Báo cáo nghiên cứu nông nghiệp " Phát triển và áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất và thu nhập các hộ nông dân chăn nuôi dê tại các tỉnh miền Trung Việt Nam " - Pdf 15


Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Báo cáo tiến độ dự án
Phát triển và áp dụng công nghệ mới nhằm nâng cao năng suất và thu nhập
các hộ nông dân chăn nuôi dê tại các tỉnh miền Trung Việt Nam (009/VIE05) Tiêu đề
Dự án phát triển chăn nuôi dê Việt Nam - Úc (2006-2009)
BÁO CÁO 6 THÁNG LẦN THỨ 5
(tháng 1-6/2008) Ngày 17/7/2008 B.W. Norton (UQ), Đinh Văn Bình (GRRC) và Nguyễn Thị Mùi (NIAH)

6.2 Gender and Social Issues __________________________________________ 16
7. Implementation & Sustainability Issues ___________________________________ 16
7.1 Issues and Constraints ____________________________________________ 16
7.2 Options _________________________________________________________ 17
7.3 Sustainability ____________________________________________________ 17
8. Next Critical Steps ____________________________________________________ 17
9. Conclusion __________________________________________________________ 17
10. Statuatory Declarations ________________________________________________ 19
(a) University of Queensland 19
(b) Goat and Rabbit Research Centre 23
Appendices
Appendix 1. Itinerary for March (2008) Visit by Dr Norton 25
Appendix 2. Plan of Australian Study Tour for Vietnamese scientists (May 2008) 26
Appendix 3. Itinerary for June (2008) Visit by Dr Norton 29
Appendix 4. Agenda and Minutes of Third Advisory Board Meeting (Australia) 30

CD Appendices
CD Appendix 1. List of farmers interviewed in June Survey 2008
CD Appendix 2. Survey form with English and Vietnamese translation
CD Appendix 3. Workshop Training Manual – Goat Diseases (Vietnamese)
CD Appendix 4. Workshop Training Manual – Goat care and housing (Vietnamese)
CD Appendix 5. Workshop Training Manual – Pastures and Goat Nutrition (Vietnamese)
CD Appendix 6. Workshop Training Manual – Breeds and Management (Vietnamese)
CD Appendix 7. Review and Recommendations for Action on Participating Farms
CD Appendix 8. Report of Tour of Australia by Vietnamese Scientists (Norton May 2008)
CD Appendix 9. Study tour of Australia report by Vietnamese (May 2008)
CD Appendix 10. Detailed report of workshop activities (English)
CD Appendix 11. Review of outcomes of workshops (June 4-11 2008)
CD Appendix 12. Fifth Six-Monthly Progress Report (January-June 2008). Project Milestone 8
1. Thông tin chung về đơn vị tham gia dự án

31/3/2009
Thời gian báo cáo
1/1-30/6/2008

Văn phòng liên hệ
Tại Úc: Trưởng nhóm
Liên lạc: Barry W. Norton Điện thoại: 61733651102
61732890260 (AH)
Vị trí: Cố vấn trưởng Fax: 61732890103
Tổ chức : Đại học Queensland Email:

Tại Úc: Liên lạc hành chính
Tên: Ms Katie Cameron Điện thoại: 61733658268
Chức vụ: Nhân viên hành chính nghiên cứu Fax: 61733654455
Tổ chức: Đại học Queensland Email: Tại Việt Nam
Tên người liên lạc: T.S Dinh Van Binh Điện thoại: 8434838341
Chức vụ: Giám đốc Fax: 8434838889
Tổ chức: Trung tâm nghiên cứu dê và thỏ Sơn Tây Email:

