Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
1
Phần I: Tổng quan về các loại vật liệu xây dựng trong GTVT
§1. Đá xây dựng
I. Giới thiệu.
Đá xây dựng là các loại đá viên có kích thước từ 1-500mm. Đá xây dựng được
khai thác ở các mỏ khai thác đá có kích thước khoảng 500mm, được đưa các
công đoạn nghiền để giảm kích thước xuống kích thước yêu cầu, sàng phân loại
các cỡ đá khác nhau, và cuối cùng là loại bỏ tạp chất (đất, rác) để cung cấp cho
các công trình.
Trong GTVT, đá xây dựng được sử dụng rất phổ biến như thành phần chịu lực
ho
ặc cốt liệu trong các loại bê tông.
II. Tính chất và phân loại:
Đá xây dựng được phân loại theo các tính chất cơ bản sau:
1. Kích thước:
Tùy theo yêu cầu sử dụng, người ta có thể có các kích thước khác nhau:
- Đá hộc: Viên đá có kích thước cỡ khoảng 100-500mm, thường được sử dụng
để xây móng đường, kè, tường, thành chịu lực.
- Đá dăm: kích thước từ 5-100mm, được sử dụng để tạo nên thành phần cốt liệu
cho các loại bê tông, hoặc đá balát cho công trình đường sắt.
- Đá bộ
t: kích thước từ 1-5mm trở xuống, được sử dụng như chất điền đầy trong
sản xuất bê tông nhựa, các chất phụ gia, chất độn trong công nghiệp.
2. Cường độ chịu lực:
Cường độ chịu lực xác định khả năng chịu lực của vật liệu, đặc trưng bởi giới
hạn bền kéo và giới hạn bền nén. Cường độ chịu l
ực được đo bằng cách nén
(kéo) mẫu thử có kích thước quy định (Khối lập phương 50mm, được cưa cắt từ
khối vật liệu và mài nhẵn các mặt), được gia lực trên các máy nén (hoặc kéo)
ủa các máy
sản xuất vật liệu.
Bảng: Mức độ mài mòn của các loại vật liệu khác nhau
5. Nguồn gốc:
Đá tự nhiên có thể có các nguồn gốc khác nhau, quyết định tính chất lý, hóa và
khả năng chịu lực của chúng:
- Đá nham thạch: Được tạo thành từ quá trình đông đặc của nham thạch núi lửa.
Thành phần chủ yếu là các muối nóng chảy của các ôxit kim loại. Có độ cứng
rấ
t cao, khả năng chịu nhiệt, bền hóa học, màu sắc phong phú.
- Đá trầm tích: Được tạo thành từ quá trình lắng của các sinh vật lớp vỏ giáp,
dưới áp lực cao của đáy biển. Có thành phần chủ yếu là CaCO
3
. Độ cứng vừa
phải, bị phân hủy thành CaO và CO
2
khi chịu tác động của nhiệt. Bị phá hủy
trong môi trường có tính a xit.
- Đá bazan: Đất núi lửa bị phong hóa lâu ngày. Độ cứng thấp, biến đổi nhanh
theo điều kiện nhiệt độ, độ ẩm.
III. Các loại máy sử dụng trong sản xuất đá xây dựng:
- Máy nghiền: Nghiền vỡ các hạt đá có kích thước lớn ra hạt đá có kích thước
đạt yêu cầu sử dụng.
- Máy sàng: Phân loại đá theo kích thước của hạt đá.
- Dây chuyền nghiền sàng liên hợp
- Ngoài ra còn có các loại máy thi công chuyên dùng phụ trợ cho quá trình khai
thác đá mà ta không đề cập ở giáo trình này.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
thành phần tạo nên bê tông gần như nhau (đều là các khoáng chất vô cơ) nên
khối lượng thể tích của bê tông phản ánh độ đặc chắc của nó. Theo cách phân
loại này có thể chia bê tông thành 4 loại:
1. Đặc biệt nặng: m
v
> 2500 kg/m
3
, chế tạo bằng các cốt liệu đặc chắc và từ
các loại đá chứa quặng. Bê tông này ngăn được các tia X và tia γ.
