TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA MÔI TRƯỜNG & TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN TÀI NGUYÊN ĐẤT ĐAI
-oOo-
O
TIỂU LUẬN
QUẢN LÝ ĐÔ THỊ VÀ KHU DÂN CƯ NÔNG THÔN
ĐỀ TÀI: QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ CÓ SỰ THAM GIA
CỦA CỘNG ĐỒNG
CÁN BỘ HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN THỰC HIỆN:
TS. LÊ NGỌC THẠCH NHÓM 3
1
Cần Thơ -
2012
DANH SÁCH NHÓM
1 .Hà Vũ Đức M000540
2. Nguyễn Như Ngọc M000554
3. Lê Thị Nương M000559
4. Mã Phụng M000561
5. Nguyễn Nhựt Sáng M000564 Nhóm trưởng
6. Lê Thị Thanh Tâm M000566
7. Đặng Thị Thoa M000570
8. Nguyễn Thị Cẩm Tú M000574
9. Lê Văn Vũ M000576
2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
I. CÁC KHÁI NIỆM CHUNG 2
1.1 Khái niệm đô thị 2
1.2 Khái niệm cộng đồng 2
1.1 Khái niệm đô thị
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông
nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên
ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền
lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, trong
huyện(Nguyễn Đình Hương và Nguyễn Hữu Đoàn, 2003).
Theo Nguyễn Ngọc Châu (2001), đô thị là nơi dân cư tập trung đông đúc, chủ yếu
bằng lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách và lối sống
thành thị. Lối sống này mang những đặc trưng như: nhu cầu về tinh thần cao, có khả
năng tiếp thu nhanh chóng nền văn minh của nhân loại, có hệ thống cơ sở kết cấu hạ
tầng kinh tế - xã hội đầy đủ và rất thuận tiện.
1.2 Khái niệm cộng đồng
Cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt
chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu sự ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi
ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành
viên(Trương Văn Tuyển, 2007).
Theo Tô Duy Hợp và ctv (2000), Cộng đồng là một khái niệm cơ bản của các khoa
học xã hội và nhân văn, với nhiều tuyến nghĩa khác nhau. Có hai cách hiểu về cộng
đồng: một là cộng đồng tính và hai là cộng đồng thể. Cộng đồng tính là thuộc tính
hay là quan hệ xã hội có những đặc trưng như tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng
đồng, ý thức cộng đồng… Cộng đồng thể tức là những nhóm người, nhóm xã hội có
tính cộng đồng với rất nhiều thể có quy mô khác nhau, đó là các thể nhỏ, thể vừa,
thể lớn và thể cực lớn, kể từ gia đình đến quốc gia và nhân loại.
1.3 Khái niệm về sự tham gia của cộng đồng
Trong xã hội hiện đại, tầm ảnh hưởng của nhà nước trong xã hội đã được mở rộng
một cách to lớn. Nhà nước ngày nay là người cung cấp chính yếu các dịch vụ phát
triển xã hội. Với tư cách là cơ quan hoạch định chính sách, Nhà nước xác định một
cách rộng rãi chương trình phát triển xã hội sẽ được điều khiển như thế nào. Nhà
nước cũng có quyền lực hình thành và xác định bản chất của các hoạt động tham gia
cộng đồng. Nhà nước là người hợp tác, một lực lượng quan trọng trong phát triển
hiện các chức năng quan trọng.
Một quan điểm khác thì quản lý đô thị là một khoa học tổng hợp được xây dựng
trên cơ sở của nhiều khoa học chuyên ngành, bao gồm hệ thống các chính sách, cơ
chế, biện pháp và phương tiện được chính quyền Nhà nước các cấp sử dụng để tạo
điều kiện và kiểm soát quá trình tăng trưởng, phát triển đô thị, nhằm thực hiện một
cách có hiệu quả các mục tiêu dự kiến (Nguyễn Thế Bá, 2004).
Nói tóm lại mục tiêu chung của quản lý đô thị là nâng cao hiệu quả và tính hợp lý
trong quá trình sử dụng các nguồn lực của đô thị (con người, kỹ thuật, vật liệu,
thông tin, dịch vụ cơ sở hạ tầng và hệ thống kinh tế của sản xuất). Cụ thể là:
− Nâng cao chất lượng và sự hoạt động một cách tổng thể của đô thị;
− Đảm bảo sự phát triển và tái tạo bền vững của các khu vực đô thị;
− Cung cấp các dịch vụ đô thị và cơ sở hạ tầng cơ bản để đáp ứng các nhu cầu
chức năng của đô thị và các cư dân sống và làm việc trong đô thị đó, nhằm cải thiện
chất lượng sống khỏe của cư dân đô thị.
