Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi ngành hàng nông sản: trường hợp ngành thức ăn chăn nuôi - MS4 " - Pdf 15


1

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Chương trình hợp tác vì sự phát triển Nông nghiệp Nông thôn

Dự án 030/06VIE
Phát triển chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh
nghiệp vừa và nhỏ trong chuỗi ngành hàng nông sản: trường hợp
ngành thức ăn chăn nuôi MS4:
A. Một số vấn đề trọng tâm được xác định thông qua việc tham vấn ý
kiến của các chuyên gia trong ngành
B. Bảng câu hỏi chi tiết được xây dựng cho việc thu thập thông tin từ
cá doanh nghiệp trong ngành thức ăn chăn nuôi

Tháng 5, 2008


nuôi Việt Nam - đặc biệt là thức ăn chăn nuôi của các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Nguyên nhân của chất lượng kém được cho là do khả năng quản lý chất
lượng kém của doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước (Cục chăn nuôi).
Chiến lược để tăng cường khả năng quản lý chất lượng là rất cần thiết (phòng
thí nghiệm, tiêu chuẩn, quy chuẩn, quy trình thử nghiệm, các chế tài).

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ hiện đang gặp một số khó khăn, và có một số
băn khoăn về tương lai của các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi tính tới sự thống
trị của các doanh nghiệp nước ngoài đang hoạt động trong ngành. Liệu có thể
có những chính sách giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vừa
và nhỏ? Các doanh nghiệp trong nước được đánh giá là yếu hơn doanh nghiệp
nước ngoài trên 3 phươ
ng diện: khả năng quản lý chất lượng và công nghệ,
chính sách hậu mãi và chiến lược đầu vào.
• Tỷ lệ đầu vào nhập khẩu cao làm tăng giá thành sản xuất thức ăn chăn nuôi.
Liệu đầu vào cho thức ăn chăn nuôi có nên đuợc nhập khẩu tự do? Ví dụ, các
đầu vào nhập khẩu hiện phải chịu 3 loại thuế khác nhau: thuế nhập khẩu, thuế
VAT, thuế thu nhập doanh nghi
ệp. Cần phải có hiểu biết cụ thể hơn về vấn đề
loại thuế nào đang đánh vào đầu vào hay đầu ra của sản xuất thức ăn chăn
nuôi.
• Liên quan tới vấn đề nhập khẩu nguyên liệu, liệu nên có chính sách về phát
triển nguyên liệu trong nước? Ví dụ, làm thế nào để các sản phẩm phụ nông –
công nghiệp được sử dụng hiệu quả hơn? Có ý ki
ến cho rằng nếu các sản
phẩm phụ có thể được sử dụng, sẽ có đủ thức ăn để nuôi thêm 4-5 triệu trâu
bò, và các vấn đề về môi trường và và lao động nông thôn sẽ được giải quyết.

3
• Cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước đều không hoạt động hết công suất


Rất nhiều ý kiến được các chuyên gia nêu ra cũng tương tự như các ý kiến được đưa
ra trong hội thảo khởi động. Các ý kiến bổ sung bao g
ồm:
• Chất lượng thức ăn chăn nuôi thấp gắn liền với việc các cơ sở sản xuất nhỏ -
và những tiêu cực từ chính quyền cũng như việc thiếu các chế tài xử phạt vi
phạm cũng là những nguyên nhân dẫn tới tình trạng này.
• Thế nào là thức ăn chăn nuôi chất lượng thấp?: hàm lượng protein thấp, thông
tin trên nhãn mác không chính xác, hàm lượng mycotoxins cao, sản phẩm
đượ
c bảo quản ở nơi dễ bị nhiễm bẩn.
• Các chuyên gia của Cục chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp cho rằng các xét nghiệm
từ các phòng thí nghiệm của Việt Nam không đủ chính xác, đặc biệt là các chỉ
tiêu về an toàn thực phẩm. Kết quả có sự khác nhau giữa các phòng thí
nghiệm. Có ý kiến cho rằng các công ty thức ăn chăn nuôi lớn có dùng các
hoóc môn kích thích tăng trưởng trong sản phẩm. Hàm lượng protein cũng
được cho là thấp hơn hàm lượ
ng đưa ra trên bao bì.
• Không có phòng thức ăn chăn nuôi, tại các sở Nông nghiệp (trong khi có riêng
chi cục bảo vệ thực vật). Điều này cũng góp phần dẫn tới việc thiếu các quy
định cụ thể cho ngành thức ăn chăn nuôi.

