“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG NGHỆ SINH HỌC
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ CÁC KHÍA CẠNH
KINH TẾ VÀ MÔI TRƯỜNG CỦA CÁC MÔ
HÌNH SẢN XUẤT TRONG ĐÊ BAO HUYỆN
HỒNG NGỰ – TỈNH ĐỒNG THÁP
NGÀNH HỌC : MÔI TRƯỜNG
MÃ NGÀNH : 108
GVHD : TH.S THÁI VŨ BÌNH
SVTH : VŨ LÊ KIỂM TÚ
TP. Hồ Chí Minh, tháng 12 năm 2007
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
1
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Hồng Ngự là một huyện thuộc tỉnh Đồng Tháp. Cuộc sống ở nơi đây là
vùng sâu, vùng xa nên vẫn còn rất nhiều khó khăn. Hồng Ngự, ngày nay đang
cố gắng hòa nhập vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa của đất nước để
thực hiện công cuộc đổi mới của đất nước nhằm nâng cao cuộc sống của chính
những người dân nơi đây.
Nằm bên bờ sông Tiền Giang nên nền kinh tế nông nghiệp cũng là một
nét đặc trưng của Hồng Ngự, tàu bè qua lại ngày đêm và tấp nập cặp bến với
Ngày 9/2/1996 thủ tướng chính phủ ban hành quyết đònh 99/Ttg và kế
hoạch năm năm 1996-2000 về phát triển thủy lợi, giao thông và xây dựng nông
thôn vùng đồng bằng Sông Cửu Long. Quán triệt chỉ đạo của đảng, chính phủ,
và các ban nghành tiến hành xây dựng hệ thống đê bao rộng khắp. Trong
những năm qua, số lượng đê bao, bờ bao tăng lên nhanh chóng và việc sản
xuất trong đê bao ngày càng được quan tâm để góp phần phát triển kinh tế
nhưng bảo vệ môi trường phát triển bền vững.
Vấn đề sản xuất đi đôi với môi trường hết sức quan trọng đối với huyện
Hồng Ngự và tìm ra giải pháp hợp lý cho các mô hình sản xuất trong đê bao
cho người nông dân, giảm chi phí sản xuất nhưng môi trường vẫn đảm bảo.
1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Ngày nay, môi trường đang là vấn đề mang tính toàn cầu, vì con người
khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách bất hợp lý và không có khoa học.
Nhưng chúng ta không chỉ nói bằng miệng mà phải có những công trình nghiên
cứu cụ thể. Để bảo vệ và khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
3
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
Hệ thống đê bao ngăn lũ phát triển một cách nhanh mạnh và phát huy tốt
chức năng giúp cho người dân ổn đònh cuộc sống và duy trì tốt sản xuất, tuy
nhiên sự phát triến nhanh chóng và ồ ạt của đê bao ngăn lũ như hiện nay thì
hậu quả sẽ như thế nào có ảnh hưởng gì trong hiện tại và tương lai hay không?
Vì bất cứ sự tác động của con người vào thiên nhiên và làm thay đổi những quy
luật của thiên nhiên thì điều đó sẽ cho chúng ta những lợi ích trước và hậu quả
lâu dài. Chúng ta phải nghiên cứu làm sao để cho lợi ích là nhiều nhất và hậu
quả là ít nhất.
Với mục tiêu trên đưa đến vấn đềâ khảo sát đánh giá thực trạng đê bao của
huyện Hồng ngự tỉnh Đồng Tháp và các mô hình sản xuất trong đê bao này. Để
xem xét các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình trong đê bao đề
1.4.2 Phương pháp biên hội và tổng hợp tài liệu
Thu thập thông tin về điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội – môi
trường, tài nguyên, đa dạng sinh học, các dạng đòa hình, thủy văn, tính chất và
diễn biến lũ tại khu vực nghiên cứu huyện Hồng Ngự trong hiện tại và trước
đây, sàng lọc những thông tin thiết thực phục vụ cho quá trình nghiên cứu viết
luận văn.
Khảo sát thực đòa, xem xét tình hình đê bao và sản xuất trong vùng đê
bao của huyện.
