TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BÁO CÁO
QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN
Chuyên đề:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÁC
CỤM, TUYẾN DÂN CƯ VƯỢT LŨ Ở HUYỆN
HỒNG NGỰ - TỈNH ĐỒNG THÁP1
Giảng viên hướng dẫn:
TS. Lê Ngọc Thạch
Thực hiện: Nhóm 1- CH. QLĐĐ19
Cần Thơ,
11/2012
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BÁO CÁO
QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN
Chuyên đề:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÁC
CỤM, TUYẾN DÂN CƯ VƯỢT LŨ Ở HUYỆN
HỒNG NGỰ - TỈNH ĐỒNG THÁPTHỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CÁC CỤM, TUYẾN
DÂN CƯ VƯỢT LŨ Ở HUYỆN HỒNG NGỰ - TỈNH ĐỒNG THÁP
2
(Tiến Đạt, 2012).
Mặc dù vậy, quá trình thực hiện còn gặp không ít khó khăn. Bởi ngay
trong giai đoạn triển khai chương trình từ năm 2001 đến nay khu vực này không
có lũ hoặc lũ nhỏ, thậm chí hầu như hai dòng sông Tiền và sông Hậu không phải
chịu lũ. Vì vậy đã nảy sinh tư tưởng chủ quan trong đại bộ phận người dân vùng
lũ trước việc phòng tránh và tìm nơi ở an toàn, gây khó khăn cho việc thực hiện
lấp đầy các cụm, tuyến dân cư của các địa phương. Mặt khác, ngoài việc di dời
người dân vào các cụm, tuyến dân cư vượt lũ đã xây dựng xong, việc thu hồi
vốn, lấy vốn tái đầu tư cho xây dựng hạ tầng toàn khu cũng gặp nhiều khó khăn.
Với những cụm, tuyến ở gần khu trung tâm, chợ, trường học, trạm y tế, bệnh
viện được người dân đến ở nhiều hơn so yêu cầu. Theo đó, nguồn vốn tái đầu
tư, giúp hoàn thành công trình cụm, tuyến nhanh hơn, hạ tầng giao thông, trường
học cũng được nâng cấp. Có địa phương xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt
lũ xong nhưng không thu hút được người dân vào ở, dẫn đến tình trạng nơi thừa,
nơi vẫn thiếu (Tiến Đạt, 2012).
Hồng Ngự là huyện đầu nguồn của tỉnh Đồng Tháp, là nơi đón nhận lũ
đầu tiên trong vùng. Quá trình thực hiện xây dựng cụm, tuyến dân cư của huyện
Hồng Ngự cũng có thuận lợi và gặp không ít khó khăn trong việc ổn định đời
sống cho người dân vùng lũ. Nhóm nghiên cứu chọn chuyên đề “Thực trạng và
giải pháp xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ ở huyện Hồng Ngự tỉnh Đồng
Tháp” để đánh giá tình hình xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ ở huyện
3
Hồng Ngự, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc xây
dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ trong thời gian tới.
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá thực trạng xây dựng các cụm, tuyến dân cư vượt lũ ở huyện
Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp.
- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc xây dựng các
cụm, tuyến dân cư vượt lũ trong thời gian tới.
III. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
817 dự án cụm, tuyến dân cư vượt lũ, gồm 744 cụm, tuyến và 73 bờ bao khu dân
cư. Trong đó, hơn 99% (742 nền) dự án đã hoàn thành việc tôn nền; 82% cụm
tuyến dân cư có xây dựng hệ thống thoát nước; 84% cụm, tuyến dân cư có điện
sinh hoạt. Song song đó, các địa phương đã bố trí 125.084 hộ dân và sống trong
cụm, tuyến dân cư vượt lũ, chiếm tỷ lệ 84% so với tổng số đối tượng của
chương trình (Bộ Xây dựng, 2008).