2. Bê tông nặng: (còn gọi là bê tông thường) m
v
= 1800 ÷ 2500 kg/m
3
chế
tạo từ các loại đá đặc chắc và các loại đá chứa quặng. Loại bê tông này được sử
dụng phổ biến trong xây dựng cơ bản và dùng sản xuất các cấu kiện chịu lực.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
4
3. Bê tông nhẹ: m
v
= 500 ÷ 1800 kg/m
3
, gồm bê tông chế tạo từ cốt liệu
rỗng thiên nhiên, nhân tạo và bê tông tổ ong không cốt liệu, chứa một lượng lớn
lỗ rỗng kín giống dạng tổ ong.
4. Bê tông đặc biệt nhẹ: Bê tông cách nhiệt có m
v
< 500 kg/m
3
ng xâm thực của các dung dịch muối, axit, kiềm và
hơi của các chất này mà không bị phá hoại hay giảm chất lượng sử dụng.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
5
7. Bê tông chịu lửa: Chịu được tác dụng lâu dài của nhiệt độ cao trong quá
trình sử dụng.
8. Bê tông trang trí: Dùng trang trí bề mặt công trình, có màu sắc yêu cầu
và chịu được tác dụng thường xuyên của thời tiết.
9. Bê tông nặng chịu bức xạ: Dùng ở các công trình đặc biệt, hút được bức
xạ của tia γ hay bức xạ nơtrôn.
III. Hỗn hợp bê tông
3.1 Hai yêu cầu cơ bản của hỗn hợp bê tông
Các thành phần tạo nên bê tông (cốt liệu, chất kết dính, nước, các phụ gia)
được phối hợp theo một tỷ lệ hợp lý, được nhào trộn đồng đều nhưng chưa bắt
đầu quá trình ninh kết và rắn chắc được gọi là hỗn hợp bê tông.
Việc xác định tỷ lệ cấp phối và yêu cầu chất lượng của hỗn hợp bê tông
không những nhằm bảo đảm các tính năng kỹ thuật c
ủa bê tông ở những tuổi
nhất định mà còn phải thoả mãn những yêu cầu công nghệ sản xuất, liên quan
đến việc lựa chọn thiết bị tạo hình, đổ khuôn, đầm chặt và các chế độ công tác
khác.
Bất cứ loại hỗn hợp bê tông nào và việc tạo hình sản phẩm theo phương
pháp công nghệ nào, hỗn hợp bê tông cũng cần thoả mãn hai yêu cầu cơ bản
sau:
1. Tính đồng nhất của hỗ
n hợp bê tông có được khi nhào trộn phải được
duy trì trong quá trình vận chuyển, đổ khuôn và đầm chặt. Nó đảm bảo cho hỗn
hợp bê tông có sự liên kết nội bộ tốt, không bị phân tầng tách nước.
2. Tính công tác tốt (hay tính dễ đổ khuôn) phù hợp với phương pháp và
Mác bê tông về cường độ nén là giới hạn cường độ nén của những mẫu bê
tông có hình dạng và kích thước tiêu chuẩn (kích thước này có thể khác nhau với
các dạng bê tông khác nhau) đúc từ hỗn hợp bê tông theo cấp phối công tác bằng
phương pháp tiêu chuẩn và dưỡng hộ 28 ngày ở môi trường nhiệt độ và độ ẩm
tiêu chuẩn (t
o
= 27 ± 2
o
C và độ ẩm tương đối là 95 ÷ 100% theo TCVN 3105 -
1993).
Theo TCVN 3118 - 1993 mẫu tiêu chẩn để xác định mác chịu nén của bê
tông có hình lập phương, kích thước 150×150×150mm, đúc mẫu theo phương
pháp quy định ở TCVN 3105 - 1993.