1.4.3 Phương pháp đánh giá các khía cạnh Kinh Tế -Sinh Thái
• Hệ thống đánh giá thông qua 02 nhóm tiêu chí:
Tiêu chí về kinh tế (gồm 04 chỉ tiêu)
• Chỉ tiêu 1: Năng suất tính bằng gía trò sản phẩm thu được trên đơn vò
diện tích
• Chỉ tiêu 2: Hiệu quả tính bằng thu nhập trên đơn vò ngày công
• Chỉ tiêu 3: Yêu cầu kỹ thuật và vốn đầu tư
• Chỉ tiêu 4: Tính khả thi
Tiêu chí về sinh thái (gồm 04 chỉ tiêu)
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
5
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
Chỉ tiêu 1: Khả năng cải tạo đất
Chỉ tiêu 2: Tác dụng giữa đất và nước
Chỉ tiêu 3: Tính chống chòu, thể hiện sự phù hợp và cho năng suất cao
Chỉ tiêu 4: Tính ổn đònh (bền vững) thể hiện khả năng lợi dụng lâu dài,
liên tục và cân bằng sinh thái
• Sử dụng phương pháp đánh giá bằng ma trận điểm. Mỗi chỉ tiêu được
đánh giá thành 03 cấp: thấp, trung bình, cao (ứng với điểm 1, 2 và 3).
• Mô hình có tổng điểm đánh giá cao nhất sẽ ưu tiên lựa chọn, mô hình
sản xuất có điểm đánh giá thấp sẽ đề xuất giải pháp cải tiến.
1.7.1. Ý nghóa thực tiễn của đề tài
Đề tài nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế môi trường trong đê bao
huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp giúp cho huyện tìm ra những mô hình sản
xuất thích hợp trong đê bao để nâng cao năng xuất, góp phần thúc đẩy kinh tế
nhưng cũng phải bảo vệ môi trường.
Các hợp tác xã, hộ nông dân có thể dựa trên đề tài này để tìm ra mô hình
sản xuất thích hợp cho mình.
1.7.2 Ý nghóa khoa học
Việc sản xuất trong đê bao không còn xa lạ với người dân trong những
thập niên gần đây nhưng vấn đề sản xuất mà vẫn bảo vệ môi trường đang là
một vấn đề mới. Do đó việc nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế môi
trường trong đê bao huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp là một nghiên cứu rất
mới tạo tiền đề cho việc nghiên cứu các khu vực khác cũng có đê bao nhiều
như đồng bằng Sông Hồng.
1.8 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI
Nếu có thời gian và điều kiện sẽ tiến hành phân tích tiến hành đánh giá
khía cạnh xã hội. Và mở rộng đề tài ra các huyện khác của tỉnh Đồng Tháp.
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
7
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
CHƯƠNG 2:
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI HUYỆN HỒNG NGỰ
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
2.1.1 Vò trí đòa lý
Hồng Ngự là một huyện của tỉnh Đồng Tháp, nằm bên bờ sông Tiền, giáp
với biên giới Campuchia và cửa ngõ biên giới quan trọng của tỉnh.
Ranh giới hành chánh của của huyện Hồng Ngự như sau:
- Phía Tây Bắc giáp: Campuchia
- Phía Tây giáp: sông Tiền
ngầm tầng sâu chất lượng tương đối tốt tuy nhiên trữ lượng không lớn lắm nếu
khai thác phục vụ sinh hoạt thì có thể đáp ứng được.
2.1.3.3 Thổ nhưỡng
Có 4 loại nhóm đất chính là: đất phù sa, đất xám, đất phèn, đất sông rạch
Hai loại đất phù sa, đất xám đã được khai thác sử dụng trồng lúa, rau
màu , cây công nghiệp từ 2 đến 3/vụ năm. Có năng suất cao và ổn đònh.
Đất phèn hiện nay đã được cải tạo một cách cơ bản để sử dụng trồng lúa,
màu, cơ bản đã đi vào ổn đònh. Hiện nay diện tích đất hoang hóa còn rất ít.
Diện tích trồng tràm cũng được quy hoạch, trồng và khai thác có kế hoạch nên
cũng là cây có giá trò kinh tế.
2.2. ĐẶC ĐIỂM THỦY VĂN
2.2.1 Đặc điểm khí tượng
2.2.1.1 Mưa
Lượng mưa trung bình biến đổi qua nhiều năm.
Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 12, lượng mưa chiếm tới 90%
lượng mưa của cả năm trong đó tập trung vào tháng 9, 10 chiếm tới 40% lượng
mưa cả mùa mưa.
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
9
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
Mùa khô bắt đầu từ tháng 1 đến tháng 4 năm sau lượng mưa chỉ chiếm
10% lượng mưa cả năm.
Trên đòa bàn thì các xã phía Bắc mưa sớm hơn và kết thúc sớm hơn các xã phía
Nam
Bảng 2. 1: Lượng mưa trung bình qua các năm
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Lượng mưa trung
bình (mm)
167,1 114,16 102,81 144,91 104,49 124,766
2.2.1.4 Bốc hơi
Lượng bốc hơi trung bình năm 1168 mm.
Lượng bốc hơi trung bình ngày từ 3 ÷ 5 mm/ngày.
Lượng bốc hơi cao nhất ngày từ 6 ÷ 8 mm/ngày.
2.2.1.5 Độ ẩm
Độ ẩm trung bình nhiều năm là 82,5%.
Độ ẩm thấp nhất ngày là 50,3%.
Bảng 2. 5: Độ ẩm trung bình các năm
Năm 2000 2001 2002 2003 2004 2005
Độ ẩm trung
bình (%)
84,58 84,33 82,83 83,33 82,33 81,66
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2005
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
11
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
Bảng 2.6: Độ ẩm các tháng trong năm 2006
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Độ ẩm
(%)
84 80 80 82 84 86 87 86 86 85 80 80
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Tháp, 2006
2.2.1.6 Nhiệt độ
Nhiệt độ cao và ổn đònh, nhiệt độ trung bình năm là 27
0
C.
Cao nhất là 34
0
C.
2.2.2.1 Nước từ thượng nguồn sông Mê Kông đổ về
Sông Mê Kông là một sông lớn chảy qua các nước như Mianma, Lào, Thái
Lan, Campuchia và Việt Nam. Đoạn chảy qua nước ta là đoạn hạ lưu trước khi
đổ ra biển Đông với 9 nhánh. Nhánh sông Tiền và sông Hậu là hai nhánh lớn
có ảnh hưởng trực tiếp đến tỉnh Đồng Tháp. Lưu lượng sông Mê Kông rõ ràng
là chòu ảnh hưởng trực tiếp lượng mưa của lưu vực trên đòa bàn các nước
Mianma, Lào, Thái Lan, Campuchia. Diễn biến mực nước ở hạ lưu sông Mê
Kông cũng theo mùa mưa, mùa khô của lưu vực và nó cũng phù hợp với mùa
mưa, mùa khô ở đồng bằng sông Cửu Long.
2.2.2.2 Nước mưa nội đồng
Lượng mưa hằng năm ở biến thiên từ 1,184 ÷1,518 mm.
Lượng mưa tháng lớn nhất là tháng 9, 10.
2.2.2.3 Nước thủy triều ảnh hưởng đến mực nước sông
Đồng Tháp chòu ảnh hưởng của thủy triều biển đông theo chế độ bán nhật
triều. Thời gian triều cường trong tháng theo hai kỳ tháng âm lòch (theo quỹ đạo
mặt trăng). Từ ngày 15 đến ngày 18 và từ ngày 29 đến ngày 2 tháng sau.
Từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau, mực nước triều ảnh hưởng đến toàn hệ
thống sông rạch tỉnh của Đồng Tháp. Biên độ thủy triều tương đối lớn.
- Vùng phía Bắc có biên độ từ 0.4 ÷ 1.0m
- Vùng phía Nam có biên độ từ 0.7 ÷ 1.8m
Từ tháng 7 đến tháng 11 do ảnh hưởng của dòng chảy từ thượng nguồn
chảy về đủ lớn làm cho thủy triều không tác động đến mực nước sông từ Đồng
Tiến trở lên. Mực nước sông hoàn toàn do mực nước thượng nguồn quyết đònh.
Từ Đồng Tiến trở xuống phía nam, dòng chảy và mực nước sông vẫn ảnh
hưởng của mực nước triều, có nghóa là một ngày có hai mực nước triều lên,
xuống.
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
13
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
14
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
phía nam kênh Nguyễn Văn Tiếp A. Lũ thoát ra theo 2 hướng, qua phía Long
An ra sông Vàm Cỏ và chảy ngược ra sông Cửu Long.
