XÂY DỰNG KHUNG ƯU TIÊN NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP H ỘI THẢO
TIỂU NGÀNH KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH NN BẢN THÔNG TIN VÀ DỮ LIỆU
7 Lĩnh vực Cơ hội Nghiên cứu và Phát triển (EPRO) đối với
KINH TẾ VÀ CHÍNH SÁCH
EPRO 1: Nghiên cứu ngành hàng, phân tích tích thị trường, phân tích và
dự báo chính sách
EPRO 2: Tài nguyên thiên nhiên và quản lý môi trường nông thôn
EPRO 3: Phát triển nghiên cứu, công nghệ và các hệ thống thực hiện
chuyển giao đối với NN và PTNT
EPRO 4: An sinh xã hội đối với người dân nông thôn và xoá đói giảm
nghèo bền vững
EPRO 5: Biến đổi khí hậu
EPRO 6: Phát triển nông thôn
EPRO 7: Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp cận thị trường
đối
với thương mại nông nghiệp Việt Nam
Tháng 07/2010
sống của người dân nông thôn dần được cải thiện và tỉ lệ nghèo giảm. Hiện nay Việt Nam là nước
xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới. Gạo là lương thực chính được sản xuất tại Việt nam và
mức sản xuất gạo tương ứng với thu nhập trang trại và phát triển nông thôn. Sản xuất gạo đóng
vai trò quan trọng trong vấn đề an ninh lương thực của Việt Nam.
Trong quá trình đổi mới, khu vực nông nghiệp đã tăng trên 4,5% hàng năm trong nhiều năm.
Nông nghiệp Việt Nam đã chuyển sang sản xuất hàng hóa bằng cách khai thác triệt để các lợi thế
các tài nguyên đa dạng sinh học. Lương thực, thủy sản, chăn nuôi, rau, quả và sản xuất cây công
nghiệp đã tăng đáng kể. Sản xuất lương thực (bao gồm: thóc, ngô, sắn, và khoai lang) tăng hàng
năm. Giai đoạn 1996- 2001, tổng sản lượng lương thực đã tăng từ 31,48 triệu tấn lên 39,43 triệu
tấn (tương ứng với 5,05% / năm). Từ 2002-2006 sản lượng tăng mạnh hơn, từ 43,1 triệu tấn lên
2
48,9 triệu tấn (tương đương 2,69%/năm). Cùng thời gian này gia tăng sự cạnh tranh về sử dụng
đất và nước giữa sản xuất lúa và cây công nghiệp hoặc các sử dụng khác do quá trình công
nghiệp hóa tiếp tục diễn ra đối với nền kinh tế Việt Nam. Giai đoạn 2001-2007, hơn 500.000ha
(1,2 triệu mẫu Anh) đất trang trại đã bị chuyển đổi thành các khu công nghiệp. Đến năm 2008,
125.000ha đất trồng lúa đã bị mất.
Theo Bộ NN&PTNT tổng doanh thu xuất khẩu của khu vực nông nghiệp ước tính đạt 13,6 tỉ
USD tính đến 10/2008, cao hơn 25,7% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó các sản phẩm nông
nghiệp đạt tới 7,4 tỉ USD, tăng 42,5%; thủy sản đạt 3,8 tỉ USD, tăng 24,2%; sản phẩm lâm nghiệp
đạt 2,46 tỉ USD, tăng 16,7%. Cũng trong thời gian đó, khu vực nông nghiệp có 5 sản phẩm trong
11 sản phẩm của cả nước có doanh thu hơn 1 tỉ USD ( như: thủy sản, gạo, sản phẩm nông nghiệp,
cà phê và cao su).
Tuy nhiên, các thị trường nông nghiệp đã phải đối mặt với nhiều thay đổi khôn lường trong năm
2008. Trong suốt quý II và III, giá lương thực thế giới tăng mạnh và chỉ dừng lại khi ở giá đỉnh-
tăng 300% so với giá lương thực cùng kỳ năm 2007 và sau đó giảm xuống. Ví dụ như, cuối tháng
4 năm 2008, giá gạo xuất khẩu đạt mức cao ở ngưỡng 800đôla/tấn kéo theo giá gạo trong nước
tăng mạnh, xấp xỉ mức 20.000VND/kg (tương đương 1,3đôla/kg). Trong năm 2009, giá gạo lại
giảm. Các sản phẩm thịt và các sản phẩm công nghiệp như cao su cũng chịu hoàn cảnh tương tự :
đầu năm 2009, giá cao su (1.500USD/tấn) đã giảm gần như ½ so với giá đỉnh điểm trong năm
phê, các sản phẩm từ sữa, rau, mía,…Người nông dân rất dễ bị tổn thương do sự biến đổi khôn
lường của giá cả gây ra bởi dư cung hoặc chất lượng kém. Bên cạnh đó, thiếu vắng những dự báo
thị trường chính xác khiến họ không thể điều chỉnh hệ thống sản xuất nhằm giảm thiểu tối đa
nguy cơ hàng hóa kém chất lượng bị trả
lại và tận dụng nguồn vốn việc nâng cao cơ hội tiếp cận
thị trường. Nhiều mặt hàng (như: các sản phẩm thủy sản: tôm, cá ba sa, gạo, cà phê, tiêu, và hạt
điều,…) không thể dự báo thị trường cầu, do vậy có thể phải đối mặt với tình trạng dư thừa hoặc
thiếu sản phẩm. Nông dân thường dựa trên các tín hiệu thị trường ngắn hạn, tự chuyển đổi các
loại hàng hóa nên đã gây ra những tổn thất không chỉ cho chính họ mà còn đối với cả nền kinh tế.
Kết quả là, các nhà đầu tư gặp khó khăn và bất trắc trong việc đầu tư vào các nhà máy chế biến,
cụ thể như trường hợp nhà máy chế biến chè, mía, sắn và các sản phẩm sữa.
Kinh nghiệm từ các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, EU, Úc và Nhật Bản đ
ã
cung cấp cho chúng ta những bài học quý báu. Hoa Kỳ có Cục nghiên cứu kinh tế (ERS) thuộc
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, Úc có Ban Kinh tế và nông nghiệp (ABARE) chịu sự quản lý trực tiếp
của Chính Phủ với hàng ngàn nhân viên. Đặc biệt ABARE có tới 300 chuyên gia làm việc trong
lĩnh vực quản lý và kiểm soát chất lượng sản phẩm. Các nước như Hoa Kỳ, EU và Australia tập
trung vào vấn đề kiểm soát chất lượng và nâng cao giá trị gia tăng của các mặt hàng nông sản hơn
là thúc đẩy cung.
