thể của hai loài này xuống dưới mức gây hại. Vì vậy, trong lô
IPM, rệp sáp giả
IV. Thực hiện một loạt các
áp-phích về IPM cây điều có
minh họa
V. Đánh giá hiệu quả của lớp
FFS về IPM cây điều I. Các gi
ảng viên IPM tham dự chương
trình huấn luyện TOT về IPM cây
điều.
II. Nông dân từ các nhóm chủ thể (phụ
nữ, dân tộc ít người ) trong vùng dự án
tham gia lớp FFS về IPM cây điều. III. Quy trình IPM cây điều bao gồm
đặc tính thực vật cây điều, sự sinh sản,
kỹ thuật canh tác, bệnh hại và phòng
trừ, sâu hại và sự gây hại, thiên địch,
biện pháp tổng hợp, vai trò của kiến
vàng, duy trì kiế
n vàng, thu hoạch, và
bảng liệt kê các biện pháp ở từng thời
kỳ sinh trưởng cây
Việc thoe dõi định kỳ, kỹ thuật đánh giá,
và thí nghiệm đã được sử dụng trên
những cây trồng khác ở Việt Nam, và các
giảng viên chính cũng đã có nhận thức về
giới tính và các vấ
n đề xã hội khác.
I. Lớp huấn luyện TOT năm thứ hai đang tiến hành
(xem hoạt động chi tiết). II. Lớp FFS đã thực hiện từ tháng 9/2007.
III. Việc soạn thảo quy trình đang tiến hành(xem
hoạt động chi tiết).
IV. Đang thực hiện các áp-phích (xem hoạt động
chi tiiết).
V. Lượng giá thông tin về
người hưởng lợi ích từ dự án,
và hiệu quả của FFS về nâng
cao kiến thức nông dân trong
IPM cây điều
II. Nông dân tốt nghiệp từ các l
ớp FFS.
III. Bản thảo Quy trình IPM cây điều
xuất bản trong năm thứ 2, và xuất bản
chính thức trong năm thứ 3.
IV. Bản thảo áp-phích xuất bản trong
năm thứ 2, xuất bản chính thức năm
thứ 3.
V. Báo cáo những phát hiện về người
được hưởng lợi từ dự án, và hiệu quả
của FFS về nâng cao kiến thức nông
dân về IPM cây điều.
sự phát triển chương trình IPM đã được
phổ biến rộng rãi và thành công trên cây
lúa, rau cải, bông, trà, đậu tương, lạc, và
khoai lang ở Việt Nam. Những phương
pháp về việc điều tra định kỳ, kỹ thuật
đánh giá sử dụng đã được công bố trên
tỷ lệ của nông dân thuộc các
nhóm chủ thể trong vùng dự
án, mời tham dự lớp FFS.
II (ii) Tiến hành lớp FFS
I(i) Chúng tôi đã xác định 30 vùng trồng điều, mỗi
vùng bao gồm vài xã trong 8 tỉnh trồng điều để tiến
hành lớp FFS.
I(ii) Tổng số 56 giảng viên IPM được chọn lọc từ 8
tỉnh tham dự lớp TOT năm thứ hai ở hai trung tâm.
I(iii) Lớp huấn luyện TOT được thực hiện từ tháng
6/2006, và đang tiến hành.
II (i). Hoạt động này đã chấm dứt cho lớp FFS năm
2007
II (ii) Lớp FFS năm 2007 đã bắt đầu từ tháng
9/2007, và đang tiến hành.
14
ĐỀ NGHỊ BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
Narrative Thông tin cần có Thước đo thực hiện Giả định Thông tin cần có
nghiệm thực hiện trong vườ
n
huấn luyện TOT vào giai
đoạn đâm chồi. IV(ii) Hình ảnh, sơ đồ, biểu
đồ của các điều tra ngoài
III (i) Dữ liệu được thu thập từ những quan sát
đồng ruộng, điều tra ngoài đồng, thí nghiệm trong
phòng cho những phần của quy trình IPM vào giai
đoạn điều ra chồi non: quản lý vườn điều bao gồm
làm cỏ, bón phân, xén tỉa, ghép cành, sâu bệnh hại
quan trọng, và thiên địch. Phân tích dữ
liệu đã hoàn
thành.
III (ii) Trong giai đoạn điều trước ra hoa, tạo hạt,
dữ liệu được thu thập từ những quan sát đồng
ruộng, điều tra định kỳ, nuôi sâu trong phòng cho
các phần của quy trình IPM: quản lý vườn điều
gồm bón phân, sâu hại quan trọng, và thiên địch
thường gặp. Dữ liệu đang phân tích.
III (iii) Hoạt động này đã hoàn tất một phần, nhiều
dữ
liệu sẽ được thu thập trong mùa tới.
đồ của điều tra ngoài đồng,
điều tra định kỳ, những quan
sát và thí nghiệm thực hiện
trong vườn huấn luyện TOT
vào giai đoạn thu hoạch.V (i) Phỏng vấn ngẫu nhiên
các nhóm nhỏ nông dân để
đánh giá kiến thức thu nhận
trước dự án.V (ii) Phỏng vấn ngẫu nhiên
các nhóm nhỏ nông dân để
đánh giá kiến thức thu nhận
sau dự án.V (iii) Phân tích dữ liệu về
người hưởng lợi và kiến
thức.V (iv) Viết báo cáo chi tiết
những phát hiện về người
hưởng lợi trong dự án, và
hiệu quả của FFS về IPM
cây điều.
dự kiến.
ĐẦU RA
Hạng mục đầu vào được
trình bày trong kế hoạch lịch
Đầu vào của dự án được giữ song hành với kế
hoạch dự án như dự kiến.
16
ĐỀ NGHỊ BÁO CÁO TIẾN ĐỘ
Narrative Thông tin cần có Thước đo thực hiện Giả định Thông tin cần có
trình của dự án 17