IV. Bê tông cốt thép.
Bê tông là loại vật liệu ròn, cường độ chịu nén lớn, nhưng khả năng chịu
kéo thấp, chỉ bằng 1/10 đến 1/15 cường độ chịu nén. Nhưng trong rất nhiều công
trình, nhiều bộ phận làm việc ở trạng thái chịu kéo, do đó tại phần chịu kéo của
các kết cấu làm bằng bê tông sẽ bị nứt rạn, khả năng chịu lực giảm và có thể dẫn
đến phá hoạ
i hoàn toàn.
Qua rất nhiều nghiên cứu và thực tế và thực tế sử dụng người ta đã phối
hợp hai loại vật liệu bê tông và thép tạo nên bê tông cốt thép, có khả năng chịu
nén, chịu kéo đều tốt, mở rộng phạm vi sử dụng loại vật liệu này trong mọi lĩnh
vực xây dựng cơ bản
Sở dĩ có thể phối hợp được hai loại vật liệu bê tông và cố
t thép tạo nên thứ
vật liệu ưu việt “bê tông cốt thép” vì ba đặc điểm sau:
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
7
, của cốt thép là 12.10
-6
vì vậy khi bị đốt nóng chúng có độ dãn
nở tương đối đồng đều, bê tông không bị nứt vỡ, bảo đảm sự bám dính tốt.
TRỘN VÀ VẬN CHUYỂN HỖN HỢP BÊTÔNG
Để có được hỗn hợp bêtông thi công ở hiện trường theo tiến độ đã định thì công
việc chế tạo (trộn) bêtông ở trạm trộn (trạm trộn cố định hay trạm trộn di chuyển
ở hiện trườ
ng) và vận chuyển ra hiện trường thi công là một khâu rất quan trọng.
Trạm trộn và các thiết bị của trạm trộn
Trạm trộn do nhà thầu cung cấp với đầy đủ các bộ phận như: các đống đá, cát;
máy vận chuyển, thiết bị nhập và phân loại đá, cát; máy vận chuyển đưa xi măng
lên cao; phễu chứa các thành phần vật liệu; thiết bị cân đong riêng cho các loại
vật liệ
u; cấp nước và cân đong nước; phễu cấp vật liệu có van tháo vật liệu
xuống máy trộn; thiết bị cấp liệu và cân đong phụ gia; thiết bị trộn tác dụng chu
kỳ; phễu chứa để trút hỗn hợp xuống xe vận chuyển; đường ống cấp xi măng và
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
8
các xi lô chứa xi măng. Trạm trộn phải đủ mặt bằng để bố trí các máy móc và
thiết bị hoạt động, để các phương tiện vận chuyển vật liệu đi lại thuận tiện đảm
bảo sản xuất hỗn hợp bêtông được liên tục theo đúng tiến độ yêu cầu. Trong kho
chứa vật liệu, chiều cao mỗi lớp vật liệu nhỏ hơn 1m và chỉ sau khi s
ử dụng hết
lớp vật liệu trước rồi mới tiếp nhận các lớp vật liệu tiếp theo để tránh lớp trên đè
lên lớp đưới. Các kho chứa cốt liệu cần được bố trí riêng rẽ theo nguồn cung cấp
và theo loại cấp phối khác nhau.
Loại bỏ các cấp phối bị phân tầng hoặc có lẫn các vật liệu khác không đạt yêu
cầu. Các cấp phối được sản xu
số cho phép 1% (theo khối lượng). Khi dùng các phương pháp hoặc thiết bị để
tăng thêm tác nhân tạo khí hoặc các phụ gia khác thì sai số cho phép có thể tới
3% so với hỗn hợp thiết kế.