Việc dự báo cũng bao gồm dự đoán tổng sản lượng mùa vụ, dựa trên các số liệu đáng tin cậy từ
thực tế sản xuất. Các số liệu thu thập từ trang trại có thể cung cấp thông tin của ngành nông
nghiệp như: chi phí đầu vào, đầu ra; lợi nhuận, mức đầu tư;…). Kết quả phân tích các dữ liệu và
thông tin trên có thể cung cấp thông tin đầu vào nhằm tư vấn chính sách cho lĩnh vực nông
nghiệp bao gồm các chính sách liên quan đến an ninh lương thực ở cấp tỉnh và cấp trung ương.
Kế hoạch 5 năm phát triển ngành nông nghiệp nông thôn (2006-2010) đã xác định kế hoạch hành
động với sự tập trung phát triển cây trồng hàng hóa , sản phẩm chăn nuôi , cây lâm nghiệp có giá
trị cao theo hướng cải thiện năng suất và sản lượng…. Để thúc đẩy phát triển các ngành hàng đó ,
kế hoạch cũng chỉ rõ định hướng mức tăng trưởng, sản lượng, giá trị gia tăng, thị phần của các
ngành hàng nông nghiệp…Đây được coi là nhiệm vụ then chốt trong kế hoạch hành động của
lĩnh vực nông nghiệp. Do đó, có thể nói rằng phát triển hàng hóa với các giải pháp chủ chốt của
¾ Nghị Định của Chính Phủ về quản lý đất trồng lúa (đang chờ xử lý )
Chính sách đất
Luật Đất đai năm 2003 quy định đất thuộc quyền sở hữu của toàn dân và được nhà nước đại diện
với 5 nghĩa vụ chính : (i) Xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; (ii) quyết định hạn ngạch
và thời hạn sử dụng đất; (iii) cấp giấy xác nhận quyền sử dụng đất cho người sử d
ụng; (iv) thu
thuế sử dụng đất; và (v) xác định giá đất. Người sử dụng đất được giao đất để sử dụng lâu dài và
ổn định đồng thời có 7 quyền về sử dụng đất: chuyển nhượng, trao đổi, cho thuê, cho thừa kế, thế
chấp, tặng, và sử dụng đất để góp vốn kinh doanh. Ngoài ra, người sử dụng đất phải: (i) trồng trọt
luân canh hợp lý; (ii) quan tâm duy trì độ mầu mỡ của đất; (iii) nộp thuế và các khoản phí về sử
dụng đất nông nghiệp. Các khoản thuế liên quan đến đất nông nghiệp của Việt Nam gồm: (i) thuế
sử dụng đất nông nghiệp, (ii) thuế chuyển đổi quyền sử dụng đất, (iii) thuế đất sử dụng quá thời
hạn và giới hạn đất sử dụng. Năm 2003, Chính Phủ đã ban hành quy định hợp pháp về miễn thuế
sử dụng đất nông nghiệp cho hầu hết nông dân đến 2010.
Đặc biệt, các chính sách đất đai dưới đây đều liên quan đến sản xuất nông nghiệp:
¾ Nghị định 09/2000/NQ-CP của Chính Phủ ban hành tháng 6 năm quyết định bình ổn hóa 4
triệu hecta diện tích trồng lúa được tưới và các loại đất trồng lúa không có hiệu quả (so với
mức trung bình của cả nước) được phép chuyển đổi sang trồng các loại hoa màu khác có hiệu
qu
ả hơn.
¾ Nghị định số 03/2000/NQ-CP của Chính Phủ ngày 2/2/2000 về kinh tế trang trại thúc đẩy các
chính sách về giao đất , cho thuê, chuyển đổi quyền sử dụng đất nhằm khuyến khích tập trung
đất canh tác, phát triển nông nghiệp theo hướng quy mô trang trại, tạo điều kiện thuận lợi
phát triển tư liệu sản xuất cho các ngành hàng tập trung.
Các chính sách thương mại
Nhằm đáp ứng các yêu cầu của Hi
ệp định Nông nghiệp (AoA), Chính Phủ Việt Nam đã ban
hành các chính sách dưới đây với mục tiêu hình thành 1 nguyên tắc cụ thể về thương mại nông
nghiệp và các chính sách hỗ trợ, đồng thời tránh sử dụng các chính sách gây tổn hại đến thương
mại toàn cầu của các mặt hàng nông sản.
Hiệp định rào cản kỹ thuật thương mại (TBT): Hiệp định TBT là rất phù hợp đối với các quy
định về kỹ thuật về mọi đặc tính cụ thể của 1 sản phẩm, bao gồm: kích cỡ, thiết kế, vận hành,
đóng gói và nhãn mác. Quyết định số 0975/ QD-BTC của Bộ Tài Chính ban hành ngày 15/2/2008
phê duyệt dự án hỗ trợ kỹ thuật sau khi gia nhập WTO giai đoạn 1. Dự án nhằm đánh giá hiện
trạng và đề xuất các giải pháp tháo gỡ khó khăn trong việc thực hiện cam kết WTO của các cơ
quan về phân phối, kinh doanh, kiểm tra, quản lý hàng hóa.
Hiệp định Th
ương mại liên quan tới các lĩnh vực của Quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS): hiệp định
này bắt buộc các thành viên có trách nhiệm bảo vệ sự sáng tạo của sản phẩm và quy trình sản
xuất. Hiệp định bao gồm tất cả các quyền sở hữu trí tuệ với đầy đủ công cụ để bảo vệ các tác giả,
các nhà đầu tư, nhãn hiệu và tên các sản phẩm tránh bị bắt chước hoặc tái sản xuất. Các giống cây
trồng và các chỉ số địa lý liên quan đến nông nghiệp cũng được đề cập trong hiệp định này.
Các điều khoản dưới đây buộc các thành viên WTO áp dụng quyền sở hữu trí tuệ đối với các sản
phẩm là các giống cây trồng và các chỉ số địa lý:
¾ Luật số 50/ 2006 ngày 29/11/2006 về quyền sở hữu trí tuệ
¾ Nghị định số 104/2006/ND-CP ngày 22/9/2006 về các quyền sở hữu trí tuệ đối với các giống
cây trồng, rượu vang và các đồ uống có cồn
¾ Nghị định số 54/2000/ND- CP ngày 13/10/2000 về bí quyết thương mại và địa lý
6
Ngoài các hiệp định WTO, Việt Nam cũng ký kết một số hiệp định trong khu vực có khả năng
ảnh hưởng tới nông nghiệp như thỏa thuận AFTA/CEPT, hiệp định thương mại song phương với
Hoa Kỳ, tự do thương mại với TQ (AFTA-China), và tự do thương mại với Hàn Quốc (AFTA-
Korea). Tất cả các hiệp định này về cơ bản tập trung vào việc giảm thuế nhập khẩu và các hàng
rào thương mại cũng như phi thương mại, buộc tất cả các thành viên phải mở cửa thị trường đối
với các hàng hóa nhập khẩu.