2. Tóm tắt dự án
Việc phát triển hệ thống chăn nuôi dê tại Việt Nam đã được Chính Phủ Việt Nam khuyến khích
mạnh mẽ thông qua việc thành lập và hỗ trợ Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây, phía bắc
Việt Nam. Việc thành lập ban đầu được phát triển tại Trung tâm thông qua những chương trình
phát triển và nghiên cứu trong và ngoài nước đã được thực hiện thành công tại các nông trại địa
phương phía Bắc, và chính quyền trung ương cũng như địa phương đều mong muốn thúc đẩy
những chương trình tương tự tại miền Trung và miền Nam Việt Nam. Mặc dù, có rất nhiều công
nghệ nhưng kinh nghiệm và chi phí tài trợ áp dụng cho các hộ nông dân nhỏ vẫn còn hạn chế.

chức cho nông dân ngoài khuôn khổ dự án. Chuyến thăm quan tại Úc trong tháng 5/2008 bao gồm
thăm quan hệ thống chăn nuôi dê và cừu tại miền Nam Queensland và họp Ban Tư vấn để xem xét
lại những hoạt động đã thực hiện và sẽ thực hiện trong thời gian tới. Trong thời gian này, đã khảo
sát 19 nông dân tham gia còn lại và đánh giá phương tiện và các loại vắcxin đã được thực hiện
trên đàn dê của họ. 39 nông dân khác không tham gia vào dự án cũng được phỏng vấn về những
thông tin cơ bản hệ thống chăn nuôi dê ở Việt Nam. Dữ liệu thu thập được dịch sang tiếng Anh để
phân tích và dịch trong vòng 3 tháng tới và kết quả sẽ được phát hành thành sách trình bầy tại Hội
nghị dê Quốc gia tổ chức tại Phan Rang và Ninh Thuận trong tháng 11/2008. Việc phát hành sẽ
bao gồm thông tin về cả những thay đổi chất lượng và số lượng trong sản xuất dê phản ánh qua kết
quả hoạt động của dự án.

4. Giới thiệu và Bối cảnh
Sản xuất dê ở Việt Nam đã mở rộng nhanh chóng tại Miền Bắc cùng với việc giới thiệu những
kiến thức mới để kiểm soát dịch bệnh, quản lý nguồn thức ăn, giới thiệu và lựa chọn giống dê địa
phương (Bach Thảo) và giống nhập ngoại (Boer, Saanen, Jumnapari,…) cho hệ thống làng xã.
Việc khởi đầu được thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Dê Thỏ Sơn Tây (GRRC), tại đây việc
mở rộng ngành chế biến sữa và thịt dê ngày một phát triển. Trong khi thịt dê không phải mặt hàng
phổ biến tại thị trường Việt Nam, nhưng những kết quả kinh tế mang lại từ việc chăn nuôi dê là
cao và thu hút nhiều nông dân nuôi dê trong mô hình trang trại của mình. Dê là vật nuôi khá quan
trọng cho nông dân nghèo bởi lẽ nó cung cấp nhiều lợi ích tốt mà đầu tư lại ít. Đề xuất dự án này
đã được phát triển và tài trợ bởi AusAID dưới dự án CARD đặc biệt hướng tới việc cung cấp cho
nông dân nghèo ở các tỉnh trung tâm của Việt Nam (Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng) những
công nghệ mới phát triển bởi GRRC ở miền Bắc. Mục tiêu này được phản ảnh trong dự án “Phát
triển và thực hiện công nghệ thích hợp mới trong việc cải thiện sản phẩm dê và tăng thu nhập cho
người chăn nuôi nhỏ tại khu vực miền Trung Việt Nam”. Đây là chương trình bao gồm khảo sát
nông trại, kế hoạch chiến lược để nâng cao sức khoẻ và dinh dưỡng của dê, cũng như đào tạo
những nông dân nòng cốt và cán bộ Sở Nông nghiệp những công nghệ mới. Việc mở rộng những
hoạt động tới cộng đồng lớn hơn sẽ đạt được bởi việc tực hiện những hội thảo/chuyến đi thực tế
chô nông dân địa phương sử dụng những nông trại minh hoạ. Báo cáo này mô tả những kết quả
của chuyến thăm thứ nhất tới Việt Nam, trong thời gian này chiến lược thực hiện và quản lý dự án