Thiết bị trộn
Khi thiết bị trộ
n bố trí tại hiện trường thi công thì trên máy phải gắn mác của
nhà sản xuất có ghi rõ tổng dung tích của trống, dung tích trộn bêtông và tốc độ
trộn thích hợp của trống hoặc của các cánh gắn ở trong trống. Giữ thiết bị trộn
luôn sạch. Khi sử dụng bêtông trộn ở nhà máy trộn cố định thì tại trạm trộn phải
có bản sao về lý lịch của máy do nhà sản xuất cung cấp với
đầy đủ các chi tiết
theo thiết kế của cánh gắn trong trống, cho thấy được kích thước của chiều cao,
chiều sâu và sự bố trí các cánh trộn.
Tiến hành thí nghiệm độ đồng đều của máy trộn theo điều 10 của AASHTO M-
157 cho từng loại hỗn hợp ở thời điểm bắt đầu của dự án và thường cứ
30.000m3 hỗn hợp bêtông lại tiến hành thử nghiệm lại n
ếu sử dụng trạm trộn cố
định.
a Trạm trộn trung tâm
Thiết bị trộn trung tâm được dùng để cung cấp hỗn hợp bêtông cho phương pháp
rải theo kiểu khuôn trượt hoặc khuôn cố định. Trạm trộn trung tâm cung cấp các
thiết bị trộn tổ hợp, cốt liệu, xi măng, nước và đưa hỗn hợp bêtông ra đều đặn.
Từng mẻ trộn đảm bảo đúng thời gian tr
ộn quy định và tự động chống rò rỉ trong
quá trình trộn và chỉ cho phép trút hỗn hợp bêtông khi thời gian trộn kết thúc.
Lắp đặt một cái chuông hay một thiết bị tự động phát ra âm thanh khi chốt cửa
phễu chứa được mở ra để trút hỗn hợp bêtông xuống xe vận chuyển. Thùng trộn
gắn một thiết bị đếm tự động để ghi lại số lượng các mẻ đã trộn.
Th
ời gian trộn tính toán là thời gian kể từ khi tất cả các vật liệu của hỗn hợp
u nước đưa vào mà tỉ lệ N/X thoả mãn yêu cầu đã định và đảm
bảo rải bêtông trong vòng 45 phút kể từ khi thêm nước vào. Loại bỏ hỗn hợp
bêtông không đảm bảo độ sụt và giới hạn tỉ lệ N/X không theo quy định.
c Xe chở hỗn hợp bêtông không có thiết bị khuấy
Xe chở hỗn hợp bêtông không có thiết bị khuấy chỉ được dùng khi bêtông trộn
sẵn ở các trạm trộn cố đị
nh và cho phương pháp thi công bằng các thiết bị khuôn
trượt. Dùng các xe không có thiết bị khuấy để vận chuyển hỗn hợp bêtông trong
các thùng nhẵn, kín có thể trút hỗn hợp bêtông từ đáy hoặc thành bên của thùng
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
11
chứa. Thiết bị kiểu này có thể bảo vệ hỗn hợp bêtông ở thời tiết nóng hay trời
mưa.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
12
§3. Bê tông nhựa nóng
I. Khái niệm về bê tông nhựa.
Bê tông nhựa nóng gồm có nhựa đường và cốt liệu được trộn nóng trong
trạm trộn rồi rải nóng. Hỗn hợp bê tông nhựa rải nóng thường được sử dụng để
làm mặt đường cao tốc, các quốc lộ, đường thành phố, đường sân bay. Tuỳ theo
từng loại mặt đường thì cấp phối sử dụng trong vật liệu sẽ thay đổi thành phần tỉ
lệ hạt cho phù hợp. Công nghệ s
ản xuất bê tông nhựa nóng với trung tâm là quá
trình trộn nóng vật liệu đã được rang nóng với nhựa nóng cộng với các loại phụ
gia cần thiết với tỉ lệ đã được định trước.
II. Thành phần vật liệu và các tiêu chuẩn kỹ thuật.
2.1 Thành phần vật liệu.
quá 2%, độ ẩm nhỏ hơn 8%. Đá phải có dạng khối, s
ắc cạnh, hàm lượng các hạt
dải, hạt dẹt phải nhỏ hơn 15%, trị số ép vỡ không lớn hơn 20% - 30%.