Cứ từ 3 đến 5 năm lại có một trận lũ lớn.
Từ tháng 7 đến tháng 11 huyện Hồng Ngự có mực nước sông cao hơn cao
độ phần lớn diện tích tự nhiên của vùng (không kể thời gian đỉnh lũ).
Dòng chảy có hướng chảy từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam (vùng
phía Bắc) từ sông Tiền sang sông Hậu (vùng kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu)
Bảng 2. 9: Mực nước 2004 (cm)
Năm 2004
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Hmax 148 127 119 104 115 121 142 179 232 227 170 163
Hmin -42 -76 -98 -97 -100 -61 -42 24 85 109 38 -21
Nguồn: Trạm khí tượng thủy vàên Cao Lãnh- Đồng Tháp, 2005
Bảng 2. 10: Mực nước 2005 (cm)
Năm 2005
Tháng 1 2 3 4
Hmax 151 128 120 105
Hmin -55 -79 -79 -80
Nguồn: Trạm khí tượng thủy vàên Cao Lãnh- Đồng Tháp, 2005
Như vậy:
Mùa kiệt mùa nước sông thấp hơn cao độ hầu hết diện tích đất canh tác do
vậy biện pháp tưới duy nhất là bơm nước.
Mùa lũ hầu hết thời gian mực nước sông có cao độ lớn hơn cao độ hầu hết
đất đai trong vùng nên không thể tiêu chảy được khi cần tiêu cục bộ phải dùng
bơm tại trạm bơm tưới nhưng phải quay máy bơm ngược lại.
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
15
16
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
2.4 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
2.4.1 Đặc điểm dân sinh
Huyện Hồng Ngự tính đến hết năm 2006 có số dân 220.952 người trong đó
số nam chiếm 107.972 người và nữ chiếm 113.025 người. Mật độ dân số là 680
ng/km
2
. Dân cư có xu hướng di chuyển về các khu đô thò cho nên tỷ lệ tăng dân
số cơ học ở các khu vực này tương đối cao. Tuy nhiên, đây cũng là thế mạnh về
nguồn nhân lực để đẩy nhanh quá trình đô thò hóa, nâng cao mức sống của
người dân.
Tỷ lệ tăng dân số của huyện năm 1999 là 1,49%. Hiện nay, tỷ lệ này đã
giảm do thực hiện tốt công tác kế hoạch hóa gia đình.
Khu dân cư tập trung ở ven các con sông lớn, các tuyến kênh trục, các thò
trấn, thò tứ do tập quán sinh hoạt của người dân. Gần đây các cụm dân cư tập
trung tránh lũ đang được hình thành do tình hình lũ lụt diễn biến phức tạp tuy
nhiên cũng phù hợp với xu thế phát triển của các đô thò nhỏ hiện nay.
Đặc điểm dân cư là:
- Vùng phía bắc đa số dân làm nhà sàn.
- Vùng phía Nam đa số dân tôn nền làm nhà.
Đời sống dân cư đang được cải thiện từng bước nhờ có sự quan tâm của
Đảng và nhà nước. Công tác xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ vay vốn, dự án kiên cố
hóa kênh mương, phát triển nghành nghề truyền thống được các ban nghành
quan tâm, giải quyết.
2.4.2. Đặc điểm kinh tế
Năm 2006 là một năm với nhiều biến động về kinh tế cũng như xã hội.
Tình hình thế giới thay đổi liên tục. Việt Nam gia nhập WTO đánh dấu thắng
lợi to lớn giúp nền kinh tế nước ta ngày càng phát triển.
trường tăng, giá cả cao. Lượng cá thương phẩm bán ra thò trường khoảng 21.500
tấn, cá giống khoảng 700 triệu con và cung cấp cho thò trường khoảng 10 tỷ con
cá tra bột.
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
18
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
Chăn nuôi cũng góp phần lớn trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế của
huyện, tuy nhiên với tình trạng gia cầm bò dòch và bệnh long mồm lở móng trên
heo như hiện nay cho nên đàn gia súc của huyện giảm hơn so với mọi năm. Cho
đến ngày 30/7/2007 tổng đàn heo của huyện là 27.290 con, tổng đàn trâu bò có
khoảng 5.313 con, trong đó số trâu là 885 con, đàn bò 4.428 con.