nhóm hệ thống trang trại (vùng đất thấp mưa nhiều, đất cao mưa ít và cùng núi cao mưa nhiều) đã
được lựa chọn. Kế hoạch sẽ phát triển 27 trang trại (15 ở Ninh Thuận, 9 ở Ninh Bình và 3 ở Lâm
Đồng) qua đợt khảo sát thứ nhất từng hộ và cung cấp những công nghệ mới (chăm sóc sức khoẻ,
chuồng trại, dinh dưỡng và dê đực giống. Những nông dân tham gia sẽ được đào tạo ngắn hạn tại
GRRC và sau đó tại trang trại bởi các cán bộ Sở Nông nghiệp về cách thức thực hiện những kỹ
năng quản lý này. Tại mỗi tỉnh, hai trang trại sẽ được lựa chọn chỉ thành một trang trại minh hoạ
để nhằm đào tạo những nông dân khác về kỹ thuật và mô hình cải tiến hệ thống chăn nuôi dê.
Những nông dân được lựa chọn sẽ có kinh nghiệm về sản xuất dê, có từ 50-100 con và đất thích
hợp để trồng thức ăn theo yêu cầu. Cách tiếp cận này giới thiệu những công nghệ mới được ưa
chuộng hơn cách tiếp cận phân khúc mà tại đó chỉ những khó khăn xác định (như kiểm soát dịch
bệnh) được thực hiện. Cách tiếp cận này được áp dụng thành công tại miền Bắc Việt Nam và với
mong muốn cung cấp sự cải tiến nhanh chóng trong sản xuất với những hệ thống tương tự ở miền
Trung Việt Nam. Một sự khởi đầu quan trọng cho dự án cần nhắc đến là sự hỗ trợ cho nhà máy
chế biến thịt thí điểm tại trung tâm nghiên cứu dê mới sẽ được xây dựng tại Ninh Hải, Ninh Thuận

Cán bộ và những khoảng cách về trình độ sẽ được đề cập trong một chương trình đào tạo tổng thể,
trước tiên, bằng cách đào tạo cán bộ của Sở Nông nghiệp tại GRRC và kết hợp họ với những
chuyên gia tại GRRC, và tiếp đó sử dụng những cán bộ Sở Nông nghiệp đã đào tạo để đào tạo
những cán bộ huyện, những thành viên tham gia và các xã địa phương thông qua việc phổ biến
thông tin bằng sách báo, hội thảo và minh hoạ. Cách tiếp cận này sẽ xây dựng khả năng ở cộng tác
viên Úc, nhân viên GRRC và nông dân để làm việc như một nhóm quốc tế, và nuôi dưỡng một
cách tiếp cận chính thể luận hơn nhằm nâng cao sản phẩm gia súc và nông sản ở những làng quê
nghèo tại miền Trung Việt Nam. Sự đóng góp của công tác viên Úc sẽ nhiều hơn thông qua hoạt
động tham dự của tiến sĩ Norton trong tất cả các vấn đề liên quan đến phát triển và giới thiệu công
nghệ mới, và sẽ được bổ sung bởi chuyến thăm Úc của 5 chuyên viên cao cấp Việt Nam mà tại
đây họ sẽ được tham quan những nông trạ sản xuất dê và những nhà máy chế biến sữa và thịt cũng
như kiểm tra những hệ thống bảo tồn cỏ khô.

Những chương trình đào tạo sẽ chuẩnbị những tài liệu để phân phối cho những thành viên tham
gia và những nông dân khác về những công nghệ thích hợp cho mỗi hệ thống trang trại. Hiện nay

sẽ cụ thể đối với mỗi nông trại (cải tiến nguồn cung thức ăn và cỏ). Có thể nhận ra rằng kiến thức
địa phương về nguồn thức ăn và thuốc chữa phải được đánh giá và kết hợp bất kỳ nơi nào có thể.