2.2.3. Yêu cầu đối với cát.
Cát thường dùng hỗn hợp nhựa đường có 2 loại: cát thiên nhiên và cát
nhân tạo. Cát thiên nhiên bao gồm: cát sông, cát núi, cát biển. Cỡ hạt lớn nhất
thường nhỏ hơn 2mm. Cát nhân tạo là cát thu được sau khi qua khâu nghiền
sàng đá, cỡ hạt lớn nhất thường nhỏ hơn 5mm.
Yêu cầu cát phải cứng, chắc, sạch, không phong hoá, không chứa tạp chất
và có cấp phối đúng yêu cầu.
2.2.4. Yêu cầu đối với chất phụ gia.
Bột khoáng là loại vật liệu hạt mịn rất phân tán. Bột khoáng dùng cho vật
liệu hỗn hợp đá trộn nhựa thường là bột đá vôi, bột đá đôlômit, cũng có thể dùng
ximăng, tro bay, bột clanhke hoặc các bột khoáng khác. Hàm lượng các hạt có
kích cỡ nhỏ hơn 0.0074mm trong bột khoáng phải không nhỏ hơn 30% nhưng
hàm lượng các hạt quá mịn cũng không nên quá nhiều, nếu không sẽ làm giảm
tính dễ thi công và tính ổn đị
nh đối với nước. Yêu cầu bột khoáng phải tơi, khô
(độ ẩm phải nhỏ hơn 1%)
III. Phân loại bê tông nhựa nóng.
Có 2 cách phân loại bê tông asphalt
* Phân loại bê tông asphalt theo nhiệt độ lúc rải.
* Phân loại bê tông asphalt theo kích thước hạt cốt liệu và tỉ lệ thành phần
trộn.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
14
3.1 Phân loại bê tông nhựa nóng theo nhiệt độ lúc rải
Bảng 2: Phân loại BTNN.
Loại BTN Nhiệt độ trong khi trộn Nhiệt độ khi rải
phần trộn.
Theo cách này, người ta phân ra làm các loại BTN hạn thô và BTN hạt mịn.
Trong đó, BTN hạt thô có cường độ chịu lựu lớn, khả năng chịu nước kém,
thường được sử dụng làm lớp nền, chịu lực. BTN hạt mịn có cấu trúc hạt nhỏ
hơn, khả năng chịu mài mòn tốt, chịu nước tốt, được sử dụng làm lớp bề mặt của
đường.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
15
Phần II: Dây chuyền sản xuất đá xây dựng
§I. Giới thiệu chung về hệ thống nghiền sàng
I. Máy nghiền
Nghiền đá là quá trình phá vỡ đá thành các hạt có cỡ nhỏ hơn.
1.1. Các phương pháp nghiền đá:
Hình 1: Các phương pháp nghiền cơ bản
Tùy theo tính chất của vật liệu và cỡ hạt đá người ta có nhiều cách khác nhau:
Ép vỡ: Đá bị vỡ bởi lực ép lớn hơn cường độ chịu lực của vật liệu. Lực ép được
đặt trên 2 mặt ép đủ lớn để phá vỡ vật liệu. Phương pháp này thường đòi hỏi lực
ép lớn, Vật liệu thường có xu hướng vỡ thành các mảnh dài, sắc cạnh.
Cắ
t vỡ: Đá bị phá vỡ bởi lực cắt, tạo ra giữa điểm tiếp xúc.
Uốn vỡ: Viên đá làm việc như một dầm kê trên gối đỡ và bị bẻ gãy bởi lực tập
trung ở giữa.
Miết vỡ: Do lực ma sát với 2 mặt phẳng chuyển động ngược chiều, lớp mặt
ngoài bị biến dạng và bị tách ra do ứng suất tiếp v
ượt quá giới hạn bền. Thường
được sử dụng với các loại vật liệu mềm.
