TÀI LIỆU THAM KHẢO HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THẶNG dư VÀ sự vận DỤNG LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG dư CỦA c MÁC VÀO PHÁT TRIỂN KINH tế tư NHÂN ở nước TA HIỆN NAY - Pdf 41

1

MC LC

Trang
M U

2

I. NHNG T TNG V GI TR THNG D CA CC NH

4

KINH T CHNH TR T SN C IN ANH.

4
1. Hon cnh ra i ca kinh t chớnh tr t sn c in Anh
4
2. Nhng t tng ca cỏc nh kinh t chớnh tr t sn c in
Anh v cỏc hỡnh thc biu hin giỏ tr thng d.

12

II. Học thuyết giá trị thặng d của c. Mác

12

1. Bn cht ca giỏ tr thng d

12



MỞ ĐẦU
Đến những năm 40 của thế kỷ 19, chủ nghĩa tư bản đã giành được địa
vị thống trị. Trong xã hội hai giai cấp cơ bản đã hình thành rõ nét: giai cấp tư
sản thống trị và giai cấp vô sản làm thuê. Chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì


3

mâu thuẫn giữa hai giai cấp trên càng tăng và phong trào đấu tranh của giai
cấp vô sản càng lên cao (điển hình như cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Lyon ở
Pháp, phong trào Hiến chương ở Anh...) và đi từ tự phát đến tự giác. Thực tế
đòi hỏi phải có một lý luận cách mạng làm vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô
sản và Chủ nghĩa Marx đã ra đời.
Sự ra đời của học thuyết Mác-Lênin nói chung và Kinh tế chính trị Mác
– Lênin nói riêng là một cuộc cách mạng vĩ đại trong lịch sử phát triển của tư
tưởng nhân loại. Cuộc cách mạng đó đã thổi bùng lên cuộc đấu tranh của giai
cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới chống lại giai cấp tư
sản, xóa bỏ chủ nghĩa tư bản để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải
phóng con người xã hội và xây dựng chủ nghĩa. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã
thực sự là ngọn cờ lý luận cách mạng và khoa học, vũ khí tư tưởng sắc bén
của nhân dân lao động tiến bộ trong cuộc đấu tranh vì sự tiến bộ chung của
nhân loại.


4

Giống như mọi sự phát triển nói chung, chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời,
phát triển cũng tuân theo quy luật phủ định của phủ định với sự ra đời của cái
mới trên cơ sở cái cũ, kế thừa những nhân tố tích cực của cái cũ để khẳng


NỘI DUNG
I. NHỮNG TƯ TƯỞNG VỀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ CỦA CÁC NHÀ
KINH TẾ CHÍNH TRỊ TƯ SẢN CỔ ĐIỂN ANH.

1. Hoàn cảnh ra đời của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh
Vào cuối thế kỷ XVII, với sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản
xuất, phương thức sản xuất TBCN càng được khẳng định. Các công trường
thủ công tư bản chủ nghĩa ra đời ngày càng nhiều, cả trong công nghiệp cũng
như trong nông nghiệp. Của cải vật chất được sản xuất ra ngày càng phong
phú. Do vậy, việc giải thích của cải từ thương nghiệp của chủ nghĩa trọng


7

thương giờ đây không còn đủ sức thuyết phục nữa. Thực tiễn đó đặt ra yêu
cầu phải có quan điểm lý luận mới. Bên cạnh đó, để bảo vệ lợi ích giai cấp
đòi hỏi giai cấp tư sản phải xây dựng quan điểm kinh tế cho mình. Đây cũng
là thể hiện sự ưu việt của chủ nghĩa tư bản so với PTSX phong kiến. Trường
phái tư sản cổ điển nói chung và ở Anh nói riêng ra đời từ đó.
Người đầu tiên đưa ra khái niệm kinh tế chính trị tư sản cổ điển là
C.Mác, về sau tất cả các nhà kinh tế đều thừa nhận. Theo Mác, kinh tế chính
trị tư sản cổ điển ra đời và phát triển ở châu Âu, mà tiêu biểu là ở Anh và
Pháp. Ở Anh được bắt đầu từ W.Petty và phát triển đến đỉnh cao trong học
thuyết của A.Smith và của D.Ricacdo và được kết thúc ở Ricacdo. Ở Pháp,
kinh tế chính trị cổ điển được bắt đầu từ Boagimbe sau đó phát triển trong học
thuyết trọng nông và kết thúc ở học thuyết cña Sismondi. Các học thuyết này
có đặc điểm chung là đã nghiên cứu những mối liên hệ bên trong của quan hệ



thc biu hin ca nú l a tụ v li tc cho vay.
- V a tụ, W.Petty phõn tớch trờn c s lý lun giỏ tr - lao ng.