Giai đoạn 2: Được thực hiện từ năm 2008 đến 2010 căn cứ theo Quyết
định số 1151/QĐ-TTg ngày 30/11/2007 về việc phê duyệt bổ sung các dự án đầu
tư (giai đoạn 2) thuộc “Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng
ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long” với tổng vốn đầu tư là 2.387 tỉ đồng, bảo
đảm cho hơn 33.000 hộ dân được di dời vào ở trong cụm, tuyến dân cư (Thủ
tướng Chính phủ, 2007).
4.2. Kết qủa thực hiện chương trình xây dựng cụm tuyến dân cư ở
tỉnh Đồng Tháp (giai đoạn 1)
Giai đoạn 1, tỉnh Đồng Tháp thực hiện 204 cụm, tuyến dân cư, với tổng
số nền quy hoạch là 47.459 nền, trong đó có 37.209 nền chính sách và 10.280
nền sinh lợi. Các cụm tuyến dân cư này cơ bản đã xây dựng hoàn thành, với hạ
tầng thiết yếu hoàn chỉnh, đảm bảo đủ điều kiện cho người dân vào ở ổn định,
an toàn. Đến nay đã xét duyệt bố trí cho 36.774 hộ dân vào ở ổn định, chiếm tỷ
lệ 98,83% (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2011).
Ngày 30/11/2007 Thủ tướng Chính phủ có Công văn số 1876/TTg-NN
chấp thuận bổ sung cho Tỉnh thêm 06 cụm, tuyến dân cư, trong đó 04 cụm tuyến
phục vụ di dời cho số hộ dân trong khu vực sạt lở nguy hiểm và 02 cụm dân cư
thuộc khu kinh tế quốc phòng, tổng số nền được quy hoạch bổ sung là 2.472
nền. Dự kiến sẽ bố trí 2.472 hộ dân vào ở, hiện tại đã cơ bản hoàn thành công
tác san lấp mặt bằng, xây dựng hạ tầng thiết yếu và đã xét duyệt bố trí 1.851 hộ
dân, số hộ đã vào ở là 1.299 hộ chiếm tỷ lệ 52,55% (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng
Tháp, 2011).
4.2.1. Đánh giá tổng quát:
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2011):
(trước khi có cụm tuyến dân cư, người dân sinh sống phân tán ven các kênh
rạch, nên không thể xây dựng các công trình hạ tầng phục vụ đến từng hộ dân
như hiện nay). Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng nông thôn mới, đẩy
nhanh tốc độ đô thị hoá nông thôn, hình thành và phát triển các khu chức năng
đô thị (công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại ), các thị tứ mới, nhằm
phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
4.2.2. Tác động và ảnh hưởng của mùa lũ năm 2011:
- Mùa lũ năm 2011 được xác định là lũ lớn, đỉnh lũ vượt mức báo động 3
và tương đương với mức nước lũ năm 2000, có nơi cao hơn lũ năm 2000, gây
ngập sâu với diện rộng trên địa bàn Tỉnh. Theo nhận định ban đầu lũ đã gây thiệt
6
hại nhiều về cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống đường giao thông nông thôn. Cụm,
tuyến dân cư được đầu tư xây dựng cao hơn mức nước lũ năm 2000, nên mùa lũ
2011 hầu hết không bị ngập nền, nhà ở xây dựng trong cụm, tuyến dân cư vẫn
giữ ổn định, người dân sống chung với lũ an toàn (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng
Tháp, 2011).