Đập vỡ: Viên đá bị phá vỡ do tác dụng của lực va đập. Phương pháp này thường
được sử dụng với các loại vật liệu cứng, giòn.
đá có trong buồng nghiền, ở hành trình xả, má di động tách xa má cố định để các
viên đá được tự do, không bị chèn ép và do trọng lực, đá rơi dần xuống dưới
thấp và bị nghiền tiếp ở chu kỳ sau. Liên tục như vậy đến khi kích thước viên đá
đủ nhỏ thì rơi ra ngoài qua cửa xả.
1.3.2. Máy nghiền nón:
Máy nghiền nón sử dụng mặt nghiền dạng nón. Má động đứng yên, má tĩnh
quay quanh trục lệch tâm. Khoảng cách giữa má động và má tĩnh thay đổi liên
tục; vào bất cứ thời điểm nào cũng xảy ra sự tiến sát 2 mặt nón vào nhau tại chỗ
nào đó, tại đó vật liệu bị nghiền, còn tại vùng đối xứng qua tâm máy 2 mặt nón
cách xa nhau là vùng xả Việc nghiền và xả sản phẩm liên tục được th
ực hiện,
vùng nghiền và vùng xả đối xứng nhau, cùng thay đổi theo chiều quay của mặt
nón di động.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
17
Ngoài ra, còn có các kết cấu máy nghiền khác với các nguyên tắc nghiền đã nêu
ở trên, được chế tạo cho các mục đích khác nhau.
II. Máy sàng:
Máy sàng dùng để phân loại vật liệu thành từng nhóm có kích thước trong phạm
vi nhất định và để loại bỏ các cỡ không hợp quy cách. Trong quá trình sàng có
thể kết hợp với việc phun rửa vật liệu.
Bộ phận chủ yếu của máy sàng gồm có mặt sàng và cơ cấu dẫn động. Trên các
mặt sàng có lỗ để phân biệt loại vật liệu theo độ lớn của hạt. Để phân loại, các
hạt vậ
t liệu được đưa tới mặt sàng. Những hạt có kích thước nhỏ hơn lỗ sàng sẽ
lọt qua lỗ sàng. Những hạt đó được gọi là hạt dưới sàng và được biểu thị qua
dấu(-). Những hạt có kích thước lớn hơn lỗ sàng sẽ nằm trên mặt sàng và được
gọi là hạt trên sàng, ký hiệu bằng dấu (+). Ví dụ, nếu lỗ sàng có kích thước 20
mm thì hạt dưới sàng ký hiệu- 20 ; hạt trên sàng là +20.
nghiền) giảm công suất đỉnh
đặt trên hệ truyền động và động cơ.
Để an toàn cho động cơ và giảm xung lực, thông thường máy nghiền má sử
dụng truyền động thông qua dây cuaroa. Khi quá tải hoặc kẹt má nghiền, dây
cuaroa có thể trượt và không truyền xung lực tới động cơ.
II. Phân loại:
Căn cứ vào quỹ đạo chuyển động của tấm nghiền di động, chia máy nghiền má
thành hai loại chính:
- Máy nghiền má có chuyển động lắc đơn giản.
- Máy nghiền má có chuyển động lắc phức tạp
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
19
Hình 3: Sơ đồ động lực học máy nghiền má
a. Máy nghiền má có chuyển động lắc đơn giản
b. Máy nghiền má có chuyển động lắc phức tạp
III. Thông số kỹ thuật máy nghiền má NHHP – 5x9
- Kích thước cửa nhập liệu, mm:
Chiều rộng 500 ±20
Chiều dài 900 ±45
- Kích thước đá nghiền lớn nhất, mm: 420
- Kích thước cửa ra liệu danh nghĩa, mm 70
- Phạm vi điều chỉnh cửa ra liệu , mm 50 - 100
- Năng suất nghiền, m
3
/h 35 - 68
- Số vòng quay của trục lệch tâm, v/p 290
- Công suất động cơ điện, Kw 55
công trường khai thác vật liệu.