Như vậy quản lý đô thị là quản lý về điều kiện sống và phát triển của dân cư đô thị.
3
Điều này liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ cộng đồng dân cư đô thị.
Nghĩa vụ là phải thực hiện theo đúng cơ chế và chính sách của chủ thể quản lý đô
thị. Quyền lợi của họ là được hưởng cuộc sống chất lượng tốt đẹp hơn.
1.5 Các lĩnh vực của quản lý đô thị
Theo Nguyễn Đình Hương và Nguyễn Hữu Đoàn (2003), trong công tác quản lý đô
thị có rất nhiều vấn đề cần giải quyết nhưng người ta thường nghiên cứu quản lý
theo các lĩnh vực hoạt động đô thị:
− Quản lý đất đai đô thị: quản lý thông tin đất đai; sở hữu đất đai; đăng ký đất đai;
chính sách phát triển đất đai; quy hoạch không gian đô thị; luật sử dụng đất đai; các
hoạt động mang tính tổ chức và pháp lý của phát triển đất đai; phân tích thị trường
nhà đất.
−Quản lý kinh tế đô thị: hoạt động kinh tế là cơ sở đời sống của đô thị, là nguồn
gốc của mọi vấn đề đô thị. Kinh tế phát triển, xã hội văn minh, khả năng cạnh tranh
cao của đô thị là mục tiêu chung của các đô thị. Quản lý kinh tế đô thị là công tác
đồng. Tuy nhiên, quản lý đô thị vẫn thể hiện bản chất và vai trò chủ đạo của Nhà
nước đối với khu vực lãnh thổ đặc biệt quan trọng là đô thị (Nguyễn Ngọc Châu,
2001).
Để công tác quản lý đô thị ngày được nâng cao hiệu quả, xây dựng một đô thị văn
minh hiện đại cũng như mang đậm tính nhân văn, bên cạnh tính chuyên nghiệp, đòi
hỏi người làm công tác quản lý cần phải có cái tâm. Về lâu dài, cần đẩy mạnh công
tác nghiên cứu xây dựng khoa học tâm lý quản lý, nghiên cứu tâm lý thị dân, nghiên
cứu tâm lý cán bộ quản lý, thu hút quần chúng tham gia quản lý đô thị và xây dựng
cơ chế, lắng nghe trong dư luận quần chúng để biết tâm tư nguyện vọng của họ. Bên
cạnh đó, cần đào tạo tâm lý quản lý cho cán bộ quản lý đô thị các cấp, nhất là cán
bộ trẻ, kế cận, từ đó tạo nên văn hóa quản lý đô thị theo chiều sâu (Nguyễn Ngọc
Châu, 2001).
Theo trung tâm nghiên cứu đô thị và phát triển (2012), bên cạnh những thành
tựu đạt được, thực tế phát triển đô thị ở Việt Nam vẫn còn một số vấn đề tồn tại làm
ảnh hưởng xấu đến sự phát triển các đô thị nói riêng, kinh tế - xã hội nói chung.
Nguyên nhân chủ yếu là do bộ máy quản lý đô thị còn nhiều hạn chế, hoạt động
kém hiệu quả. Hiện, số cán bộ quản lý đô thị không có chuyên môn khá lớn. Hầu
hết được thuyên chuyển hoặc tuyển dụng từ cán bộ chuyên môn kỹ thuật và không
được trang bị kỹ năng quản lý nói chung và kỹ năng trong quản lý đô thị nói riêng,
đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý đô thị cấp phường, thị trấn, thị xã.