- Một số cụm tuyến dân cư xây dựng giai đoạn 1 nằm trong vùng ngập sâu
thuộc khu vực đầu nguồn Sông Tiền, bị áp lực sóng gây sạt lở mái taluy, chính
quyền địa phương đã huy động các hộ dân và lực lượng dân quân tích cực thực
hiện các giải pháp tại chỗ để gia cố, khắc phục như: sử dụng bao cát, cừ tràm,
bạch đàn, lưới B40 để gia cố bảo vệ, đến nay tất cả các cụm dân cư được bảo
vệ an toàn. Chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư vượt lũ trong thời gian
qua đã giải quyết chổ ở cho hơn 40.000 hộ dân bị ngập. Tuy nhiên qua khảo sát
thực tế trong mùa lũ năm 2011, trên địa bàn Tỉnh vẫn còn 31.324 căn nhà bị
ngập lũ trong đó số hộ ngập nặng phải di dời là 2.722 hộ, 28.602 căn nhà phải kê
kích tại chỗ để ở tạm (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2011).
- Tình hình sạt lở ven sông Tiền diễn ra ngày càng nghiêm trọng và nguy
hiểm, theo khảo sát thực tế trên địa bàn Tỉnh có 43 xã giáp với những đoạn sông
bị sạt lở, với 95 điểm sạt lở, có tổng chiều dài bị sạt lở là 85 km, diện tích bị sạt
lở là 43,85 ha, tổng số hộ đã di dời là 565 hộ, số hộ cần phải tiếp tục di dời là
Mùa lũ hàng năm với lưu lượng mỗi năm khác nhau và kéo dài khoảng 5
tháng làm ảnh hưởng lớn đến cuộc sống, sản xuất của người dân. Đơn cử như
cơn lũ năm 2000 (với đỉnh lũ là 5,06m vượt báo động 3) và gần đây nhất là năm
2011 (với đỉnh lũ là 4,98m vượt báo động 3) đã trở thành nhưng cơn lũ lịch sử
gây nhiều thiệt hại đến người và của cải của người dân. Để tránh tình trạng
người dân phải di dời “chạy lũ” mỗi khi nước lũ tràn về, huyện Hồng Ngự đã
triển khai chương trình “Cụm tuyến dân cư vượt lũ”. Đây là chương trình lớn
của Chính Phủ nhằm giải quyết chỗ ở cho người dân vùng lũ có cuộc sống ổn
định, an toàn; từng bước tiến tới phát triển bền vững trong điều kiện ngập lũ (Ủy
ban nhân dân huyện Hồng Ngự, 2011).
V. CƠ SỞ LÝ LUẬN
5.1. Khái niệm lũ
Lũ là hiện tượng nước sông dâng cao trong một khoảng thời gian nhất
định, sau đó giảm dần (Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương,
2012).
5.2. Lũ được phân cấp theo độ lớn của đỉnh lũ
Căn cứ vào độ lớn đỉnh lũ trung bình nhiều năm, có thể chia ra các cấp lũ
như sau:
- Lũ nhỏ: là lũ có mực nước đỉnh lũ thấp hơn đỉnh lũ trung bình nhiều
năm;
- Lũ vừa: là lũ có mực nước đỉnh lũ đạt mức đỉnh lũ trung bình nhiều
năm;
- Lũ lớn: là lũ có mực nước đỉnh lũ cao hơn mức đỉnh lũ trung bình nhiều
năm;
- Lũ đặc biệt lớn: là lũ có đỉnh cao hiếm thấy trong các thời kỳ quan trắc;
8
- Lũ lịch sử: là lũ có đỉnh cao nhất trong các thời kỳ quan trắc và điều tra
khảo sát (Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, 2012).
5.3. Khái niệm điểm dân cư nông thôn
Là nơi cư trú tập trung của nhiều hộ gia đình gắn kết với nhau trong sản
ngập sâu đồng bằng sông Cửu Long năm 2002;
9
Quyết định số 105/2002/QĐ-TTg ngày 02/08/2002 của Thủ tướng Chính
phủ, về chính sách cho các hộ dân vùng ngập lũ mua trả chậm nền nhà và nhà ở
trong các cụm, tuyến dân cư ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long;
Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 15/11/2001 của Tỉnh ủy Đồng Tháp, về việc
thực hiện chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư giai đọan 2002-2005;
Quyết định số 63/2001/QĐ-UB ngày 14/12/2001 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Đồng Tháp, về việc ban hành quy định trình tự thủ tục thực hiện các dự án
cụm, tuyến dân cư;
Quyết định số 16/QĐ-UB.TL ngày 22/02/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Đồng Tháp, về việc thành lập Ban chỉ đạo Chương trình cụm, tuyến dân cư và
nhà ở vùng ngập lũ, sạt lở trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai đọan 2002-2005.
