Ministry of Agriculture & Rural Development Đánh Giá Dự Án
Dự án số: 029/05/VIE Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại trên cây điều
ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là nhân tố chính Renkang Peng, Keith Christian và Lã Phạm Lân
Tháng 4 năm 2009
1
1 Thông tin cơ quan tham gia
Tên dự án
Triển khai chương trình quản lý tổng hợp dịch hại
trên cây điều ở Việt Nam với ứng dụng kiến vàng là
Email:
[email protected]
Úc: Quản lý
Họ và tên
Jenny Carter
Điện thoại:
61 08 89466708
Chứ́c vụ
Trưởng Phòng, Phòng Quản lý
Nghiên cứu
Fax:
61 8 89467199
Cơ quan
Đại học Charles Darwin
Email:
[email protected]
Việt Nam
Họ và tên
Lã Phạm Lân
Điện thoại:
84 0913829560
Chứ́c vụ
TP, Phòng Nghiên cứu Bảo vệ
Thực vật
Fax:
84 8 8297650
Cơ quan
Viện Khoa học Kỹ thuật Nông
thiện có ý nghĩa. Kỹ thuật canh tác được chú trọng đến 7 hoạt động chính: làm cỏ, che phủ
đất, tưới nước, xén tỉa, bón phân, sử dụng thuốc trừ sâu, và thuốc trừ cỏ. So sánh với tỷ lệ
nông dân thực hiện những kỹ thuật canh tác này trước khi được tập huấn, có 35%, 49%,
28%, 31%, và hơn 18% nông dân đã cải tiến việc làm cỏ, che phủ đất, tưới nước, xén tỉa,
bón phân, sử dụng thuốc trừ sâu, và thuốc trừ cỏ, theo thứ tự, sau khi tham dự lớp tập huấn
FFS. So sánh với tỷ lệ nông dân sử dụng thuốc trừ sâu trước khi được tập huấn, có ít hơn
24% nông dân sử dụng thuốc trừ sâu sau khi được tham dự lớp FFS. Ngoài ra, có trên 92%
nông dân đã có đủ kiến thức về nguyên tắc và phương thức thực hiện những hoạt động
canh tác nêu trên. Tỷ lệ nông dân có sử dụng thuốc trừ cỏ tương đương nhau giữa điều tra
trước và sau khi được tập huấn, và lý do có thể có đã được thảo luận.
Sức khỏe của nông dân và môi trường nông nghiệp sẽ được cải thiện đáng kể. Trong điều
tra cơ bản, 80% nông dân đã bị ảnh hưởng với nhiều triệu chứng của ngộ độc thuốc trừ
sâu, và 92% nông dân nhận định rằng việc phun thuốc trừ sâu đã gây nên ảnh hưởng xấu
đến môi trường canh tác. Sau khi được tập huấn, 95% nông dân tin tưởng rằng sức khỏe
của họ sẽ được cải thiện rất nhiều khi sử dụng kiến vàng là thành phần chính để quản lý
vườn điều. Tương tự, 89% nông dân tin tưởng rằng sẽ có một sự cải thiện môi trường canh
tác khi sử dụng kiến vàng.
Kiến thức của người nông dân về sâu hại, bệnh hại, và thiên địch được cải thiện đáng kể.
Trong điều tra cơ bản trước dự án, người nông dân chỉ nhận biết được trung bình chưa đến
1 loài sâu hại, và 37% nông dân đã không thể phân biệt được các loài sâu hại. Sau khi được
tập huấn, người nông dân có thể nhận biết được trung bình 3,3 loài. Có trên 85% nông dân
nhận biết được bọ xít muỗi, sâu đục cành và sâu đục thân-rễ, và trên 20% nông dân có thể
nhận biết được bọ trĩ, bọ cánh cứng đục ngọn, sâu đục cành, sâu róm đỏ, và rệp sáp giả, là
3
những loài sâu hại chính trong vườn điều. Trong điều tra cơ bản, người nông dân chỉ nhận
biết được trung bình chưa đến 1 loại bệnh, và 37% nông dân không biết được loại bệnh
nào. Sau khi được tập huấn, người nông dân có thể nhận biết được trung bình 2 loài bệnh,
và vườn của nông dân có kiến vàng đã cung cấp cho người nông dân hình ảnh đầy đủ về
kiến vàng đem lại lợi ích cho họ như thế nào.