10

Theo Ông, địa tô là phần giá trị sau khi đã trừ đi các chi phí về tiền
lương và giống má. Địa tô là một phần của lợi nhuận nhờ độ phì nhiêu của đất
đai và vị trí canh tác của chúng. Như vậy ông đã thấy được địa tô chênh lệch
một, mặc dù chưa phân tích được địa tô tuyệt đối.
- Về lợi tức, W.Petty cho rằng, nông nghiệp là cơ sở của thu nhập tiền
tệ. Lợi tức là thu nhập do cho vay bằng tiền mà có. Nó bằng địa tô trong nông
nghiệp. Ông lý giải, lợi tức cũng như tiền cho thuê ruộng đất, nó là số tiền trả
cho việc nhịn ăn tiêu và thưởng cho sự mạo hiểm. người có tiền có thể mua
ruộng đất để cho thuê hoặc cho vay, nó đều mang lại thu nhập như nhau.
Nhưng theo ông, mua ruộng đất là tốt hơn. W.Petty còn cho rằng, mức lợi tức
phụ thuộc vào điều kiện tự phát của sản xuất nông nghiệp ông cũng phản đèi
việc nhà nước quy định mức lợi tức. Ông coi trọng quy luật tự nhiên chứ
không coi trọng ý chí của con người, thể hiện thông qua quyền lực nhà nước.


11

Như vậy, thực chất, W.Petty chưa hiểu hết bản chất của giá trị thặng dư
và quy luật giá trị thặng dư, mà ông chỉ mới phát hiện ra một số hình thức
biểu hiện của nó ở những mức độ nhất định.
Những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của W.Petty thì có nhiều,
trong đó có cả nguyên nhân từ phương pháp luận chứa đầy mâu thuẫn của
ông. Đó là, một mặt ông đứng trên phương pháp trừu tượng hoá khoa học và
lấy lý luận giá trị-lao động làm cơ sở, mặt khác ông vẫn chưa thoát khỏi ảnh

quan niệm của ông về các phạm trù: Lợi nhuận và địa tô tư bản chủ nghĩa.
* Về lợi nhuận
Lý luận lợi nhuận của ông đầy mâu thuẫn. Một mặt, ông đã thấy được
bản chất của lợi nhuận là một phần giá trị lao động do công nhân tạo ra khi
cho rằng, người công nhân tạo ra giá trị vật chất chia làm hai phần: tiền lương
của anh ta và lợi nhuận của nhà tư bản. Theo ông thì, “cái giá trị mà người
công nhân gia thêm vào cho vật liệu, giờ đây (từ khi nền sản xuất tư bản chủ
nghĩa xuất hiện) được phân giải thành hai bộ phận, trong đó một bộ phận
được đem trả công cho công nhân, còn bộ phận kia thì được dùng vào trả lợi
nhuận cho người kinh doanh…”
Như thế, A.Smith đã nắm được nguồn gốc thực sự của giá trị thặng
dư. Đồng thời ông cũng đã nhận xét một cách hoàn toàn chính xác rằng
giá trị thặng dư không đẻ ra từ những quỹ ứng trước; quỹ này dù có hữu


14

ích như thế nào chăng nữa trong quá trình lao động hiện thực, thì giá trị
của nó cũng chỉ tái hiện ra trong sản phẩm mà thôi. Giá trị thặng dư chỉ
đÒ ra từ lao động mới mà “công nhân nhập thêm vào vật liệu trong quá
trình sản xuất mới, trong đó quỹ ứng trước thể hiện với tư cách là tư liệu lao
động hay công cụ lao động”.
Mặt khác, ông lại phủ nhận bản chất bóc lột của lợi nhuận khi quan
niệm lợi nhuận được sinh ra bởi toàn bộ tư bản ứng trước. Đôi chỗ, ông còn
cho lợi nhuận là khoản bồi hoàn cho việc mạo hiểm của nhà tư bản. Ông
khẳng định: mục đích của sản xuất tư bản chủ nghĩa là lợi nhuận và nó phù
hợp với lợi ích xã hội. Ông giải thích : "Nhưng có thể người ta sẽ nói rằng, lợi
nhuận chỉ là cái tên gọi khác đi của số tiền công trả cho một số lợi lao động
đặc biệt, tức là lao động giám thị và quản lý”.
A.Smith có công khi tìm ra xu hướng bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận

không bóc lột. Điều này cho thấy, ông muốn nói về địa tô chênh lệch I mặc dù
chưa phân tích một cách chi tiết về nó. A.Smith đã sai lầm khi phủ định địa tô
tuyệt đối. Bởi theo ông, kinh doanh trên ruộng đất xấu mà phải nộp địa tô là
trái với quy luật giá trị. Nguyên nhân của sai lầm này là do A.Smith chưa thấy
được sự khác nhau giữa giá trị và giá cả sản xuất.
Như vậy, so với W.Petty thì A.Mith có nhiều tiến bộ hơn. Trước hết,
ông đã làm cho các phạm trù của quy luật giá trị thặng dư trở nên phổ biến,