Về nguyên lý: mặt nghiền của máy là hai mặt côn, trong đó mặt côn động được
đặt quay tự do trên trục, trục đó lệch với tâm quay của nó một góc nhỏ. Khi trục
quay, các đường sinh của mặt nón động cứ lần lượt tiến sát vào nón tĩnh
(nghiền) rồi lạ
i xa ra (thải đá đã nghiền, lấy đá mới) và quá trình cứ thế diễn ra
liên tục.
So với các thiết bị nghiền khác, máy nghiền côn có nhiều ưu điểm: quá trình
nghiền, xả liên tục nên năng suất cao,sản phẩm đồng đều về hình dáng và kích
thước, hiệu suất cao. Tuy nhiên máy nghiền côn có cấu tạo phức tạp, đòi hỏi
phải thường xuyên chăm sóc kỹ thuật.
Máy nghiền côn có nhiều lo
ại khác nhau, phân biệt dựa trên đường kính cơ sở
của nón nghiền động, các cỡ 600, 900, 1200….
Máy nghiền côn có đường kính cơ sở của nón nghiền động là 900mm, được sử
dụng rất nhiều trong các mỏ khai thác vật liệu xây dựng, phù hợp với dây
chuyền nghiền sàng năng suất 75t/h , trong dây chuyền máy nghiền côn thường
được lắp ở vị trí nghiền thứ cấp, phía sau nghiền hàm, có nhiệm vụ nghiền tinh,
làm tròn các hạt vật li
ệu trước khi chuyển đến sàng phân loại sản phẩm.
II. SƠ ĐỒ ĐỘNG VÀ NGUYÊN LÝ LÀM VIỆC
2.1. Sơ đồ động:
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
22Hình 1 – Sơ đồ động của máy nghiền côn
cho các chi tiết máy bị lỏng. Vì vậy không nên để nghiền côn chạy không tải quá
lâu.
Khi có tải, do lực ma sát giữa vật liệu và nón nghiền lớn h
ơn các lực ma sát
khác nên nón di động quay tròn quanh đường tâm của mình theo hướng ngược
với chiều quay của ống lệch tâm.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
24
III. CẤU TẠO CƠ KHÍ CỦA MÁY NGHIỀN NÓN THUẬN
3.1. Hình vẽ tổng thể: Hình 3 – Tổng thể máy nghiền côn NCHP-900
3.2 Nguyên lý cấu tạo và vận hành máy:
Cụm trục đứng (di động) gồm có trục đứng (72) ép chặt vào nón trục đứng
(21) và nón nghiền động (27) bằng thép hợp kim măng-gan. Khoảng trống
giữa các bề mặt của nón nghiền và nón trục đứng được điền đầy bằng bê tông
xi măng để nón nghiền không bị uốn hoặc biến dạng khi nghiền vật liệu.
Giáo trình Trang bị điện trên các hệ thống sản xuất vật liệu giao thông
Nguyễn Văn Nghĩa Đại học GTVT 2008
25
Nón nghiền động được lắp chặt vào nón trục đứng bằng cơ cấu kẹp đai ốc,
phía trên đầu trục lắp cụm đĩa phân phối (63). Cụm trục đứng được đặt trên
mặt hình cầu của đế bạc đĩa (18) qua bạc đĩa đồng (84). Đầu dưới của trục
đứng đặt vào lỗ lệch tâm của ống lệch tâm (09) làm cho trục nghiêng với thân
máy một góc lệch b
ằng γ = 2°. Trong lỗ lệch tâm của ống lệch tâm có lắp bạc
đồng côn (10). Cụm ống lệch tâm đặt trên nắp đáy (05) qua các tấm căn và
thùng chứa dầu vào máy qua ống dầu lên (01), bôi trơn các bạc đồng và các bề
mặt làm việc của ống lệch tâm. Đồng thời theo lỗ khoan dầu lên bôi trơn ổ đỡ