5. Tiến triển đến thời điểm hiện tại
Tiến trình được thực hiện trong giai đoạn tháng 1 đến tháng 6/2008 sẽ được báo cáo trong mục
“Những tiêu điểm thực hiện” (5.1) dựa vào khung Dự án cung cấp những phương tiện kiểm tra
được liệt kê để minh chứng cho việc phân phối những dịch vụ đã được lên kế hoạch. Đầu ra điểm
mốc 8 thích hợp với bản báo cáo này được trình bầy trong bảng các điểm mốc, phụ lục 1 của kế
hoạch 2. Phạm vi của Dịch vụ dự án Card 009/05 VIE được liệt kê như phần tham khảo khung
(đầu ra) 2.4.6 với Mô tả điểm mốc như bản báo cáo định kỳ 6 tháng lần thứ năm. Phân phối và
chấp nhận bản báo cáo hoàn thiện này dự kiến sẽ hoàn trả một khoản 33.221 USD cho Đại học
Queensland trong giai đoạn này.

Bằng chứng hoàn thành những hoạt động này được thể hiện trong phần thân báo cáo và hỗ trợ bởi
những tài liệu đính kèm các các file lớn được thể hiện trong đĩa CD. Trong giai đoạn này, hai
chuyến thăm tới Việt Nam của Tiến sĩ Norton đã được thực hiện (8-18/03, 31/05-19/06) và một
chuyến thăm Úc của những nhà quản trị dự án và những nhà khoa học Việt Nam (3-13/5/2008). ).
Chuyến thăm tháng 3 đến HCM để kiểm tra những lò giết mổ dê đang hoạt động và điều tra kết
quả các trang thiết bị phù hợp cho lò giết mổ thí điểm tại Trung tâm nghiên cứu Dê và Cừu Ninh
Hải (SGRC) mà sắp tới cũng triển khai tại Ninh Thuận. Chuyến thăm tháng 6 vừa qua được tổ
chức để Tiến sĩ Norton có thể tham gia vào cuộc khảo sát cuối cùng về những nông trại được đào
tạo và tham gia vào các buổi hội thảo tổ chức cho nông dân ngoài khuôn khổ dự án. Chuyến thăm
tháng 5 tại Úc gồm chuyến thăm các hệ thống chăn nuôi dê và cừu tại miền Nam Queenland và
cuộc họp Ban Tư vấn để xem xét lại những hoạt động đã thực hiện và sẽ thực hiện trong thời gian
tới. (xem phụ lục 4)

5.1 Tiêu điểm thực hiện

Mục tiêu 1. Xác định và mô tả những nông trại mục tiêu
Đầu ra 1.1. Thu thập thông tin chung về hệ thống chăn nuôi dê hiện hành

các hoạt động này. Đã chuẩn bị bốn quyển sách hướng dẫn, bao gồm thông tin chung về Dịch bệnh
của dê, Hệ thống chuồng tại và cách chăm sóc dê, Chế độ dinh dưõng, cỏ khô cho dê và Phương
pháp quản lý giống và phối giống ở dê (xem báo cáo tiếp theo trong mục đầu ra 2.5 và 2.7 của bản
báo cáo này). Các bản sao điện tử các khoá đào tạo này được trình bầy trong CD phụ lục 3,4,5 và
6.

Đầu ra 2.3 Đào tạo nông dân tham gia ứng dụng công nghệ mới. Các hoạt động 2.3.1 và 2.3.2
đã và dang tiếp tục tại các nông trại tham dự. CD phụ lục 7 thể hiện những xem xét và gợi ý cho
hoạt động tại mỗi nông trại theo cuộc điều tra tháng 6/2008 của Tiến sĩ Norton và chuyên gia
GRRC. Cùng thời gian này, tất cả dê được cân, đánh giá sức khoẻ, kiểm tra về vác xin và lưu trữ
thức ăn. Cuộc khảo sát cuối cùng được thực hiện cũng trong thời điểm này và dữ liệu sẽ được sử
dụng để đánh giá sự thành công của dự án. Chỉ 19 nông trại ban đầu tiếp tục tham gia dự án và
một vài nông trại đã có những thành công nổi bật.