Các văn bản tổng quát cấp trung ương liên quan đến các sản phẩm nông nghiệp và xuất
khẩu
¾ Quyết định số 69/2007/QD-TTg được Thủ Tướng ban hành ngày 18/5/2007 về kế hoạch
phát triển ngành công nghiệp chế biến nông nông-lâm sản đến 2010 và tầm nhìn 2020
khẩu mạnh thường rất lớn mà không quan tâm đầy đủ đến thị trường. Cung ứng, thường là chất
lượng thấp, nhanh chóng vượt quá cầu đối với một số loại có dư sản phẩm như: cà phê, gạo, cá ba
sa trong những năm gần đây đã ảnh hưởng đáng kể đối với đời sống của người sản xuất. Cũng
trong thời điểm này, đầu tư và lợ
i thế cạnh tranh tại các sản phẩm/ lĩnh vực định hướng tiêu thụ
7
nội địa bị giảm, làm tăng nguy cơ rủi ro mất thị trường trong nước do phải cạnh tranh gay gắt với
các mặt hàng nhập khẩu.
Nông dân là những người yếu thế nhất trong chuỗi giá trị. So với các bên liên quan khác trong thị
trường, nông dân hưởng lợi ít nhất từ chuỗi giá trị. Không có chính sách nào phù hợp mặc dù tất
cả các chính sách hiện hành đều ưu tiên cho nông dân. Một số chính sách cung cấp hỗ trợ vật chất
hơn là hỗ trợ về mặt phương pháp để khuyến khích nông dân. Giá trị gia tăng từ chuỗi giá trị hầu
hết là từ quá trình chế biến, đóng gói, quảng cáo và các chiến dịch tiếp thị trong khi phần lớn nông
dân Việt Nam chỉ có thể tiếp cận với sản xuất thô. Điều này đặc biệt đúng đối với các nông dân
sản xuất qui mô nhỏ hay những người sống ở khu vực vùng sâu vùng xa.
3.3. Môi trường xã hội
¾ Việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang mục đích công nghiệp có ảnh hưởng tới đói nghèo và
lao động vì các gia đình nông dân bắt buộc phải tìm kiếm các việc làm phi nông nghiệp. Theo
ước tính của Bộ Lao Động, Thương Binh và Xã hội, trung bình 1 hộ nông dân có 1,5 lao động
bị thất nghiệp do đất sản xuất bị thu hồi trong khi đó phần lớn những người dân này đều
không được học hành và hướng nghiệp đầy đủ
¾ Các quyết định của nông dân về hệ thống nông nghiệp họ sử dụng cũng như kết hợp sx các
sản phẩm nông nghiệp thì bị giới hạn bởi việc qui hoạch sử dụng đất cho những cây trồng cụ
thể ví dụ như lúa. Trong khi sản xuất lúa gạo có thể đảm bảo an ninh lương thực, nó cũng gây
ảnh hưởng đáng kể tới thu nhập của hộ nông dân vì họ không có khả năng chuyển sang các hệ
thống sản xuất có giá trị cao hơn.
¾ Việc chạy mô hình sẽ xác định tác động đối với phân bổ thu nhập của sử dụng, chuyển đổi
mục đích sử dụng đất cũng như tự do hóa thương mại ở phạm vi ngành và khu vực và sẽ giúp
xác định các nhóm yếu thế và xây dựng chính sách phù hợp để có thể giúp đỡ họ. Điều đó
3
đã tiến hành một cuộc nghiên cứu về ngành gạo của Việt Nam trên thị
trường thế giới, tổng hợp sản lượng, cơ cấu và xu hướng thương mại của thị trường gạo thế
giới đồng thời đánh giá các chính sách hiện có áp dụng cho ngành lúa gạo, đặc biệt là các
chính sách liên quan đến tiếp cận thị trường, trợ cấp xuất khẩu, sử dụng sản phẩ
m biến đổi
gen và hỗ trợ trong nước của các quốc gia khác.
¾ Nghiên cứu về sức cạnh tranh của ngành công nghiệp cà phê Robusta ở Việt Nam đã đưa ra
kết luận rằng sức cạnh tranh của ngành cà phê Việt Nam trong những năm qua là dựa vào giá
sức lao động thấp, sản lượng cao do nhiều phân bón và tưới tiêu, các chính sách phát triển cơ
sở hạ tầng cho tất cả các bên liên quan đến sản xuất, chế biến và tiêu thụ cà phê. Những xu
hướng gần đây trong thị trường cà phê đã cho thấy khó có thể duy trì sức cạnh tranh cao của
cà phê Việt Nam do xu hướng của thị trường cà phê thế giới là chất lượng cao, sản phẩm hữu
cơ và sạch cùng với sự quan tâm cao đối với GAP và các tác động của môi trường.
Nghiên cứu về tác động của hội nhập thương mại thế giới
¾ Nielsen (2003)
5
đã đưa ra 3 chính sách thương mại có ảnh hưởng trực tiếp tới ngành lúa gạo
của Việt Nam: (i) dỡ bỏ hạn ngạch xuất nhập khẩu phân bón cho lúa gạo có xu hướng tăng
hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế.
(ii) Chính sách đất đai và giao đất- là những công cụ hạn chế thay đổi mục đích sử dụng đất
nông nghiệp, tạo khó khăn cho các hoạt động sản xuất, xuất khẩu và đa dạng sản phẩm nông
nghiệp thông qua điều chỉnh việc giao đất nông nghiệp và điều đó sẽ giảm lợi thế so sánh và
lợi ích kinh tế xã hội của các đối tác khác nhau.
(iii) Hiệp định thương mại ưu đãi với EU- các đối tác thương mại của Việt nam dường như
không có lợi cho ngành sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam vì họ
đặt Việt Nam vào
vị trí sân chơi cạnh tranh đối với tất cả các quốc gia xuất khẩu vào thị trường EU.
¾ Một nghiên cứu về tự do hóa thương mại trong ngành công nghiệp chăn nuôi áp dụng mô
hình cân bằng chung để đánh giá tác động của tự do hóa thương mại đã cho thấy (i) nhìn
ợp với các chính sách đa dạng cây trồng
nhằm giả quyết vấn đề nghèo ở nông thôn.
¾ Một nghiên cứu toàn diện về các bên liên quan trong thị trường chăn nuôi như: người chăn
nuôi, người kinh doanh thức ăn chăn nuôi, người chế biến, người kinh doanh thịt, người chế
biến thịt, người tiêu dùng, người bán lẻ và các cơ quan thú y đã phân tích nhu cầu thịt và tính
toán biến động giá ở thị trường Hà Nội và H
ồ Chí Minh.