4
Mở đầu
Việc đánh giá dự án được thực hiện trong thời gian tháng 11 và 12/2008 với phiếu câu hỏi
tiêu chuẩn (Phụ lục 1) dưới hình thức phỏng vấn những nông dân đã hoàn thành lớp tập
huấn FFS năm thứ 1. Để so sánh với dữ liệu thu thập của điều tra cơ bản vào đầu dự án,
những câu hỏi chú trọng đến 7 nội dung:
(1) Thông tin chung về nông dân,
(2) Vai trò phụ nữ trong canh tác điều,
(3) Kỹ thuật canh tác điều,
(4) Sức khỏe nông dân và môi trường canh tác,
(5) Kiến thức của nông dân về bệnh hại điều, sâu hại và thiên địch,
(6) Ý kiến nông dân về kiến vàng chú trọng đến năng suất và chất lượng hạt, và
(7) Ý kiến của nông dân về lớp huấn luyện FFS.
Mỗi nội dung gồm có một số câu hỏi được chú trọng đến sự thay đổi “trước” và “sau” khi
dự lớp tập huấn FFS. Vì cuộc điều tra được thực hiện trong thời kỳ cây điều ra hoa (tháng
11-12), vào 7 tháng sau khi hoàn thành lớp tập huấn năm thứ nhất, lợi ích kinh tế như là
năng suất và chất lượng hạt, không thể đánh giá được. Tuy nhiên, chúng tôi đã soạn những
câu hỏi liên quan đến vấn đề để người nông dân có thể có ý kiến dựa trên những quan sát
của họ về tình trạng phát triển của vườn điều được quản lý với quy trình cải tiến tổng hợp
trên cây điều (ICI) mà lớp FFS đã giới thiệu.
Dữ liệu của cuộc điều tra được phân tích và xử lý thống kê Pearson Chi-square để đánh giá
(% thời gian)
Sau FFS
(% thời gian)
Chồng 57,5 59,1
Vợ 32,0 30,0
Con trai 6,4 8,3
Con gái 4,1 3,1
Tổng cộng 100 100
3. Kỹ thuật canh tác điều
Cuộc điều tra bao gồm 7 hoạt động đồng ruộng chính để hiểu được sự thay đổi mà người
trồng điều đã thực hiện sau khi hoàn thành lớp tập huấn FFS. Những hoạt động này gồm có
làm cỏ tay, che phủ đất, tưới nước, xén tỉa, bón phân, sử dụng thuốc trừ sâu và thuốc trừ
cỏ. Đối với mỗi hoạt động đồng ruộng này, người nông dân được hỏi rằng họ đã thực hiện
những gì vào trước và sau khi được tập huấn. Chúng tôi cũng so sánh kết quả này với kết
quả thu thập được của điều tra cơ bản càng nhiều càng tốt.
3.1 Làm cỏ
Kiến thức của người nông dân về sự quan trọng của làm cỏ tay đã được cải thiện có ý
nghĩa. Tổng số 197 người đã có ý kiến về câu hỏi này. Trước khi được tập huấn, có 96
(49%) nông dân làm cỏ tay. Sau khi được tập huấn, 165 (84%) nông dân đã thực hiện hoạt
động này (Bảng 2). Tỷ lệ nông dân có làm cỏ tay vào sau khi được tập huấn cao hơn 35%
so với trước khi được tập huấn, và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 2).
6
Trong số 197 nông dân, 98% người đã có những hiểu biết đầy đủ về thời điểm và phương
cách làm cỏ trong vườn điều có sử dụng kiến vàng.
2
= 98.677; P < 0.001; df = 1.
3.3. Tưới nước
Kiến thức của nông dân về sự quan trọng của việc tưới nước trong thời kỳ ra hoa và đậu
trái non đã được cải thiện có ý nghĩa. Trong số 184 nông dân trả lời câu hỏi này, 58 (32%)
người đã tưới nước cho vườn điều trước khi được tập huấn (Bảng 4). Sau khi được tham
dự lớp FFS, 111 (60%) người đã thực hiện việc tưới nước (Bảng 4), cho thấy có gia tăng
28% so với trước khi dự lớp FFS.