Đầu ra 2.4. Trình bầy báo định kỳ sáu tháng và xem xét lại tiến trình dự án
Hoạt động 2.4.1 và 2.4.5 đã hàon thành trong giai đoạn trước. Bản báo cáo định kỳ sáu thàng lần
thứ năm hiện nay được trình bầy với kết quả hàon thành hoạt động 2.4.6. Trong bản báo cáo là tiến
trình thực hiện những công nghệ đề xuất ban đầu và tình trạng giải ngân từ UQ và GRRC cho giai
đoạn từ tháng 01/01 đến tháng 30/06/2008. Những phụ lục của các file lớn được ghi vào đĩa CD.
Nội dung cuộc họp Ban lãnh đạo hàng năm lần thứ ba (tại Úc) cũng được đề cập trong báo cáo
này.

Đầu ra 2.5 Những chuyến đi thực tế về việc nâng cao năng suất dê tại các nông trại được lựa
chọn tại mỗi tỉnh trong năm thứ 2của dự án. Hoạt động này được kết hợp với hội thảo và tiếp
tục diến ra trong năm thứ 3 của dự án với nhiều hội thảo đã được tổ chức. Những nông trại được
sử dụng là: Lam Dong- Anh Lung (nông trại 25, Đưc Trong). Ninh Thuận – Anh Hoa (nông trại
22, Thuận Bắc), Anh Hùng (nông trại 23, Thuận Bắc), Anh Đức (nông trại 17, Ninh Hải, Anh
Thanh (nông trại 16, Ninh Hải), Anh Long (nông trại 12, Ninh Phước) và Bình Thuận – Anh Lang
(nông trại 3, Bắc Bình), Anh Man (nông trại 2, Bắc Bình)


Hoạt động 2.8.1 (Tổ chức hội thảo để tập hợp các nhà khoa học và nhà sản xuất quốc gia, khu vực,
cơ hội thể hiện kết quả của dự án). Hoạt động này đã được bắt đầu với hội nghị dứ kiến tổ chức
vào thứ tư ngày 19 đến 20 tháng 11 năm 2008 ở Phan Rang với ngày đầu sẽ trình bầy các đánh giá
và tài liệu dự án còn ngày thứ hai sẽ thăm các nông trại dự án để xem xét kết quả của dự án. Vào
ngày trước đó, họp mặt Ban tư vấn sẽ được tổ chức vào buổi sáng và Diễn đàn nông dân sẽ được
thực hiện vào buổi chiều. Kế hoạch chi tiết cho hoạt động đã giao cho cán bộ Việt Nam tổ chức

Mục tiêu 3. Cung cấp căhm sóc sức khoẻ và chuồng trại cho dê
Đầu ra 3.1 Chuồng trại nâng cấp cho dê tại mỗi nông trại được lựa chọn đã hàon thành với tất
cả nông trại đều được xây dựng tốt, vệ sinh.