2.2 Vai trò cộng đồng dân cư đô thị trong quá trình phát triển đô thị
Theo Trần Hùng (2010), nước ta đang trong thời kỳ hiện đại hoá và công nghiệp
hoá nhanh chóng. Các đô thị trong cả nước đang phát triển với tốc độ cao và cùng
với việc chuyển đổi nền kinh tế từ bao cấp sang cơ chế thị trường có sự đổi mới
mạnh mẽ trong lĩnh vực quy hoạch và quản lý đô thị. Trong sự đổi mới này, sự
tham gia của cộng đồng trong quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị là vấn đề khá
mới mẻ nhưng rất cần được triển khai nghiên cứu và vận dụng trong điều kiện cụ
thể của nước ta. Sự tham gia của cộng đồng vào quá trình phát triển đô thị có thể
diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Vai trò của cộng đồng được thể
hiện xuyên suốt trong toàn bộ quá trình quy hoạch, xây dựng và quản lý đô thị, bao
suy nghĩ, thái độ, hành vi về môi trường giữa các nhóm người khác nhau trong xã
hội, giữa người này với người khác và ngay cả trong bản thân một con người. Để
quản lý môi trường có hiệu quả, trước hết cần dựa vào các cộng đồng. Các mục
tiêu kinh tế, xã hội và môi trường phải là thể thống nhất, hài hoà và có sự tham
gia của tất cả các cá nhân cũng như các tổ chức trong việc chăm sóc môi trường ở
cơ sở để đáp ứng nhu cầu của cuộc sống. Bảo vệ môi trường ở cơ sở xã, phường,
thị trấn là một vấn đề còn mới mẻ, nhưng rất bức bách và gắn liền với lợi ích của
cộng đồng. Sự tham gia của cộng đồng vào bảo vệ môi trường là một trong những
giải pháp quan trọng của công tác quản lý, bảo vệ môi trường ở địa phương, vì
qua các cấp quản lý hành chính (từ Trung ương đến cơ sở) thì càng xuống cấp
thấp hơn vai trò của người dân càng trở nên quan trọng. Sự tham gia của cộng
đồng vào bảo vệ môi trường không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ cho sự nghiệp
6
bảo vệ môi trường, mà còn là lực lượng giám sát môi trường nhanh và hiệu quả,
giúp cho các cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời sự ô nhiễm môi
trường ngay từ khi mới xuất hiện. Tóm lại vai trò của cộng đồng trong quá trình
giám sát và cưỡng chế tuân thủ Luật bảo vệ môi trường gồm: ngăn ngừa các hành
vi vi phạm, phát hiện sự cố môi trường và các vi phạm, đấu tranh với các hành vi
vi phạm (Sở Tài nguyên và môi trường Bến Tre, 2009).
− Lĩnh vực xã hội: Mỗi người đều có những khả năng, năng lực sống. Chúng được
hình thành, củng cố, phát triển do tác động của nhiều yếu tố: những tiềm năng
vốn có như tài sản, trình độ, các quan hệ xã hội; các đặc trưng cá nhân như sức
khoẻ, giới tính; những cơ hội về mặt xã hội. Các khả năng, năng lực hạn chế hoặc
bị phá vỡ gây khó khăn cho việc cải thiện cuộc sống và tái đầu tư để củng cố, phát
triển năng lực cá nhân, gia đình, cộng đồng. Chất lượng nguồn nhân lực thấp lại
cản trở sự phát triển bền vững của xã hội. Vậy, để phát triển xã hội bền vững,
trước hết cần phát triển con người một cách bền vững, hay làm tăng năng lực và
phạm vi lựa chọn của con người để họ có một cuộc sống đầy đủ và hạnh phúc
(Phạm Thị Oanh, 2011). Để phát triển con người một cách bền vững theo
Nguyễn Hữu Nhân (2004), cần tiến hành theo nguyên tắc:
trò rất quan trọng trong việc bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của các di sản.
Nếu Nhà nước quản lý di sản tốt, mà nhân dân không phát huy hết vai trò của
mình thì việc bảo vệ giá trị di sản sẽ đạt hiệu quả không cao. Như vậy vai trò của
cộng đồng chỉ có thể phát huy tối ưu nếu cộng đồng tạo dựng và duy trì được sự
đồng thuận cao nhất (Phạm Thị Oanh, 2011).
− Lĩnh vực kinh tế: Theo Lương Tiến Dũng (2008), đất nước ta đang trên đà phát
triển với tốc độ cao của sự chuyển đổi kinh tế. Sự gia tăng mạnh mẽ của đô thị
hoá và sự phát triển lan tràn của đô thị đã và đang là mối quan tâm lớn của các cơ
quan chức năng khi đồ án quy hoạch xây dựng chưa đáp ứng phù hợp, kịp thời.
Góp phần vào công cuộc phát triển kinh tế thì hơn ai hết cộng đồng có vị trí rất
quan trọng:
+ Người dân có quyền tham gia vào việc ra quyết định vì kết quả của các quyết
định trong cộng đồng sẽ ảnh hưởng đến cuộc sống của họ.
+ Sự tham gia của cộng đồng làm tăng sức mạnh người dân bởi vì khi làm việc
cùng nhau sẽ tăng tính tự tin và khả năng để giải quyết các vấn đề khó khăn
trong cộng đồng.
+ Sự tham gia của cộng đồng đảm bảo thu được những kết quả của dự án tốt hơn
vì chính người dân biết rõ nhất là họ cần gì, những khả năng của họ và có thể
dùng các nguồn lực riêng cho các hoạt động của cộng đồng.