Tuy nhiên được sự quan tâm của chỉ đạo sát sao của Huyện Uỷ, Hội
Đồng Nhân Dân huyện chỉ đạo công tác phòng chống dòch bệnh trên cây trồng
và vật nuôi giúp cho sản xuất năm 2007 sẽ đạt được nhiều thắng lợi.
Nguồn nguyên liệu nông - thuỷ sản dồi dào của tỉnh chính là lợi thế để
phát triển ngành công nghiệp chế biến.
2.4.2.2 Kinh tế công nghiệp và xây dựng
Kinh tế công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong nền kinh
tế huyện. Số cơ sở sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh là 1260. Chỉ số phát
triển phát triển giá trò sản xuất công nghiệp so với năm trước là 110,1%.
Ngành công nghiệp phát triển chậm, cơ sở vật chất kỹ thuật còn yếu
kém, lạc hậu, thiết bò công nghệ lạc hậu, sản phẩm còn ở dạng thô sơ, chất
lượng kém, thiếu sức cạnh tranh. Với các ngành nghề chủ yếu là chế biến thực
phẩm, chế biến lương thực, sửa chữa cơ khí. Ngoài ra, huyện còn có một số
nghành nghề truyền thống đóng ghe, xuồng , đan lát…
Nguồn lao động của huyện hiện nay đang ở mức báo động. Các khu công
nghiệp ở những thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ đã thu
hút một lượng lớn nhân lực di cư khỏi đòa phương.
2.4.2.3 Kinh tế dòch vụ
khô. Giao thông đường bộ được kết hợp với hệ thống đê bao, vừa xây dựng hệ
thống đê bao vừa kết hợp xây dựng hệ thống giao thông tạo điều kiện tốt để
phát triển nông nghiệp, công nghiệp, thương mại và dòch vụ.
Hiện nay huyện đang chủ trương kiên cố hóa đường giao thông bằng các
dự án nhà nước và nhân dân cùng làm, mở rộng và nâng cấp các tuyến đường
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
20
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
giao thông, để việc đi lại thuận lợi góp phần phát triển kinh tế. Tuy nhiên, hiện
nay vấn đề an toàn giao thông cũng là một trong những vấn đề cần quan tâm
của huyện, sự phát triển giao thông phải kéo theo đó là sự an toàn trong giao
thông để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Giao thông đường thủy thuận lợi do hệ thống sông rạch tự nhiên và hệ
thống kênh mương của huyện dày đặc. Việc giao thông bằng đường thủy cũng
góp phần rất lớn trong việc phát triển kinh tế của huyện nhưng vấn đề bức xúc
hiện nay là việc giao thông bằng đường thủy không có sự quản lý một cách
nghiêm ngặt, về vấn đề người sử dụng phương tiện giao thông và trình độ hiểu
biết về pháp luật khi tham gia giao thông.
2.4.2.6 Bưu chính viễn thông
Trong những năm gần đây hệ thống thông tin liên lạc nhanh chóng phát
triển với sự tham gia với nhiều công ty trong và ngoài nước, phát triển đa dạng
các loại dòch vụ, đổi mới phong cách, giảm giá thành, xây dựng cơ sở hạ tầng
thích nghi với điều kiện hiện nay. Góp phần quan trọng trong sự phát triển của
xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng.
Tính đến nay số máy điện thoại của huyện là 9737 cái. Số máy điện
thoại bình quân 4,4 cái/100 dân. Hiện nay, huyện đang phấn đấu nâng cao số
lượng lắp đặt, số máy điện thoại trong những năm tới. Về mạng di động tổng
đài Vina Phone, Mobi Phone đã lắp đặc tại trung tâm thò trấn phủ sóng toàn bộ
huyện và những vùng lân cận. Các hãng điện thoại khác như Viettell, Sfone
2.5.2. Y tế
Huyện đã cố gắng tổ chức tốt việc chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân
dân và tích cực phòng chống dòch bệnh. Mạng lưới y tế tương đối hoàn chỉnh,
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
22
“Nghiên cứu đánh giá các khía cạnh kinh tế và môi trường của các mô hình sản xuất trong đê
bao huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp”
tất cả các xã đều có trạm y tế, được trang bò mới và nâng cấp cơ sở vật chất.