Trong số 184 nông dân, 93% nông dân hiểu biết rõ thời điểm và cách tưới nước cho vườn
điều của họ.
Bảng 4. Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có thực hiện việc tưới nước vào trước và sau
khi tham dự lớp tập huấn FFS.
Tưới nước Trước FFS Sau FFS Cộng
Có 58 111 169
Không 126 73 199
Cộng 184 184 368
Pearson Chi-square statistics χ
2
= 31.661; P < 0.001; df = 1.
7
3.4. Xén tỉa
Kiến thức người nông dân về việc xén tỉa được cải thiện đáng kể. Trong số 196 người trả
lời về hoạt động này, 107 (55%) người đã có xén tỉa trước khi được tập huấn, tỷ lệ này
tương đương với kết quả điều tra cơ bản. Sau khi được dự lớp FFS, 169 (86%) người đã
Bảng 6. Bảng 2 chiều về số lượng nông dân có thực hiện việc bón phân vào trước và sau
khi tham dự lớp tập huấn FFS.
Bón phân Trước FFS Sau FFS Cộng
Có 154 190 344
Không 42 6 48
Cộng 196 196 392
Pearson Chi-square statistics χ
2
= 30.548; P < 0.001; df = 1.
3.6. Sử dụng thuốc trừ sâu
Kiến thức người nông dân về sử dụng thuốc trừ sâu đã được cải thiện một cách có ý nghĩa.
Tổng số 197 nông dân đã trả lời câu hỏi này. Trước khi được tập huấn có 180 (91%) nông
dân phun thuốc trừ sâu (Bảng 7). Kết quả này tương tự như kết quả điều tra cơ bản là có
83% nông dân sử dụng thuốc trừ sâu (xem Báo cáo điều tra cơ bản). Sau khi dự lớp tập
huấn FFS, 133 (67%) nông dân có sử dụng thuốc trừ sâu, cho thấy có giảm 24% so với
trước khi dự tập huấn, và mức giảm này rất có ý nghĩa (Bảng 7). Tỷ lệ giảm này có nguyên
8
nhân từ sự thiệt hại do sâu giảm đi sau khi người nông dân sử dụng kiến vàng trong vườn.
Tuy nhiên, với sự ứng dụng của chương trình ICI, chúng tôi hy vọng tỷ lệ hiện tại (67%)
về người nông dân có sử dụng thuốc trừ sâu sẽ giảm xuống trong tương lai, khi mà người
nông dân có nhiều kinh nghiệm hơn nữa về sử dụng kiến vàng.
Ngoài ra, có khoảng 92% nông dân hiểu rõ về thời điểm sử dụng và cách sử dụng thuốc trừ
sâu trong vườn điều. Mặt khác, trong kết quả điều tra cơ bản, có khoảng 80% nông dân đã
trải qua nhiều kinh nghiệm về những triệu chứng ngộ độc trong khi sử dụng và sau khi sử
dụng thuốc trừ sâu.
2
= 0.352; P = 0.553; df = 1. 4. Sức khỏe nông dân và môi trường canh tác
Sức khỏe của nông dân và môi trường canh tác đã được cải thiện rất nhiều. Trong kết quả
điều tra cơ bản, 80% nông dân cho rằng sức khỏe họ bị ảnh hưởng độc của thuốc trừ sâu,
và 92% nông dân nhận biết được việc phun thuốc trừ sâu đã gây ảnh hưởng xấu đến môi
trường, bao gồm sự ô nhiễm về nước, không khí, và đất, sự giảm sút quần thể các côn
trùng có lợi, nhiều cơ hội cho sự bùng phát dịch hại, và ảnh hưởng xấu đến gia súc. Trong
điều tra này, hai câu hỏi về vấn đề này được soạn thảo để đo lường sự thay đổi về sức khỏe
của người nông dân và môi trường canh tác. Trong số 196 nông dân trả lời câu hỏi này,
9
186 (95%) và 175 (89%) nông dân đã tin tưởng rằng sức khỏe của họ và môi trường canh
tác, theo thứ tự, sẽ được cải thiện sau khi áp dụng chương trình ICI có sử dụng kiến vàng là
thành phần chính. 5. Kiến thức của người nông dân về bệnh hại điều, sâu hại và
thiên địch
Ba câu hỏi được soạn thảo để đo lường kiến thức của người nông dân về bệnh hại, sâu hại,
và thiên địch của chúng.