4
• Hơn 145 doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi chỉ sản xuất ít hơn 5000 tấn/ năm
(10% tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi toàn ngành). Mặt khác, chăn nuôi nhỏ
cũng chiếm tới 90% tổng sản phẩm chăn nuôi.
• Sản xuất thức ăn chăn nuôi không gắn liền với hoạt động chăn nuôi – có sự
quá tải các nhà máy thức ăn chăn nuôi ở một s
ố địa phương - vị trí đặt các nhà
máy thức ăn chăn nuôi, trang trại chăn nuôi và khu vực cung cấp nguyên liệu

công suất kho chứa hợp lý cho một nhà máy là khoảng 5,000 tấn/ năm).
o Các vấn đề chính ảnh hưởng tới sự khác nhau giữa khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp: công suất thực tế, ki
ểm soát chất lượng, tiếp cận với
nguồn nguyên liệu đầu vào, chuỗi marketing, công nghệ.
o Địa điểm kinh doanh/ đặt nhà máy là một vấn đề khác - gần cảng, cơ sở hạ
tầng thuận lợi, gần nguồn cung nguyên liệu đầu vào, gần khu vực chăn
nuôi – các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi hiện nằm ở đâu?

3. Các vấn đề được xác định thông qua thăm quan khảo sát các nhà máy
• Giá đầu vào tăng nhanh hiện đang là mối quan tâm hàng đầu lấn át tất cả các
mối quan tâm khác.

5
• Sự đa dạng trong hoạt động của các doanh nghiệp - sản xuất nhiều sản phẩm
thức ăn chăn nuôi khác nhau, kết hợp với hoạt động chăn nuôi (hoặc hợp đồng
nông sản), một số còn hoạt động như một đơn vị thương mại (buôn bán sản
phẩm thức ăn chăn nuôi)
• Sự đầu tư về công nghệ và nhân l
ực giữa các doanh nghiệp là khác nhau
• Thay đổi về cấu trúc quản lý của các doanh nghiệp lớn trong nước – ví dụ từ
doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp cổ phần.
• Tầm quan trọng của công suất chứa và hệ quả của nó tới chiến lược mua và
nhập khẩu của công ty. Liệu nhà nước có thể có đóng vai trò cung cấp kho dự
trữ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ?
• Sự khác nhau trong khả nă
ng quản lý chất lượng giữa các nhà máy - việc sử
dụng phòng thí nghiệm
• Quy mô của mỗi mẻ và hoạt động của nhà máy (công suất thiết kế (tấn/h, tấn/
ngày) – quy mô mẻ càng nhỏ thì chi phí năng lượng càng lớn), quy trình sửa

ức ăn chăn nuôi nhỏ thực ra không phải là nhà máy sản
xuất thức ăn chăn nuôi, mà chỉ là những cơ sở pha trộn (thức ăn đậm đặc).
• Có ý kiến nhận định của các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi nước ngoài cho
rằng người chăn nuôi Việt Nam thiếu kiến thức về dinh dưỡng cho vật nuôi.

4. Các vấn đề được xác định qua thăm quan các trang trại chăn nuôi

6
• Sử dụng không định kỳ thuốc kháng sinh và các chất kích thích trong chăn
nuôi
• Ô nhiễm mùi/ nguồn nước và tiếng ồn nếu việc sản xuất được đặt ngay cạnh
khu dân cư và nguồn cung ứng nước.
• Người chăn nuôi cho rằng giá thức ăn chăn nuôi hiện quá cao
• Các ý kiến cho rằng chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi là lý do lớn nhất
cho việc l
ựa chọn một sản phẩm, tiếp theo là giá của sản phẩm. Người chăn
nuôi đánh giá chất lượng của sản phẩm chăn nuôi thông qua hiệu quả chăn
nuôi và danh tiếng của công ty sản xuất.
• Các hộ chăn nuôi nhỏ thường sử dụng thức ăn hỗn hợp như một dạng thức ăn
đậm đặc để pha trộn vào các sản phẩm nông nghiệp sẵn có t
ại hộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status