Nghiên cứu về dự báo cung ngành hàng
¾ Một nghiên cứu về dự báo cung dài hạn của 5 vùng trồng cà phê chính ở Việt Nam có sử
dụng mô hình của Vintage và phân tích các tác động của nhiều yếu tố (giá cà phê, giá đầu
vào, tuổi cây, sản lượng, ) liên quan đến hoạt động cung cấp cà phê. Nghiên cứu đã đưa ra
những dự đoán chi tiết về việc cung cấp cà phê của mỗi vùng ở mỗi khu vực nghiên cứu.
4.2. Các vấn đề chính
¾ Thiếu nguồn dữ liệu (dữ liệu và hình ảnh) để phân tích thị trường đầy đủ theo chuỗi thời
gian và thường xuyên cập nhật. Mặc dù đã có khá nhiều nguồn thông tin thị trường nhưng
các nguồn thông tin này chỉ được thực hiện trong khuôn khổ các dự án, do vậy không thể
duy trì tính ổn định lâu dài và các đơn vị nghiên cứu không có cơ chế để trao đổi và sử dụng
thông tin hiệu quả.
¾
Thông tin thị trường đơn thuần là thông tin về giá- chủ yếu là giá bán lẻ, trong khi các
thông tin quan trọng khác để phân tích thị trường như: sự khác biệt thị trường, lợi thế so
sánh, các xu hướng thị trường và các cơ hội tương lai thường dễ tìm nhưng hiếm khi được
đưa vào nghiên cứu ngành hàng.
¾ Các thông tin thu thập được không đáp ứng đầy đủ yêu cầu nghiên cứu thị trường ngành
hàng, đặc biệt là các thông tin cần thiết để
đánh giá cung- cầu của các loại hàng hóa.
¾ Tính kịp thời của thông tin về ngành hàng chiến lược được thu thập theo hệ thống từ trên
xuống của Tổng Cục Thống Kê (GSO) cho thấy dự báo về sản lượng cây trồng thường
không có cho đến thời điểm sau thu hoạch và thông tin này không giúp các nhà sản xuất,
chế biến và xuất khẩu đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn.
hợp tác tốt nhất để nắm bắt thời cơ và giảm tối đa chi phí giữa các bên liên quan trong chuỗi
giá trị của ngành hàng, đã tự khẳng định rằng đây là một cách hiệu quả được áp dụng ở
nhiều quốc gia. Cụ thể, nếu một tổ chức ngành hàng được thiết lập, nó sẽ thực hiện các chức
năng sau: (i) quản lý ngành; (ii) tổ chức nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao năng
lực; (iii) đề xuất chính sách; và (iv) tư vấn đầu tư,…
¾ Không có thông tin kịp thời cho nông dân, cán bộ khuyến nông và các bên liên quan khác
để họ có thể xây dựng kế hoạ
ch và hoạt động đầu tư nhằm tăng thu nhập và lợi nhuận.
¾ Không có thông tin về “sức khỏe/khả năng” của mảng sx nông nghiệp quy mô nhỏ. Có thể
thu thập thông tin và dữ liệu hàng ngày thông qua xây dựng hệ thống giám sát cho các
ngành hàng quan trọng nhất. Những thông tin như vậy có thể giúp hỗ trợ xây dựng chính
sách nông nghiệp và nông thôn để giải quyết các vấn đề kinh tế và xã hội quan trọng trong
việc ổn định nông hộ.
¾ Yếu kém trong việc lập kế hoạch, thông tin thị trường, kiểm soát chất lượng, quản lý an toàn
thực phẩm và cây trồng nông nghiệp, bình ổn giá đầu vào, đầu ra,… đã phản ánh năng lực
yếu kém trong quản lý, xây dựng, thực hiện các chính sách ngành hàng nông sản. Tuy
nhiên, khả năng nghiên cứu chính sách nông nghiệp, việc thực hiện và quản lý vẫn còn yếu.
Cần phải vạch ra những chương trình ở quy mô rộng và lâu dài để đáp ứng đầy đủ các yêu
cầu sản xuất. Vì vậy, sự hỗ trợ từ dự án này là hết sức quý giá và cần thiết; tuy nhiên, đây
mới chỉ là bước sơ khai. Cần có những nỗ lực và tiếp tục đầu tư để đáp ứng yêu cầu đa dạng
của thị trường.
11
Các đơn vị thực hiện nghiên cứu
Hiện nay, Bộ NN&PTNT vẫn chưa có bất kỳ một hệ thống tổ chức hay quy trình nào để thực
hiện phân tích cập nhật các thị trường ngàng hàng. Nghiên cứu ngành hàng và thông tin thường
liên quan đến các dự án, có tính chất ngắn hạn và thiếu khung tổ chức. Xây dựng và phát triển
các kỹ năng này đòi hỏi nhiều thời gian và cần sự hỗ trợ kỹ thuật của các tổ chức quốc tế.
Hiện nay, IPSARD là một trong số ít các tổ chức đang tiến hành nghiên cứu chính sách về các
ngành hàng nông sản của Việt Nam. Các nhà nghiên cứu của IPSARD hiện vẫn còn yếu và thiếu
kê Việt Nam trong việc thiết kế và thiết lập
hệ thống điều hành.
• Với tư cách là tổ chức nghiên cứu kinh tế
chính thức, IPSARD sẽ dễ dàng nhận được
sự ủng hộ trong việc thiết lập hệ thống giám
• Không có nhiều nghiên cứu thị trường áp dụng
các phương pháp tiêu chuẩn quốc tế.
• Nghiên cứu thị trường ngành hàng (nếu có)
không tuân theo các tiêu chuẩn đồng nhất mà
thường là kết quả của các dự án ngắn hạn.
• Các chuyên gia của Bộ NN chủ yếu tập trung
vào lĩnh vực sản xuất như: giống, thủy lợi và
mở rộng canh tác trong khi chỉ có một vài
chuyên gia về thị trường ngành hàng nông
nghiệp.
• Kinh nghiệm thực tế của các nhà nghiên cứu
của Viện CS và của một số cơ quan khác ở Việt
Nam vẫn còn yếu.
• Các dữ liệu trong nước không được cập nhật
đầy đủ phù hợp với những thay đổi của thông
tin dự báo và phân tích thị trường.
• Không có đủ thông tin dữ liệu quốc tế từ những thị
trường lớn, việc trao đổi và tiếp cận với nguồn
thông tin này khá tốn kém.
• Các nghiên cứu thường sử dụng nguồn dữ liệu cũ,
tốn thời gian; do đó, không đáp ứng được nhu cầu
cấp thiết của các nhà hoạch định chính sách và các
doanh nghiệp.
• Thiếu kinh phí và các chuyên gia thống kê để thiết
lập hệ thống giám sát sản xuất.