Đầu ra 3.2 Kiểm soát tất cả dịch bệnh để nâng cao sức khỏe cho dê tại tất cả các nông trại
Hoạt động 3.2.1 và 3.2.2 là những hoạt động đang diễn ra của dự án với việc xem xét liên tục hiệu
quả khi áp dụng chuồng trại và quản lý mới (xem CD phụ lục 7). Một số nhận xét như sau:
Tiến trình kiểm soát dịch bệnh. Bản báo cáo trước đã đề cập đến hiệu quả của vác xin đậu mùa
cần phải thử nghiệm hàng đầu, có nghĩa là khả năng miễn dịch sẽ có thể kèo dài hơn 6 tháng như
hướng dẫn và vì vậy lịch tiêm vác xin có thể phải kéo dài hơn (khoảng 1 năm). Kết hợp với bản đề
xuất này là một nhu cầu cấp thiết để xem xét những phương pháp phòng ngừa để kiểm soát đậu
mùa ở dê, và trong những phương pháp đó, hạn chế di chuyển dê ở mỗi tỉnh có liên quan đến tình
trạng vác xin. Đây là một vấn đề Nhà nước của tỉnh cũng như vấn đề đào tạo cho tất cả người nuôi
dê để thấy rằng phải đảm bảo những con dê mới được giới thiệu cần được khoanh vùng và tiêm
vác xin trước khi nhập đàn. Nội dung này không dễ hiểu đối với cán bộ Sở nông nghiệp và người
chăn nuôi tham gia dự án. Những kinh nghiệm được đưa ra để xác định thời gian miễn dịch được
duy trì bao lâu bởi nhà cung cấp, Công ty Trung ương Vác xin dịch tễ (CCVV). Một số kết quả sơ
bộ không phải kết quả kết luận đạt được từ việc thử nghiệm do phần lớn bởi thiết kế có kinh
nghiệm được thực hiện những không đủ vững chắc để giải đáp những câu hỏi đặt ra ban đầu. Hy
vọng những kết quả đó sẽ đạt được từ việc nghiên cứu trước khi dự án kết thúc.
Một vấn đề liên quan là tỷ lệ miệng Scabby khá cao xuất hiện bề mặt của bệnh đậu dê nhưng tự
khỏi ở hầu hết dê con. Trong khi một phương pháp cứu chữa đơn giản sẵn có (vác xin cho dê nhỏ
với dung dịch từ mụn), thì nhiều nông dân lại sử dụng kem và mỡ bôi để chữa trị. Phổ biến giữa

này được coi là một giải pháp thực tế giải quyết vấn đề cỏ khô trong mùa mưa.
Thức ăn ủ chuẩn bị lưu trữ tại nông trại của anh Lang Thức án ủ được chuẩn bị không phải bao giò cũng có chất lượng cao Phát triển công nghệ này tốn nhiều thời gian hơn mong đợi, do một số hạn chế từ nhân viên thiếu
kiến thức về thức ăn ủ và cho rằng dê không ăn thức ăn ủ. Tuy nhiên, trong sáu tháng gần đây, một
số thức ăn ủ đã được chuẩn bị tại một số nông trại minh hoạ và kỹ thuật được minh hoạ tại các
cuộc hội thảo. Trong khi có thể thấy thức ăn ủ có thể chuẩn bị từ cỏ ở khu vực này, và dê sẵn sàng
sử dụng chúng, chưa có một đánh giá nào về chất lượng thức ăn ủ này. Trong những báo cáo trước
cũng đã dự kiến sẽ cải tiến cỏ cho thức ăn ủ nhưng điều này không được tuân theo. Nhiều công
việc cần hoàn thành để cải thiện khả năng lưu trữ và chất lượng của thức ăn ủ chuaẩnbị cho dê.

Đầu ra 4.3. Giới thiệu quy trình kỹ thuật trồng cỏ và tìm kiếm những hệ thống cho thức ăn
thích hợp cho dê trong các điều kiện khác nhau
Hoạt động 4.3.1 và 4.3.2 sẽ được thực hiện trong thời gian tới (tháng 6- tháng 12 năm 2008) và
được báo cáo tại kết quả trình bầy trong hội nghị quốc gia và Đào tạo thủ công cho người chăn
nuôi dê đã đề xuất trong hạot động 2.4.7

Mục tiêu 5. Cung cấp dê đực địa phương và dê đực bách thảo phẩm chất di truyền đã được
chứng minh để phối giống
Đầu ra 5.1 Cung cấp dê đực Bách thảo cho tất cả các nông trại
Theo kế hoạch, dê đực tại tất cả các nông trại đã được thay thế trong tháng 6 và tháng 7/2007 bởi
dê đực trẻ hơn (gồm dê đực Boer và Saanen) từ những công trại khác ở Miền Nam và GRRC. Tất
cả dê đực đến nay đều tốt như mong đợi