Chỉ thị số 11/2002/CT-UB ngày 13/11/2002 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Đồng Tháp, về việc tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình cụm,
tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ, sạt lở trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp;
Quyết định số 22/2006/QĐ-UBND ngày 06/04/2006 của Ủy ban nhân dân
tỉnh Đồng Tháp, về việc ban hành “Quy chế quản lý và phát triển bền vững
trong cụm, tuyến dân cư trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp”.
6.2 Thực trạng
Theo Ủy ban nhân dân huyện Hồng Ngự (2011):
Huyện Hồng Ngự đã triển khai xây dựng 32 cụm, tuyến dân cư với tổng
diện tích quy hoạch: 261,708 ha, tổng diện tích quy hoạch phân lô: 208,886 ha,
tổng số nền quy hoạch: 11085 nền. Kết thúc giai đoạn 1, Huyện đã đưa vào hoạt
động 29 cụm, tuyến dân cư; còn 3 cụm, tuyến dân cư đang trong quá trình xây
dựng cơ sở hạ tầng và vận động người dân vào ở. Các cụm, tuyến dân cư được
phân bố rộng khắp 11 xã của huyện với mật độ phân bố tuỳ thuộc vào diện tích
và dân số mỗi xã.
6.2.1 Chất lượng nhà ở:
10
ngành Trung ương và nhất là sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Xây dựng.
- Sự tập trung chỉ đạo thống nhất với quyết tâm cao trong cấp ủy và
UBND các cấp từ tỉnh đến huyện, thị xã, thành phố, có sự phối hợp chặt chẽ
giữa các ngành các cấp kịp thời tháo gỡ các khó khăn vướng mắc, đồng thời
nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể trong quá trình thực hiện.
- Có sự quan tâm, theo dõi thường xuyên của Hội đồng nhân dân và sự chỉ
đạo kịp thời của Tỉnh ủy và Uỷ ban nhân dân Tỉnh; các địa phương từ cấp huyện
đến cấp xã đã có quyết tâm cao hoàn thành Chương trình, nhất là được sự đồng
11
tình ủng hộ của nhân dân.
- Tỉnh đã thành lập Ban Chỉ đạo Chương trình cấp Tỉnh theo dõi xuyên
suốt quá trình thực hiện; ở huyện, thị cũng thành lập Ban Chỉ đạo cấp huyện.
- Chương trình thể hiện được ý chí và nguyện vọng của nhân dân, đáp ứng
được yêu cầu bức xúc của người dân vùng lũ, được nhân dân đồng tình ủng hộ
và hưởng ứng tích cực.
7.2. Khó khăn
Theo Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp (2008):
- Các cụm, tuyến dân cư mới hoàn thành cần có thời gian cho đất nền ổn
định mới triển khai xây dựng công trình và bố trí dân, nhất là những cụm san lấp
bằng xáng thổi đất.
- Thời gian gấp rút, công tác phân lô, công bố giá nhà cho dân chậm. Một
số cụm tuyến do khối lượng san lấp lớn, kinh phí bồi thường cao làm đội giá
thành so với mức Chính phủ cho vay, phải điều chỉnh lại quy hoạch, điều chỉnh
diện tích phân lô nền gây chậm trễ; trong công tác quy hoạch ban đầu do gấp rút
nên có khiếm khuyết trong lựa chọn vị trí.
- Việc thiếu vốn đầu tư hạ tầng và các công trình hạ tầng chưa đồng bộ
cũng là nguyên nhân làm người dân có tâm lý chờ đợi.