+ Sự tham gia của cộng đồng trong công tác quy hoạch là chức năng cao nhất, thể
hiện cam kết của người dân và tăng tính hiệu quả của dự án như:
+ Sự tham gia của nhiều người được hưởng lợi giúp đảm bảo cho dự án sẽ đạt
được các mục tiêu của nó.
+ Tăng tính hiệu quả của dự án thông qua việc trao đổi ý kiến với những người
được hưởng lợi trong suốt quá trình lập kế hoạch cũng như sự tham gia của họ
trong công tác quản lý, thực hiện và điều hành dự án.
+ Ðảm bảo cho những người tham gia chủ động dành hết tâm trí vào việc quy
hoạch và thực hiện dự án.
+ Cộng đồng là nơi cung cấp thông tin
+ Đóng góp và quá trình quản lý và phát triển đô thị bằng nguồn lực: nhân lực,
Theo Đỗ Hậu (2001), sự tham gia của cộng đồng trong công tác quy hoạch mang lại
nhiều lợi ích, song mang lại nhiều khó khăn để thực hiện nó. Theo kinh nghiệm của
Korten về quá trình tham gia của cộng đồng ở Châu Á và một số nơi khác, thì có ba
trở ngại đối với quá trình tham gia đó là:
− Những trở ngại trong cơ quan:
+ Cơ cấu tập trung của các cơ quan trước đây hoạt động đối lập với những mối
quan hệ của các cộng đồng ở tuyến thấp nhất. Đó là sự tách biệt giữa những
người ra quyết định với các quá trình thực hiện. Trong nhiều trường hợp xu
hướng này có thể nghiêm trọng hơn là thái độ của các nhà chuyên môn đối với
cộng đồng dân cư. Điều này được thể hiện ở suy nghĩ cho rằng “kiến thức chỉ
nằm trong các cơ quan chuyên môn”. Các nhà chuyên môn hoặc các nhà quy
hoạch thường cho rằng cộng đồng dân cư khó có thể tham gia vào đồ án quy
hoạch. Vì vậy sẽ dẫn đến sự cản trở giao tiếp giữa cơ quan chuyên môn và cộng
9
đồng. những điều này đã làm giảm khả năng thông tin hai chiều giữa nhà
chuyên môn với những người dân, làm hạn chế kết quả các mục tiêu của đồ án
và làm giảm tính khả thi của đồ án.
+ Sự thay đổi thường xuyên về nhân lực cũng làm cản trở hoặc hạn chế sự tham
gia của cộng đồng. Những cán bộ mới được đề bạt hoặc nhận chức thường cần
có thời gian để hiểu biết sâu sắc về các điều kiện ở địa phương. Điều này, có thể
làm giảm đi hoặc làm chậm lại khả năng học hỏi “kiến thức địa phương” của
một số cơ quan chuyên môn và cản trở mối quan hệ cá nhân giữa cán bộ lãnh
đạo mới với những người lãnh đạo cộng đồng.
− Những trở ngại trong cộng đồng
+ Một trở ngại lớn thường xảy ra trong cộng đồng chính là sự yếu kém về tổ
chức, thiếu kỹ năng về tổ chức trong cộng đồng.
+ Ở một số cộng đồng, chũ nghĩa bè phái xuất hiện do sức mạnh của các cá nhân
có quyền lực. vì vậy, việc hiểu cơ cấu lãnh đạo “gồm cả chính thức và không
chính thức” trong cộng đồng và tránh những căng thẳng có thể xảy ra do áp
dụng các phương thức tham gia là rất quan trọng. Mặt khác, người ta có thể
số quyết định chưa phù hợp quá trình phát triển đô thị. (Phạm Trọng Mạnh, 2005)
Do pháp luật còn thiếu và chưa đồng bộ cho nên việc quản lý đô thị được tiến hành
theo những văn bản đơn hành. Để quản lý đô thị, mỗi địa phương lại ban hành bổ
sung những văn bản pháp quy và đề ra những quy dịnh quản lý của địa phương
mình; những văn bản này đôi khi chưa phù hợp với quy định chung nên thiếu sự
thống nhất trên toàn quốc. Bộ máy quản lý hành chính chưa xây dựng hoàn chỉnh
một quy chế quản lý công chức nhà nước đảm bảo tính pháp lý và khoa học. Đây là
một yếu điểm cần phải tập trung khắc phục (Phạm Trọng Mạnh, 2005).