Đầu ra 5.2 Sinh sản thành công với việc sử dụng dê Bách thảo đã được chứng minh
hoạt động 5.2.1 và 5.2.2 đang được thực hiện và được báo cáo trong phần tiêu đề đánh giá lại

thiết bị cho nhà máy chế biến đã bị đình trệ tại Trung tâm nghiên cứu dê và cừu Ninh Hải Ninh
thuận. Với tình trạng này, việc hoàn thành lắp đặt các thiết bị vào cuối năm 2008 cũng khó có thể
thực hiện. Tuy nhiên TS Bình đã có đề xuất giải quyết đang được Ban dự án CARD xem xét. Đề
xuất này bao gồm việc mua và lắp đặt những thiết bị theo kế hoạch tại Trung tâm dê và cừu
thương mại mới xây dựng và hoạt động tại Sở Nông nghiệp, Xuân Hải, Ninh Thuận. Thoả thuận
này vẫn đang tiến hành với Trung tâm này. Thật thú vị khi việc điều tra đã phát hiện ra một máy
vặt lông cừu do địa phương làm phù hợp với dê. Việc thăm quan những thiết bị chế biến tại Úc đã
cung cấp những thông tin chủ chột cho việc lựa chọn những thiết bị cần thiết cho nhà máy chế
biến này.

Bố trị tạm thời cho thiết bị trong nhà máy chế biến

5.2 Lợi ích của hộ dân chăn nuôi

Có thể thấy rõ hộ nông dân chăn nuôi dê ở khu vực mien Trung Việt Nam đã hưởng nhiều lợi ích
từ dự án này. Cụ thể là họ đã nhận được vác xin, thuốc thú y nhằm giảm tỷ lệ tử vong gia súc.
Điều này đã đem lại phát triển tốt cho vật nuôi, tăng sản lượng bán và lai giống. Nông dân duy trì
đàn dê trong vòng sáu tháng qua đã có lợi thế tăng giá dê từ tháng 5-6 năm 2008 do nhiều hộ đã
bán sớm dê trong thời gian trước đó vì lo ngại dịch đậu dê sẽ bùng nổ trong khu vực. trong năm
qua toàn bộ số dân thuộc dự án đã có đàn dê tăng gấp đôi và không bị mắc bệnh, họ vẫn tiếp tục
nuôi dê để thu lợi. Một số nông dân hiểu rằng họ vẫn phải tiếp tục mua thuốc để đảm bảo sức khoẻ
đàn dê. Dự kiến việc kiểm tra sức khoẻ dê sẽ được tiến hành vào tháng 12, 6 tháng sau khi dự án
thôi không hỗ trợ.

5.3 Nâng cao năng lực
Mục tiêu chính của dự án trong năm đầu tiên là dào tạo cán bộ Sở Nông nghiệp Tỉnh Bình Thuận
Ninh Thuận, và Lâm Đồng về phương pháp quản lý và chăn nuôi de, trong năm thứ hai, dự án tiến
hành đào tạo nông dân áp dụng công gnhệ mới. Theo cách này, cán bộ Sở Nông nghiệp cũng được
sử dụng để đào tạo nâng cao năng lực của ngành chăn nuôi nhằm cải thiện năng suất và sức khoẻ
đàn dê tại các tỉnh này. Việc tạo ra các nong trại thí điểm trong quá trình đào tạo cung cấp những

chút sau khi dự án kết thúc vào tháng 12 năm 2008, nghĩa là chi tiêu thêm cho việc hoàn thành báo
cáo.

6. Báo cáo những vấn đề liên quan

6.1 Môi trường

Các hoạt động dự án được thực hiện qua một giải nhiều môi trường, từ những vùng biển đất thấp
ẩm nơi mà lũ lụt và bệnh tật phổ biến đến những vùng cao nguyên với mùa vụ ngắn và thiếu tưới
tiêu. Mỗi nông trại cũng có những vấn đề riêng như loại đất, kích thước, độ mặn,… và bất kỳ vấn
đề nào của môi trường đều liên quan đến vấn đề cơ bản của nông trại. Ảnh hưởng lớn nhất từ “môi
trường” là bùng nổ bệnh đậu dê tại những vùng dự án, nhưng như đã đề cập ở trên, ảnh hưởng tiêu
cực này đã được chứng minh là tích cực đem lại lợi ích cho dự án.Có thể thấy rằng tại Ninh Hải và
Thuận Bắc, một số nông dân nhỏ với hạn chế về đất đã tưới quá nhiều và làm đất nhiễm mặn trên
bề mặt. Điều này đã trở thành vấn đề chính ở một nông trại (Anh Thanh) và có thể xử lý bằng tưới
tiêu một cách thích hợp (tức là áp dụng tưới nhiều và ít thường xuyên hơn) Cỏ voi phát triển tốt với đất nhiễm mặn tại nông trại của anh Thanh