17

sâu sắc hơn. Thứ hai là ông đã nhìn thấy các phạm trù đó nảy sinh trong quan
hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, chứ không đơn thuần là sự ưu đãi của tự nhiên,
tức là ông đã thấy được quan hệ bóc lột trong CNTB. Tuy nhiên, những tư
tưởng về học thuyết giá trị thặng dư cũng A.Mith cũng không tránh khỏi được
những hạn chế. Xét đến cùng, ông cũng mới chỉ biết đến các hình thức biểu
hiện của giá trị thặng dư (qua các phạm trù: địa tô, lợi nhuận…), chứ chưa
thấy được nguồn gốc, bản chất thật sự của nó. Và ông cũng chưa phân tích
được quan hệ bóc lột TBCN xuất phát từ đâu, tại sao giai cấp tư sản lại chiếm
đoạt được lao động của những người lao động làm thuê. Đây cũng là những
giới hạn chung của các học thuyết kinh tế chính trị tư sản cổ điển.
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế cơ bản trong học thuyết
kinh tế của A.Smith là do sự hạn chế về trình độ kinh tế xã hội (ông sống
trong giai đoạn đại công trường thủ công), chưa thoát khỏi được tư tưởng bảo
vệ lợi ích giai cấp, và ®Æc biệt, phương pháp luận của ông chứa đầy mâu


18

thuẫn: va s dng phng phỏp tru tng hoỏ khoa hc ng thi li sa



20

Công trình khoa học nổi tiếng nhất của D. Ricardo là cuốn sách Những
nguyên lý của kinh tế chính trị học và vấn đề thuế khóa đợc xuất bản vào
tháng 4/1817 khi ông 35 tuổi. Từ đó, năm 1815 ông đã viết cuốn sách Nghiên
cứu về ảnh hởng của giá cả thấp đối với lợi nhuận của t bản.
Ni dung t tng ca Ricardo v nhng hỡnh thc biu hin giỏ tr
thng d bao gm:
* V li nhun
Ricardo cho rng, ngi cụng nhõn to ra giỏ tr ln hn ca mỡnh. ú
l li nhun ca nh t bn. iu ú chng t ụng ó thy c s búc lt.
tuy nhiờn, ụng khụng tha nhn nú bi vỡ ụng khụng cú khỏi nim giỏ tr
thng d. ễng cho rng, li nhun l thu nhp ca t bn cụng nghip nhõn
c so vi t bn ng trc.
Ricardo cng thy c xu hng gim sỳt ca t sut li nhun.
Nhng ụng gii thớch nguyờn nhõn ca xu hng ny l do s tng lờn ca


21

tiền lương trong khi độ mầu mỡ của đất đai ngày càng giảm làm cho giá
lương thực tăng cao. Việc tăng lương, theo ông là thảm hoạ kinh tế đối với
tích luỹ tư bản và kéo theo tỷ suất lợi nhuận giảm xuống. Rõ ràng, bản thân
Ricardo chưa thấy được nguyên nhân dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm sút là do
cấu tạo hữu cơ của tư bản có xu hướng tăng. Điều này phải đến C.Mác mới
giải quyết được.
* Về địa tô
Ricardo đạt được thành công rất lớn khi phân tích địa tô. Ông giải thích

vy, ụng cng cha thoỏt khi ý thc h ca giai cp t sn.
II. Học thuyết giá trị thặng d của c. Mác

1. Bn cht ca giỏ tr thng d
Bt u t vic nghiờn cu quỏ trỡnh sn xut t bn ch ngha, Mỏc ó
i n kt lun: Giỏ tr thng d l mt b phn ca giỏ tr mi dụi ra ngoi
giỏ tr sc lao ng do cụng nhõn lm thuờ to ra v b nh t bn chim
khụng. C.Mỏc vit: bớ quyt ca s t tng thờm giỏ tr ca t bn quy li l
ch t bn chi phi c mt s lng lao ng khụng cụng nht nh ca
ngi khỏc. S d nh t bn chi phi c lao ng khụng cụng ca ngi
khỏc l vỡ nh t bn l ngi s hu cỏc t liu sn xut. ú chớnh l quỏ
trỡnh búc lt giỏ tr thng d.
2. Cỏc phng phỏp sn xut giỏ tr thng d


24

- Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Theo Mác, do năng suất lao động đã tăng lên đến một mức độ nhất định
nên người công nhân chỉ cần một phần ngày lao động đã đủ tạo ra một lượng
giá trị bằng giá trị của những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của
mình, phần còn lại sẽ tạo ra giá trị thặng dư cho nhà tư bản, vì vậy ngày lao
động được chia thành hai phần: Phần thời gian lao động tất yếu và thời gian
lao động thặng dư. Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là việc nhà tư bản kéo
dài ngày lao động vượt quá một mức nhất định trong khi thời gian lao động
cần tiết vẫn giữ nguyên, do đó thời gian lao động thặng dư sẽ tăng lên một
cách tuyệt đối.
Việc sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối sẽ gặp phải trở ngại: sự đấu
tranh của của giai cấp công nhân đòi tăng lương giảm giờ làm. Do đó nhà tư
bản phải tìm một phương pháp bóc lột hiện đại hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status