5.1. Sâu hại
Kiến thức của người nông dân về sâu hại điều được cải thiện đáng kể. Trong điều tra cơ
bản, người nông dân chỉ có thể nhận dạng trung bình chưa đến 1 loài sâu hại, và có 37%
5 loài 0 10
6 loài 0 5
7 loài 0 1
10
5.2. Bệnh hại
Kiến thức của người nông dân về bệnh hại cây điều được cải thiện đáng kể. Trong kết quả
điều tra cơ bản, người nông dân chỉ nhận biết được trung bình chưa đến 1 loại bệnh, và
37% nông dân không thể nhận biết được một loại bệnh hại nào (Bảng 10). Sau khi dự lớp
tập huấn FFS, tổng số 182 nông dân đã trả lời câu hỏi này, và họ có thể nhận biết được
trung bình 2 loại bệnh, và 29% nông dân có thể nhận biết được trên 2 loại bệnh (Bảng 10).
Sau khi dự lớp tập huấn FFS, 92% nông dân có thể nhận biết được bệnh thán thư, là loại
bệnh quan trọng nhất, 50% nông dân biết được bệnh nấm hồng, 20% biết được bệnh chảy
nhựa thân cành, và 10% có thể biết được bệnh phấn trắng. Kiến thức về bệnh hại này rất
quan trọng cho người nông dân để kiểm tra định kỳ và quản lý bệnh trong vườn.
Bảng 10. Số lượng các bệnh hại điều nông dân có thể nhận biết được trong điều tra cơ bản
và sau lớp tập huấn FFS.
Tỷ lệ nông dân nhận biết được
(%)
Số lượng các loại bệnh nhận biết
Điều tra cơ bản Sau lớp FFS
0 37 0
1 loại 37 29
2 loại 20 42
3 loại 6 27
4 loại 0 2
(3) 86% nông dân chắc chắn rằng kiến vàng sẽ giúp cải thiện năng suất điều,
(4) 80% nông dân chắc chắn rằng kiến vàng sẽ cải thiện chất lượng hạt điều,
(5) 80% nông dân sẽ sử dụng kiến vàng,
(6) 83% nông dân đã biết cách sử dụng kiến vàng, và
(7) 89% nông dân sẽ chuyển giao cách sử dụng kiến vàng đến bạn bè và những nông
dân khác (Bảng 11).
Đối với câu hỏi số 9 (Bảng 11), 92% nông dân bày tỏ sự quan tâm được tập huấn thêm
trong tương lai để có thể quản lý các đàn kiến vàng tốt hơn (Bảng 11), bởi vì đến nay họ đã
nhận biết được những lợi ích khi có kiến vàng trong vườn điều của mình.
Liên quan đến những góp ý của nông dân về việc sử dụng kiến vàng trong vườn điều (Câu
hỏi số 10; Bảng 11), 73% nông dân đã bày tỏ mối quan tâm về hành vi hung hăng của kiến
vàng, chủ yếu là những khó khăn trong thu hoạch, và xén tỉa. Mối lo ngại này có thể được
giải quyết theo những chỉ dẫn của sách hướng dẫn có hình ảnh, và vấn đề này cần được
nhấn mạnh trong lớp FFS trong tương lai.
Để kết luận, dữ liệu nhận được sau khi triển khai lớp tập huấn FFS cho thấy rằng chương
trình huấn luyện rộng rãi và tập trung về sinh học của kiến vàng là thích hợp, và vườn trình
diễn cũng như vườn của nông dân đã có sẵn kiến vàng đã cung cấp cho người nông dân
một sự hiểu biết về kiến vàng có thể đem lại lợi ích cho họ như thế nào.
Bảng 11. Ý kiến của nông dân về kiến vàng vào trước và sau khi dự tập huấn FFS.
Tỷ lệ nông dân
Câu hỏi
Điều tra cơ bản Sau FFS
1. Ông / bà có biết kiến vàng không (có/không)? 8% chọn
“không”
100% chọn
“có”
8. Ông / bà có chắc rằng mình sẽ chuyển giao với
người thân hoặc bạn bè cách sử dụng kiến vàng trong
vườn điều (chắc chắn/ không chắc)?