6.2 Những vấn đề xã hội và giới
Cho đến nay không có những vấn đề về xã hội hay về giới ảnh hưởng đến thực hiện dự án như kế
hoạch. Đã có thêm ba nông dân rút khỏi dự án do áp lực xã hội và áp lực khác và còn 20 trong số
27 nông trại ban đầu vẫn tham gia hạot động. Phụ nữ là một phần quan trọng trong hoạt động của
dự án cả trogn vai trò tư vấn cũng như ở các nông trại. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các hội thảo
gần đây có khoảng 50% được mời là phụ nữ và số tham gia chiếm nhỏ hơn 20% tổng số người
tham dự. Nguyên nhân của sự chênh lệch này cần giải pháp để phụ nữ nhận ra và tham dự tưwng
đồng với nam giới trong các hoạt động của dự án.

7. Những vấn đề thực hiện và tính bền vững

Với việc hoàn thành tất cả các hội thảo, khảo sát và đánh giá năng suất đề ra, bước tiếp theo của
dự án sẽ dịch dữ liệu thu thập sang tiếng Anh và bắt đầu phân tích và biên dịch dữ liệu. Kết quả
phân tích sẽ được báo cáo trong quyển sách “Nâng cao quản lý dê ở Miền trung Việt Nam” hoặc
một vài tên tương tự. Quyển sách này sẽ cung cấp kiến thức cưo bản về hệ thống chăn nuôi dê ở
Việt Nam và mô tả những công nghệ và kỹ thuật sử dụng trong hội thảo. Ảnh hưởng của dự án đến
năng suất và lợi ích dê ở Miền trung Việt Nam sẽ được trình bầy trong hộ nghị tổ chức tại Phan
Rang vào tháng 11/2008 và dự kiến những giám đốc Sở Nông nghiệp mỗi tỉnh sẽ đưa ra cái nhìn
hiện tại và trong tương lai của tỉnh về ảnh hưởng của dự án đối với sản xuất dê. Hai điểm mốc
khác sẽ được thực hiện, điểm mốc 7 (nhà máy chế biến thịt dê) và điểm mốc 10 (Đánh giá khả
năng cạnh tranh của cán bộ GRRC và Sở nông nghiệp trong đào tạo sản xuất dê).

9. Kết luận
Trong giai đoạn này, đã đạt được một số thành tựu lớn lao của dự án với việc hoàn thành những
đánh giá kế hoạch cũng như việc thực hiện tất cả các chiến lược đã đề ra. Ngoài ra, 39 nông trại
ngaòi dự án đã được khảo sát đê so sánh với những nông trại thực hiện công của nghệ dự án thành
công. Dữ liệu này khi phân tích sẽ cung cấp một cái nhìn tổng thể về hạn chế sản xuất dê ở Miền
trung Việt Nam và những cách thức để kắhc phục những hạn chế này. Năm hội thảo được thực
hiện trong tháng 6 gồm hơn 150 nông dân từ 3 tỉnh. Sách đào tạo đã được cung cấp cho mỗi nông
dân và tạo ra những yếu tố cơ bản cho những hội thảo tiếp theo thực hiện bởi Sở Nông nghiệp.
Tổng thể kết quả dự án được xem là thành công với nhiều nông dân hiện nay có thể chăn nuôi dê
có lợi nhuận ở các vùng này, nơi mà dê chết non và đậu mùa đã hạn chế gay gắt tiềm năng sản
xuất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status