Quản lý đô thị nước ta có hiện tượng bị chia cát từng mảnh, vừa bị giới hạn theo địa
giới hành chính và thường tập trung quản lý theo ngành.các ngành lại thiếu sự phối
hợp mang tính tổng thể để quản lý đô thị có hiệu quả hơn mà chủ yếu ngành nào lo
cho ngành đó dẫn đến nhiều sựu chồng chéo cũng như đùn đẩy trách nhiệm (Phạm
Trọng Mạnh, 2005).
Cơ cấu của hệ thống quản lý còn chưa hợp lý và phân công trách nhiệm cho các
cấp, các ngành chưa rõ ràng. Một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình
trạng trên là do các nhà quản lý còn thiếu kiến thức cơ bản và thếu kinh nghiệm về
quản lý đô thị. Đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đô thị lại thiếu kiến thức đô thị,
chưa được đào tạo và đào tạo lại môt cách hệ thống. Họ làm việc theo kinh nghiệm
chủ quan, khả năng tiếp thu những yêu cầu mới của xã hội còn hạn chế (Phạm
Trọng Mạnh, 2005).
Trong những năm qua Nhà nước còn thiếu sự quan tâm chỉ đạo một cách có hệ
thống các vấn đề quản lý đô thị. Các địa phương tùy tiện đưa ra các quy định quản
lý, từ đó gây ra nhiều tiêu cực, ách tắc tong việc cung cấp các dịch vụ công cộng ở
đô thị như điện, nước, vệ sinh môi trường. (Phạm Trọng Mạnh, 2005)
Nhìn chung, quản lý đô thị ở nước ta hiện nay còn mộtn số tồn tại như: nhận thức
về quản lý đô thị chưa được đổi mới, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển đô thị;
tình trạng phát triển đô thị lộn xộn, không theo quy hoạch còn khá phổ biến chất
lượng quy hoạch chi tiết còn yếu; kiến trúc đô thị phát triển chưa theo định hướng;
nhiều di sản kiến trúc, văn hóa đang bị vi phạm và biến dạng; thiếu cơ chế tạo
nguồn lực từ cộng động vào việc xây dựng đo thị; các thủ tục capas giấy phép xây
Nguyễn Thị Kim Nhã, 2007, Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế ở thành phố Hà
Nội. Tạp chí Thương mại, 34.
Phạm Thị Oanh, 2011, Vai trò của con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội theo
hướng bền vững. Trường Chính trị Tô Hiệu Hải Phòng, truy cập ngày
28/20/2012 tại website:
http://www.truongchinhtritohieuhp.gov.vn/index.php?
option=com_content&view=article&id=15736:vai-tro-cua-con-nguoi-trong-
su-phat-trien-kinh-te-xa-hoi-theo-huong-ben-vung&catid=341:s-
42011&Itemid=148).
Phạm Trọng Mạnh, 2005, Quản lý đô thị. Nxb Xây Dựng, Hà Nội.
Tạ Thị Thu Hương, 2012, Vai trò của cộng đồng trong phát triển đô thị, Báo Xây
dựng, truy cập ngày 09/10/2012 tại website:
http://www.baoxaydung.com.vn/news/vn/kien-truc-quy-hoach/vai-tro-cua-
cong-dong-trong-phat-trien-do-thi.html
Tô Duy Hợp và Lương Hồng Quang, 2000, Phát triển cộng đồng: lý thuyết và vận
dụng. Nxb Văn hóa thông tin.
Trần Hùng, 2010, Phát huy vai trò của cộng đồng trong quy hoạch đô thị và quản lý
phát triển đô thị Hà Nội. Hội thảo khoa học Quốc tế kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long Hà Nội, Viện Kiến trúc,166-169.
Trần Thị Thu Hà, 2009, Phát triển cộng đồng cho sự phát triển kinh tế-xã hội nông
thôn. Tài nguyên số, truy cập ngày 1/11/2012 tại website:
http://tainguyenso.vnu.edu.vn/xmlui/handle/123456789/3775
Trung tâm nghiên cứu đô thị và phát triển, 2012, Đào tạo cán bộ quản lý đô thị -
một yêu cầu cấp thiết. Trung tâm nghiên cứu đô thị và phát triển, truy cập
ngày 28/10/2012 tại website:
http://www.cefurds.com/index.php?
option=com_content&view=article&id=96%3Adao-tao-can-bo-quan-ly-do-
13
thi-mot-yeu-cau-buc-xuc&catid=58%3Akhoa-qldt&Itemid=182&lang=vi
Trương Văn Tuyển, 2007, Giáo trình phát triển cộng đồng. Nxb Nông nghiệp, Hà