__ 89% chọn
“Chắc chắn”
9. Ông / bà có cần tập huấn thêm về quản lý các đàn
kiến vàng (có / không)?
__ 92% chọn
“có”
10. Ông / bà có đóng góp ý kiến gì về sử dụng kiến
vàng (có / không)?
__ 73% chọn
“có” 12
7. Ý kiến nông dân về lớp tập huấn FFS
Người nông dân rất hài lòng về lớp tập huấn FFS. Trong số 196 nông dân góp ý về chất
lượng của lớp FFS, 98% đã hài lòng về chương trình tập huấn FFS, 95% hài lòng về
phương pháp tập huấn, và 96% hài lòng về kết quả của vườn trình diễn (Bảng 12).
Bảng 12. Ý kiến của nông dân về chất lượng của lớp tập huấn FFS.
Câu hỏi Ý kiến của
nông dân
1. Ông / bà có hài lòng về chương trình tập huấn FFS (hài lòng / không
hài lòng)?
98% chọn ‘hài
lòng’
2. Ông / bà có hài lòng về phương pháp tập huấn (hài lòng / không hài
20
13
Phụ lục 1
Phiếu điều tra nông dân sau tham dự lớp FFS
về ICI cây điều Ngày phỏng vấn: Người phỏng vấn:
I. Thông tin cá nhân
1. Họ và tên nông dân:
2. Giới tính:
3. Tuổi:
4. Trình độ văn hóa:
5. Xã:
4. Huyện/Tỉnh:
10. Năm kinh nghiệm trồng điều (số năm):
II. Vai trò của phụ nữ trong tham gia canh tác điều
1. Trước khi học lớp FFS
Tỷ lệ (%) thời gian tham gia canh tác điều
Chồng Vợ Con trai Con gái
2. Sau khi học lớp FFS
Tỷ lệ (%) thời gian tham gia canh tác điều
trừ sâu?
V. Kiến thức người nông dân về sâu bệnh hại điều, thiên địch
1. Sau lớp FFS, ông/bà nhận biết được mấy loại sâu hại điều, vui lòng kể tên?
2. Sau lớp FFS, ông/bà nhận biết được mấy loại bệnh hại điều, vui lòng kể tên?
3. Sau lớp FFS, ông/bà nhận biết được những loài côn trùng và động vật có ích nào, vui
lòng kể tên?
4. Sau lớp FFS, ông/bà quản lý những cây điều bị hại nặng do sâu đục thân-rễ, và sâu đục
cành như thế nào?
VI. Ý kiến người nông dân về kiến vàng
1. Sau lớp FFS, ông/bà có chắc chắn rằng kiến vàng có thể kiểm soát được những sâu hại
chính trong vườn điều? (chắc chắn / không chắc)
2. Sau lớp FFS, ông/bà có chắc chắn rằng kiến vàng tốt cho vườn điều? (chắc chắn / không
chắc)
3. Sau lớp FFS, ông/bà có chắc chắn rằng sẽ sử dụng kiến vàng trong vườn của mình?
(chắc chắn / không chắc)
4. Ông/bà có chắc chắn rằng mình biết rõ cách sử dụng kiến vàng một cách thích hợp trong
vườn của mình? (chắc chắn / không chắc)
5. Ông/bà có chắc chắn rằng kiến vàng sẽ giúp cải thiện năng suất vườn điều của mình?
(chắc chắn / không chắc)
6. Ông/bà có chắc chắn rằng kiến vàng sẽ giúp cải thiện chất lượng của hạt điều trong vườn
của minh? (chắc chắn / không chắc)
7. Ông/bà có chắc chắn rằng mình sẽ chuyển giao kỹ thuật sử dụng kiến vàng cho người
thân hoặc bạn bè để sử dụng trong vườn của họ? (chắc chắn / không chắc)
8. Ông/bà có nhu cầu được tập huấn thêm nữa không về quản lý các đàn kiến vàng? (có /
không)
9. Ông/bà có góp ý gì không về việc sử dụng kiến (có / không)? Nếu có, xin vui lòng kể ra.