- Ngoài ra, vào thời điểm ban đầu của Chương trình, do tâm lý quen sống
tự do của người dân, ngán ngại vào cụm tuyến, xa nơi sản xuất. Trong khi đó, có
vài địa phương, nhất là ở cấp xã, chưa thực hiện tốt công tác vận động, giải
cơ sở giải quyết được nhiều việc làm
IX. KẾT LUẬN
Chương trình cụm tuyến dân cư vượt lũ đã giúp cho hàng ngàn người dân
tỉnh Đồng Tháp nói chung và huyện Hồng Ngự nói riêng có cuộc sống ổn định
và an sinh mùa lũ. Tại các nơi đã cơ bản hoàn thành chương trình này, các cụm
tuyến dân cư đã thu hút đông đảo người dân vào ở ổn định cuộc sống do không
phải di dời “chạy lũ” hàng năm như trước đây, họ yên tâm sản xuất nâng cao thu
nhập cho gia đình.
Mặt khác, cụm tuyến dân cư đã làm thay đổi bộ mặt của làng quê nông
thôn, các cơ sở hạ tầng từng bước được xây dựng và đưa vào hoạt động như:
điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế, trạm cấp nước Chính quyền địa
phương rất quan tâm đến công tác đảm bảo vệ sinh môi trường và quản lý cụm
tuyến sau đầu tư. Hầu hết các địa phương đã xây dựng và ban hành quy chế
quản lý để đảm bảo an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường. Rất nhiều cụm tuyến đã
trồng cây xanh lấy bóng mát, tạo cảnh quan.
Từ các cụm tuyến dân cư vượt lũ tại Đồng Tháp đã thể hiện sự sáng tạo,
thích nghi của cư dân vùng lũ; kết hợp với những quyết sách đúng đắn về ổn
định và phát triển dân sinh đã tạo nên sức sống cho chủ trương sống chung với
lũ của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
13
Các cụm, tuyến dân cư là tiền đề cho công nghiệp hoá, hiện tại hoá nông
thôn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển theo hướng bền vững.
Thông qua mô hình ở tập trung sẽ cải thiện dần về môi trường sống, về vật chất
và tinh thần cho người dân, giải quyết tồn tại về môi trường và vệ sinh nông
thôn, xây dựng xã hội văn minh, hiện đại, cơ sở hạ tầng kỹ thuật thông suốt cả
trong mùa lũ./.
Tài liệu tham khảo
Bộ xây dựng, 2008. Báo cáo tổng kết thực hiện giai đoạn 1 và kế hoạch triển
khai giai đoạn 2 chương trình xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng
ngập lũ đồng bằng sông Cửu Long.
thủy văn, Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương, truy cập ngày
02/11/2012, website: http://www.nchmf.gov.vn
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2008. Báo cáo về tình hình bố trí dân cư vào
cụm, tuyến dân cư vượt lũ tỉnh Đồng Tháp, số 353/UBND-XDCB.
Ủy ban nhân dân huyện Hồng Ngự, 2011. Báo cáo về kết quả kiểm tra, rà soát
15
việc cho vay vốn và bố trí hộ dân vào cụm, tuyến dân cư trên điạ bàn huyện
Hồng Ngự, số 254/BC-UBND.
Ủy ban nhân dân huyện Hồng Ngự, 2011. Báo cáo thuyết minh Quy hoạch sử
dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011 – 2015 huyện
Hồng Ngự.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2011. Kế hoạch xây dựng các cụm tuyến dân
cư vượt lũ trên địa bàn huyện Hồng Ngự, số 78 /KH-UBND.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Tháp, 2011. Báo cáo về tình hình và kết quả thực
hiện chương trình Xây dựng cụm tuyến dân cư vượt lũ trên địa bàn tỉnh
Đồng Tháp, số 173/BC-UBND.
16