• Ngày càng có nhiều các tổ chức quan tâm đến
nghiên cứu dự báo thị trường, đặc biệt là các
nghiên cứu tác động của thị trường tới phát triển
kinh tế xã hội khu vực nông nghiệp nông thôn
và trên cả nước.
• Nghị quyết “Tam nong” đã chỉ ra những vấn đề
quan ngại của Chính phủ đối với nông nghiệp.
• Việc mở rộng và thường xuyên cập nhật các
thông tin về ngành hàng sẽ giúp xây dựng
phương pháp tiếp cận lập kế hoạch dài hạn cho
phát triển công nghiệp-nông nghiệp.
• Sự phát triển của phân tích ngành hàng và việc
giám sát liên tục sẽ giải quyết được nhu cầu của
các nhà hoạch định chính sách thông qua tham
vấn lấy ý kiến đóng góp nhanh và thường
xuyên.
• Sự phối hợp giữa dự báo ngắn hạn và dài hạn sẽ
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các doanh nghiệp
trong việc đưa ra quyết định đầu tư.
• Thiếu nguồn kinh phí hỗ trợ dài hạn cho việc phát
triển và duy trì các dự báo ngành hàng sẽ đồng
nghĩa với việc mọi hoạt động c
ấ
p ngân sách ng
ắ
n
hạn đều không mang lại hiệu quả cao.
• Tình trạng thiếu năng lực hoặc thiện chí của các cơ
quan nhà nước hoặc cơ quan có kinh nghiệm đáng
kể trong khảo sát nông hộ và dự báo thị trường
• Kịp thời cung cấp thông tin, kiến thức, kết quả nghiên cứu trên thông qua diễn đàn đối thoại
chính sách, hội thảo, ấn phẩm nhằm hỗ trợ cho việc xây dựng chiến lược và kế hoạch hành
động của khu vực nhà nước và tư.
1.3. Nội dung nghiên cứu
Trọng tâm gồm:
• Quản lý và sử dụng đất trong nông nghiệp và khu vực nông thôn
• Quản lý và sử dụng nước trong nông nghiệp và khu vực nông thôn (thủy lợi và nước sinh
hoạt)
• Bảo tồn đa dạng sinh học trong nông nghiệp và
• Bảo vệ môi trường nông thôn
2. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH
2.1. Giới thiệu
Sau khi tiến hành một loạt các cải cách, nền kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng nhanh vào
thập kỷ 90. Ngành nông nghiệp đã phát triển vượt bậc với tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm
là 4 %. Mặc dù đã đạt được những thành quả đáng tin cậy, vẫn dấy lên lo ngại liệu quá trình phát
triển này có bền vững về môi trườ
ng hay không. Có hai vấn đề chính: Thứ nhất, tình trạng ô
nhiễm không được kiểm soát của các họat động sản xuất nông nghiệp;và thứ hai: khai thác cạn
14
kiệt tài nguyên thiên nhiên. Những nguy cơ này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới toàn bộ hệ thống
sinh thái nông nghiệp và nông thôn, làm suy giảm hiệu quả sản xuất của các yếu tố môi trường,
suy giảm năng suất cây trồng và chăn nuôi và đe dọa sức khỏe người nông dân.
Mặc dù chính phủ đã xây dựng một lọat các chính sách để giải quyết những vấn đề này,
song tác động của chính sách đó vẫn còn rất hạn chế. Dường như không có một giải pháp duy
nhất nào có thể giải quyết được mọi vấn đề trong việc quản lý tài nguyên thiên nhiên và môi
trường nông thôn. Thay vào đó, cần có sự kết hợp cẩn trọng các chính sách tổng hợp và nhất
quán trên cơ sở căn cứ khoa học vững chắc và định lượng.
2.2. Môi trường chính trị và pháp lý
thành phố và cấp quốc gia. Chu kỳ khoanh vùng sử dụng đất là 10 năm và quy hoạch sử dụng đất
là 5 năm.
Đất nông nghiệp được phân loại theo 6 tiêu chí sau: (i) Đất trồng cây hàng năm; (ii) Đất
trồng cây lâu năm; (iii) Đấ
t lâm nghiệp (rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng); (iv) Đất
nuôi trồng thủy sản; (v) Đất làm muối; (vi) Các loại đất nông nghiệp khác theo qui định của nhà
nước.
15
Thời hạn và quỹ sử dụng đất
Mục đích sử dụng đất Thời hạn Hạn mức đất
Trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, sản xuất
muối
20 năm
2 ha (miền Trung và miền Bắc)
3 ha (Đồng bằng sông Cửu Long)
Trồng cây lâu năm 50 năm 10 ha
Đất bổ sung để trồng cây lâu năm 50 năm 5 ha
Rừng 50 năm 30 ha
Đất bổ sung cho rừng phòng hộ và rừng sx 50 năm 30 ha
Thuế đất nông nghiệp
Các loại thuế hiện hành liên quan đến đất nông nghiệp ở Việt Nam bao gồm (i) thuế sử
dụng đất nông nghiệp, (ii) thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất, và (iii) thuế đất vượt hạn mức.
Năm 2003, Nhà nước đã thông qua luật miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp cho hầu hết người
nông dân đến năm 2010.
Thị trường đất nông nghiệ
p
Chuyển nhượng đất: Có 9 hình thức giao dịch liên quan đến đất bao gồm chuyển nhượng,
trao đổi, cho thuê, thừa kế, thế chấp, trao tặng, đấu thầu, cho thuê và sử dụng đất để vốn góp. Để
Phí cung cấp dịch vụ thủy lợi được thu từ các tổ chức và cá nhân sử dụng tài nguyên nước
cho sản xuất lúa, rau màu, vụ đông, cây công nghiệp ngắn ngày và sản xuất muối. Nhà nước ban
hành khung mức phí và mỗi tính có thể tự quyết định mức cụ thế theo thực tế. Phí được tính bằng
đồng Việt Nam và được thu căn cứ theo diện tích đất được tưới tiêu và loại cây trồng thay cho
căn cứ theo lượng nước được sử dụng.
Thông thường, các nhóm dùng nước đứng ra thu phí và sẽ trích lại một phần phí làm công
thu phí. Phần còn lại được chuyển cho IMC. Tuy nhiên, phần phí này thường không vượt quá một
nửa chi phí quản lý và vận hành của IMCs. Nếu tính cả chi phí giảm nhẹ thiên tai và phục hồi
công trình quy mô lớn, phần phí này chỉ đáp ứng khoảng ¼ tổng chi phí quản lý và vận hành.
Gần đây, Nghị định 154/2007/ND-CP của chính phủ đã miễn phí thủy lợi cho nông dân từ kênh
do IMC cung cấp dịch vụ. Tuy nhiên, nông dân vẫn phải trả phí thủy lợi nội đồng. Chính sách
này đã dấy lên nhiều lo ngại về hiệu quả và tác động kinh tế xã hội.
