Giải thoát trong triết học Phật giáo
Giải Thoát (Moksha):
Giải là lìa khỏi sự trói buộc, được tự tại, mở những dây trói buộc của
nghiệp lầm (hoặc nghiệp).
Thoát là ra ngoài quả khổ tam giới (dục-sắc-vô sắc). Giải thoát đối với
hệ phược.
Giải thoát là Niết bàn – Thể niết bàn – vì lìa tất cả mọi trói buộc. Chẳng
hạn giải thoát khỏi ngũ uẩn.
Giải thoát cũng là thiền định, vì nhờ thiền định mà thoát ra khỏi mọi trói
buộc và trở nện tự tại.
Giải thoát là một phần của ngũ phần pháp thân.
Trong đạo Phật còn các phạm trù giải thoát hạnh, giải thoát giới, giải
thoát phục, giải thoát y
Giải thoát có hai thứ:
1. Tính tịnh giải thoát: bản tính chúng sinh vốn tịnh không hệ phược, ô
nhiễm.
2. Chướng tận giải thoát: bản tính vốn tịnh, nhưng do phiền não, mê lầm
mà không thể hiện bản tính ấy, vì thế phải đoạn tuyệt hoặc chướng ấy để được
giải thoát, tự tại.
Giải thoát có hai cảnh về sự và về lý:
1. Về sự: là giải thoát khỏi ngũ uẩn, tai nạn đang trói buộc thân – Giải
thoát khỏi 3 cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh; Giải thoát khỏi pháp luật;
2. Về lý: là giải thoái khỏi mọi mối phiền não, luyến ái từng ràng buộc
tâm – Giải thoát khỏi luân hồi để thành quả La hán, Duyên giác, Bồ tát, Phật.
Về lý lại có 2 lẽ giải thoát:
a) Tâm thiện giải thoát: Tâm, Ý giải thoát thì lìa khỏi các trói buộc
Tham, Sân, Si.
b) Huệ thiện giải thoát: Trí, Huệ giải thoát thì không bị chướng ngại, bởi
pháp nào cũng biết rõ và thông tỏ cả.
Hai lẽ giải thoát này là hai lẽ giải thoát của Bồ tát.
Trong lịch sử Phật giáo, Giải thoát Bồ tát là danh hiệu của Bồ tát Ma-ha-
Chúng sinh - theo Tiểu thừa - chìm đắm trong bể khổ sẽ đến nơi yên tĩnh
và ai cũng muốn hướng tới trạng thái Alahan (vị thánh đã đạt niết bàn). Nhưng
muốn tới trạng thái ấy, mỗi cá nhân tự phấn đấu mà đi. Đức Phật chỉ vạch ra
mục đích và hướng dẫn con đường. Các vị La Hán không quan tâm và không
thể quan tâm tới mọi người và không ai có thể giúp được, mỗi người tự tạo ra
nghiệp của mình, tự đạt tới niết bàn.
Với Đại thừa, Alahán được thay bằng Bồ Tát. Bồ Tát chứng quả niết bàn
nhưng khước từ bước vào trạng thái yên lặng ấy, các ngài lại thường quan tâm
giúp chúng sinh khác cũng đạt tới trạng thái như vậy. Theo Đại thừa, mọi
chúng sinh đều liên kết với nhau bởi có cái chung là tâm Phật. Tất cả chúng
sinh đều là Bồ Tát, là Phật vị lai. Mỗi chúng sinh đều ẩn dấu một phần của cái
chung đó: Đức Phật tuyệt đối duy nhất. Bồ Tát tuy giúp đỡ mọi người khi mình
đã được giải thoát, nhưng không làm cho họ đắc đạo được, chỉ Đức Phật mới
làm được điều đó. Nơi nào thờ Bồ Tát thì đó là Phật giáo Đại thừa.