Chuyên môn của đội ngũ cán bộ ngày càng hoàn thiện. Các chương trình y tế
quốc gia được thực hiện tốt. Với số lượng cán bộ nghành y là 242 người. Trong
đó, bác só và trình độ cao hơn 58 người, y só 99 người, y tá, nữ hộ sinh 19 người.
Cán bộ nghành dược 19 người gồm dược só cao cấp 1 người, dược só trung cấp
12 người và dược tá 6 người.
Trong tương lai tiếp tục duy trì thực hiện tốt các mục tiêu đề ra là nâng
cao sức khỏe của người dân, giảm tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bò suy dinh dưỡng và
các chương trình y tế cộng đồng.
Trong tương lai huyện sẽ có những dự án phát triển mạng lưới cửa hàng
bán thuốc, phòng khám đa khoa tư nhân để phục vụ tốt hơn và góp phần đa
dạng hóa các nghành nghề kinh doanh. Đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền
giáo dục kế hoạch hóa gia đình nhằm giảm tỷ lệ tăng dân số hàng năm.
Tuy nhiên, là một huyện vùng sâu nên tiếp cận khoa học, kỹ thuật hạn
chế nên còn chưa đáp ứng kòp nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân.
2.5.3. Văn hóa xã hội
Trong lónh vực văn hóa, thể dục thể thao : Được duy trì và phát triển khá
phong phú, đa dạng. Huyện đã tổ chức nhiều cuộc thi văn nghệ quần chúng, tổ
chức các lễ hội truyền thống, phát triển phong trào thể dục thể thao và duy trì
thể dục thể thao có thành tích cao. Huyện đã đầu tư xây dựng Trung tâm thông
tin triển lãm, các khu di tích lòch sử
Đài Phát thanh-truyền hình được phủ sóng toàn tỉnh, Đài Phát thanh
huyện, thò xã được củng cố xây dựng đạt 50%, mỗi xã có một đội thông tin lưu
3.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐÊ BAO
Khái niệm cơ bản nhất của đê bao đó chính là bờ bao vượt lũ chính dọc
theo các tuyến sông, kinh rạch chính hay những tuyến giao thông kết hợp có
cao trình vượt lũ.
Đê bao chỉ sử dụng cho tần suất tiêu úng 2-3 % tương đương với lũ năm
2000 kết hợp với các tuyến đường quốc lộ để chống lũ chính vụ tháng 9-10,
nhằm bảo vệ các cụm tuyến dân cư và khu vực kiểm soát lũ cả năm.
Bờ bao để chống lũ đầu vụ tháng 8 bảo vệ lúa hè thu với tần suất tiêu
úng 10%, triều tương đương 25% (tháng 7-8 và tháng 11). Bờ bao không đảm
bảo ngăn lũ lúc cao nhất.
Đê bao, bờ bao hình thành từ cuộc sống thực tiễn sản xuất của người dân
Nam Bộ. Chính yêu cầu cấp thiết bảo vệ cuộc sống, tài sản, nâng cao năng suất
nên bờ bao, đê bao kiểm soát lũ vùng đồng bằng Sông Cửu Long bắt đầu xây
dựng nhiều vào năm 1960-1970. Trước đó, cũng có nhiều công trình về đê điều
nhưng nhỏ lẻ không có quy mô lớn, đa số tự phát là chủ yếu.
Sau 10 năm ứng dụng thành công mô hình đê bao đến năm 1980. Việc
xây dựng đê bao lửng phát triển mạnh mẽ khắp vùng, đặc biệt ở Cái Bè, Cai
Lậy (Tiền Giang), Chợ Mới (An Giang). Cuộc sống của người dân đã thay đổi
nhờ đê bao bảo vệ vụ lúa Hè Thu và Đông Xuân thay thế lúa nổi năng suất
thấp bằng lúa cao sản.
Năm 1980, đê bao chống lũ triệt để được hình thành và phát triển mạnh
ở những vùng ngập nông nhằm bảo vệ vườn cây ăn trái, cây công nghiệp và
sản xuất cả 3 vụ lúa trong năm.
Trong những năm trở lại đây, quyết đònh 99 Tgg ngày 9/2/1996 của thủ
tướng chính phủ đònh hướng dài hạn và kế hoạch năm năm 1996-2000 về phát
SVTH: Vũ Lê Kiểm Tú
25