Nước sạch ở khu vực nông thôn
Ở cấp trung ương, Trung tâm quốc gia cung cấp nước uống và vệ sinh nông thôn trực
thuộc Bộ NN&PTNT chịu trách nhiệm: (i) Xây dựng kế hoạch và chiến lược quốc gia về cung
cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn; (ii) Ban hành tiêu chuẩn kỹ thuật xây dựng công trình cung
cấp nước sạch; (iii) giám sát chất lượng nước. Ở cấp tỉnh, có các trung tâm cung cấp nước uống
và vệ sinh nông thôn dưới quyền quản lý của Sở NN & PTNT tỉnh. Hàng năm, những trung tâm
này lựa chọn vài xã trong tỉnh để xây dựng các công trình cung cấp nước sạch (bao gồm công
trình cung cấp nước sạch cộng đồng, hồ chứa nhỏ, giếng sâu và công trình cung cấp nước tư
nhân) cho người dân nông thôn. Kinh phí xây dựng công trình nước sạch được đóng góp từ ngân
sách nhà nước, ngân sách tỉnh và người sử dụng nước. Phần đóng góp của người sử dụng nước ít
nhất là 25% tổng chi phí. Họ có thể xin vay tín dụng của ngân hàng (Tổng ngân sách của Chương
trình quốc gia cho vay tín dụng là 5649 tỉ VND). Các công trình nước sạch sau khi hoàn tất việc
xây dựng được chuyển giao cho cộng đồng nông thôn quản lý. Bên cạnh hệ thống của nhà nước,
ở một số tỉnh, các công ty tư nhân cũng tham gia cung cấp nước sạch cho khu vực nông thôn.
Người sử dụng nước phải trả phí sử dụng nước cho các công ty này.
Tiêu chuẩn nước uống cho khu vực nông thôn do Bộ Y tế quy định. Bộ TNNN & MT, Bộ
NN & PTNT và Bộ Y tế quản lý chất lượng nước. Tuy nhiên, giữa các bộ này chưa có sự phối
hợp chặt chẽ.
trong khu vực sản xuất).
Bảo tồn đa dạng loài
Bộ NN & PPTNT phối hợp với các bộ, ngành khác điều tra, đánh giá những giống thực
vật và vật nuôi đặc hữu đang bị đe dọa để đưa vào danh sách các loài cá giá trị đang bị đe dọa cần
được bảo vệ.
Cơ quan hải quan phải kiểm tra, xác định và xử lý các lô hàng nhập lậu giống loài ngoại
lại. Ủy ban nhân dân tỉnh phải lập danh mục các giống ngoại lai là cây xâm chiếm để báo cáo Bộ
NN & PTNT và Bộ TNTN & MT. Chỉ được phép lai tạo giống ngoại lai sau khi kết quả kiểm
định cho thấy các loài đó không gây hại đến đa dạng sinh học.
Bảo tồn đa dạng gen
Các bộ ngành phải bồn tồn và bảo vệ các yếu tố di truyền của loài và danh sách giống cây
trồng và vật nuôi đang bị đe dọa phục vụ cho mục đích nghiên cứu. Nhà nướ
c khuyến khích các
tổ chức và cá nhân bảo vệ và bảo tồn các yếu tố di truyền để thiết lập hệ thống ngân hàng gen góp
phần bảo tồn đa dạng sinh học. Cho đến nay, nhiều cơ sở nghiên cứu của Bộ NN & PTNT đã có
ngân hàng gen riêng cho các lĩnh vực nghiên cứu của mình, như Viện nghiên cứu ngô, viện
nghiên cứu cây lương thực, v.v.
Bộ TNTN & MT quản lý hệ thống dữ liệu gen bị biến đổi và yếu nhân tố di truyền của
các loài biến đổi gen liên quan đến đa dạng sinh học. Các tổ chức và cá nhân tiến hành nghiên
cứu để tạo ra những loài biến đối gen phải đăng ký với Bộ Khoa học và Công nghệ.
2.2.4. Bảo vệ môi trường nông thôn
Nhìn chung, việc bảo vệ môi trường nông thôn được quy định cụ thể trong các văn bản
pháp quy như Luật bảo vệ môi trường 2005, Nghị định 67/2003/ND-CP về phí b
ảo vệ môi trường
18
đối với nước thải, và Nghị định 174/2007/ND-CP về phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn,
v.v. Ngoài ra, vấn đề này cũng được quy định trong các chiến lược (Chiến lược bảo vệ môi
trường quốc gia đến năm 2010, Chương trình quốc gia 21 về chiến lược định hướng hướng tới
phát triển bền vững 2002), Chương trình quốc gia của chính phủ về nước sạch và v
phân chia manh mún. Cho đến nay, ở Việt Nam chỉ có 700 xã ở 20 tỉnh đã thực thi việc trao đổi
luống đất (BỘ NN&PTNT 2002). Ở Việt Nam, theo ước tính, có 70 – 100 triệu lô hay mảnh đất,
trong đó khoảng 10% số mảnh đất có diện tích chỉ 100m2 hoặc thấp hơn (Ngân hàng Thế giới
2003). Tình trạng này làm giảm năng suất và cản trở quá trình sản xuất nông nghiệp theo hướng
sản xuất hàng hóa, áp dụng công nghệ tiên tiến, do dó ảnh hưởng đến hiệu quả
sản xuất nông
nghiệp của các hộ gia đình. Quyền sở hữu đất không rõ ràng cộng với thị trường mua bán chuyển
nhượng đất kém phát triển, ruộng đất bị chia cắt nhỏ lẻ manh mún khiến cho những hộ nông dân
có điều kiện không muốn bỏ vốn đầu tư vào nông nghiệp. Mặc dù những chính sách khuyến
khích dồn điền đổi thửa, tích tụ đất đai dẫn
đến tình trạng một bộ phận nông dân mất đất và phân
hóa nông thôn ở một mức độ nào đó, người ta trông đợi những chính sách như vậy có thể thúc
đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, cơ giới hóa, và tạo động lực đổi mới
19
công nghệ vốn được xem là những yếu tố then chốt cho ngành nông nghiệp Việt Nam tăng
trưởng bền vững.
Sử dụng đất không hiệu quả của các nông trường quốc doanh. Vào thời điểm này, Việt
Nam có 314 nông trường, và 353 lâm trường quốc doanh, quản lý khoảng 4.6 triệu ha đất nông
nghiệp, trong đó phần lớn tập trung ở vùng miền núi và vùng sâu vùng xa. Tuy nhiên, hiệu quả sử
dụng đất của các nông lâm trường còn thấp do cơ chế quản lý không tạo ra động lực cho hộ nông
dân tăng năng suất. Năm 2006, khoảng 70% nông trường quốc doanh kinh doanh thua lỗ.
Thị trường đất bị đóng băng. Trên thực tế, bên cạnh hệ thống giá chính thức do nhà nước
quy định, có một hệ thống giá “ngầm” phản ánh giá trị thực của thị trường và thường cao hơn giá
nhà nước quy định. Quyền sử dụng đất chưa phản ánh đúng giá trị thực của nó trên thị trường,
điều này đã những hộ nông dân làm ăn hiệu quả tận dụng cơ hội thị trường đẩy mạnh sản xuất, và
khuyến khích những nông dân làm ăn kém hiệu quả ra khỏi ngành.
Miễn thuế sử dụng đất. Chính phủ đã miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp vào năm 2000.
Trên thực tế, khoản thuế này chỉ đóng góp không đáng kể vào ngân sách nhà nước với tỷ lệ chỉ
khoảng 2-3 %. Mặc dù đã giảm nhẹ gánh nặng tài chính cho người nông dân, chính sách miễn
20
• Xâm nhập mặn do chuyển đổi đất nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản và việc sử dụng
nguôn nước ngầm cho tưới tiêu không bền vững và hậu quả là xâm nhập mặn đã xảy ra.
Biến đổi khí hậu và an ninh lương thực. Theo IUCN (2007), Việt Nam là một trong năm
quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu. Theo ước tính đồng bằng sông Cửu
Long sẽ mất 40 % đất nông nghiệp. Hơn nữa, tổng sản lượng lương thực của Việt Nam sẽ giảm
12 % (khoảng 5 triệu tấn). Tuy vậy, có vẻ như là Việt Nam chưa xây dựng quy hoạch và khoanh
vùng đất tổng thể để đối phó với hiểm họa này.
3.2. Quản lý nước
Sử dụng nước kém hiệu quả. Khi nước cho tưới tiêu và sinh hoạt hàng ngày được sử
dụng miễn phí hoặc định giá thấp, thì hệ lụy là người nông dân sẽ sử dụng lãng phí. Một số
nghiên cứu điển hình ở đồng bằng sông Hồng cho thấy sản xuất lúa gạo đã sử dụng quá nhiều
nước.
Thiếu ngân sách tài chính để duy trì và nâng cấp công trình thủy lợi, công trình cấp
nước sạch. Phí sử dụng nước thu được không đủ trang trải cho hoạt động bảo trì hệ thống tích trữ
và phân phối nước theo đúng tiêu chuẩn đã làm hiệu suất của hệ thống này giảm nghiêm trọng.
Điều này lại dẫn đến việc sử dụng nước kém hiệu quả ngày càng gia tăng. Như vậy, người dùng
nước có thể rơi vào tình trạng “tiết kiệm bất hợp lý'', trong đó họ phải trả rất ít hoặc không phải
chi trả trực tiếp cho lượng nước đã sử dụng, nhưng hệ quả là thu nhập bị giảm do sự suy yếu của
dịch vụ cấp nước. Theo Bộ NN & PTNT (2006), do bị xuống cấp, hoạt động của hệ thống thủy
lợi hiện nay chỉ đạt 55-65 % công suất thiết kế.
Thâm hụt ngân sách chính phủ cho các dịch vụ cấp nước. Tại thời điểm này, vì cả thủy
lợi và việc cấp nước sạch nông thôn đều được bao cấp, chính phủ đã dành một khoản ngân sách
lớn để duy trì các dịch vụ này.
Dịch vụ Khối lượng
Thủy lợi Ngân sách nhà nước: từ 2000 - 3000 tỉ đồng hàng năm
Cấp nước sạch nông thôn Ngân sách nhà nước: 4500 tỉ đồng năm 2006-2010
Ngân sách địa phương: 2300 tỉ đồng năm 2006-2010
Thiếu nước uống cấp cho sinh hoạt ở nông thôn. Thiếu nước uống cho sinh hoạt ở nông
thôn đã gây ra sự bất bình đẳng giữa dân cư nông thôn và thành thị. UNICEF và Bộ Y tế (2008)
chính phủ để bảo tồn đa dạng sinh học, các chương trình bảo vệ rừng nói chung và rừng phòng hộ
đầu nguồn nói riêng chưa đáp ứng được yêu cầu của quản lý rừng bền vững, đồng bộ để phát
triển rừng cộng đồng.
Chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp. Do quá trình công nghiệp hoá và
đô thị hóa, diện tích đất nông nghiệp đã giảm xuống. Điều này đã gây tổn hại nghiêm trọng đến
đa dạng sinh học trong nông nghiệp.
Chuyển đổi sang các giống và loài mới. Điều này bộc lộ mối hiểm họa đối với các giống
và loài truyền thống đã thích nghi với điều kiện địa phương, mà có thể đem lại lợi ích dài hạn
hơn là lợi ích ngắn hạn. Phương thức canh tác hiện đại phụ thuộc nhiều vào thuốc bảo vệ thực vật
và phân hóa học làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc bảo tồn và sử dụng đa dạng sinh học. Ở
nhiều địa phương, phương thức này thế chỗ cho cánh đồng lúa truyền thống nơi mà cá, ếch, và
các loài khác đã từng được bổ sung làm thực phẩm ở địa phương. Rất ít các loài này có thể sống
sót khi thuốc bảo vệ thực vật và phân hóa học được sử dụng. Các vấn đề như sinh vật biến đổi
gen chưa được quản lý chặt chẽ và đã bộc lộ nguy cơ, đặc biệt nếu Việt Nam đang được sử dụng
làm nơi thử nghiệm sinh vật biến đổi gen.
Độc canh cây lúa. Hệ thống canh tác chủ yếu tại Việt Nam là nền nông nghiệp dựa vào
sản xuất lúa. Sản xuất lúa thâm canh đã làm suy giảm chất lượng đất, giảm lượng nước và tăng
khả năng chống chọi và kháng hóa chất bảo vệ thực vật của các loại côn trùng và bệnh dịch gây
hại.
Buôn bán động vật hoang dã. Hoạt động giao thương lương thực và thực phẩm, cây
thuốc, nguyên liệu chế biến hàng thủ công mỹ nghệ và sản xuất công nghiệp với các nước láng
giềng đang gia tăng và gây khó khăn cho công tác quản lý bền vững.
Định nghĩa đa dạng sinh học trong nông nghiệp còn hạn chế. Một bất cập chủ yếu
trong việc giải thích các vấn đề đa dạng sinh học nông nghiệp là tài liệu quốc gia có vẻ chỉ hạn
chế định nghĩa về tính đa dạng sinh học đối với cây trồng vật nuôi và các loài hoang dã có quan
hệ gần với chúng, chứ không định nghĩa về hệ sinh thái rộng lớn hơn mà trong đó những lòai đó
tồn tại. Quan điểm này loại trừ các loài hoang dã cung cấp dịch vụ cho nông nghiệp, chẳng hạn
như loài thụ phấn, thiên địch, sinh vật đất, và các loài khác tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp.
22
động tiêu cực tới năng suất cây trồng, gia tăng sử dụng lao động gia đình và chi phí trang trại
khác. Hơn nữa, họ cũng cho thấy đất đai bị chia cắt manh mún là một yếu tố chính dẫn tới việc
buộc phải đa dạng cây trồng.
Hưng et (2006 al) điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến giá trị ròng của sản xuất nông trại.
Bằng cách sử dụng phân tích hồi qui, nghiên cứu cho thấy giá trị ròng của sản xuất nông là
dương, nhưng không liên quan tuyến tính với quy mô của trang trại, và tỷ lệ đất canh tác có chất
lượng càng cao, chủ hộ có trình độ học vấn càng cao thì càng ảnh hưởng tích cực đến giá trị ròng
này. Nghiên cứu cũng đề xuất cần có các chính sách khuyến khích tích tụ đất đai đối với các thửa
đất nhỏ lẻ.
Tarp et (2007 al) sử dụng số liệu hộ gia đình từ Khảo sát tiếp cận nguồn tài nguyên ở hộ
gia đình của Việt Nam năm 2006 để đánh giá ảnh hưởng của đặc điểm cây trồng đối với sản xuất
nông nghiệp của Việt Nam. Họ thấy rằng các hạn chế đó là phổ biến và cản trở việc đa dạng hóa
23
cây trồng. Mặc dù họ không tìm thấy ảnh hưởng trực tiếp của việc hạn chế này đối với thu nhập
từ canh tác, nghiên cứu khám phá ra một hiệu quả gián tiếp đã phát huy tác dụng khi quay lại với
việc đăng ký quyền sử dụng đất.
Hiệu quả so với sự bình đẳng trong cơ cấu đất và quá trình phân hóa nông thôn.
Mất đất là một vấn đề đáng quan tâm tại Việt Nam vì mất đất hoặc gần như không có đất
thường đi đôi với đói nghèo (ADB et al 2004; Lan năm 2001; Ngân hàng Thế giới 2000). Sử
dụng phương pháp định tính, Oxfam (1999) và AusAid (2003) xác định 8 lý do dẫn đến mất đất
tại Việt Nam như không có khả năng hoàn trả các khoản vay, sản xuất mất mùa do thiên tai, và
vấn đề sức khỏe, vv
Sử dụng số liệu Khảo sát mức sống hộ của Việt Nam (VLSS), các cán bộ nghiên cứu
công tác tại Ngân hàng Thế giới và các nhà tài trợ quốc tế đã lập luận rằng không có tín hiệu rõ
ràng rằng cho thấy thị trường đất đai đã phát triển chin muồi để thúc đẩy quá trình tích tụ đất
mạnh mẽ, và việc phân chia đất hiện tại không thể tạo sự phân hóa nông thôn nghiêm trọng. Van
de Walle và Cratty (2003) cho rằng các hộ gia đình sản xuất phi nông nghiệp ở nông thôn có sác
xuất rất lớn không thuộc diện hộ nghèo.
Ravallion & van de Walle (2001) phân tích VLSS 1993 và đưa ra kết luận rằng quá trình
Thứ hai, quan hệ thuê mướn trong đó có phát canh thu tô đã quay trở lại với khu vực nông thôn.
Thứ ba, tình trạng không có đất ở khu vực nông thôn đang gia tăng. Bán đất và mất đất do thế
chấp, cùng với sự gia tăng kinh tế phi nông nghiệp ở các hộ gia đình tương đối giàu hơn có vẻ là
nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất đất. Thứ tư, đất đai bị chia cắt nhỏ lẻ manh mún đã gia tăng
đáng kể kể từ năm 1988 bất chấp sự xuất hiện của thị trường đất đai. Cuối cùng, việc tập trung
đất ở nông thôn Việt Nam là một xu hướng rõ rệt, cho thấy sự phân tầng đất ngày càng tăng. .
Akram-Lodhi (2005) lập luận rằng quá trình phân hóa tầng lớp nông dân đang diễn ra, với
sự nổi lên của tầng lớp nông dân giàu có sở hữu diện tích đất lớn, có tiềm lực về vốn và tài
nguyên, sử dụng lao động làm thuê. Đây là một đặc điểm điển hình trong cơ cấu phát triển của
chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, bằng chứng cho thấy ngày càng có nhiều người nông dân
mất đất, không có phương tiện sản xuất, họ buộc phải bán sức lao động để kiếm sống và trở thành
tầng lớp nghèo nhất của nông thôn Việt Nam . .
Hoạt động của thị trường đất đai trong mối liên kết với các thị trường khác
Hầu hết các nghiên cứu đều đề tập trung phân tích quá trình phát triển của thị trường quyền sử
dụng đất ở Việt Nam. Marsh và MacAulay (2002) cho thấy, mặc dù việc chuyển nhượng quyền
sử dụng đất đang phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam để đáp ứng nhu cầu của công cuộc cải cách,
nâng cao quyền sở hữu đất cho chủ đất, song thị trường này vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế. Họ
cho rằng vẫn tồn tại một số hạn chế chính thức đối với giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất, nhằm kiểm soát các trường hợp và đối tượng tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Humphries (1999), Kerkvliet (2000) và Ngân hàng Thế giới (2003) nhận thấy trên thực tế chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đã diễn ra, phần lớn là các giao dịch bất hợp pháp. Họ lý giải nguyên
nhân của các giao dịch bất hợp pháp do chi phí đăng ký giao dịch quyền sử dụng đất, mất nhiều
thời gian, thủ tục rườm rà, quy định không rõ ràng và những hành vi trục lợi của một số kẻ cơ
hội.
Mash et (2006 al) cũng nhận thấy thị trường quyền sử dụng đất đang hoạt động nhưng
mức độ hoạt động có sự khác biệt đáng kể giữa các tỉnh. Theo báo cáo, giao dịch cho thuê diễn ra
thường xuyên hơn ở các tỉnh miền Bắc và giao dịch mua bán phổ biến hơn ở các tỉnh phía Nam.
Đất đai được cho thuê vì nhiều lý do, trong đó có: thiếu vốn đầu tư để tăng năng suất, đất
đai bị chia cắt nhỏ lẻ manh mún, thiếu nguồn lao động, những biến động kinh tế ở cấp độ hộ gia
đình như: bệnh tật, đa dạng hóa thu nhập và tài sản ở các doanh nghiệp gia đình phi nông nghiệp