Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Thu hút dự án đầu tư là giải pháp quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội.
Một thực tế thường gặp là khi triển khai các dự án thường thiếu quỹ đất sạch.
Hầu hết các dự án khi triển khai đều phải bắt đầu từ khâu kiểm đếm (kê), áp giá,
đền bù, giải tỏa, quan trọng là việc bố trí tái định cư… việc giải quyết chính sách
tái định cư cho những hộ dân trong vùng dự án gặp khó khăn, gây ảnh hưởng
đến đời sống, sinh hoạt của những hộ bị thu hồi đất, do đó rất dễ nảy sinh nhiều
vấn đề bức xúc, khiếu kiện phức tạp, kéo dài làm cho công tác giải phóng mặt
bằng mất nhiều thời gian. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư
luôn chịu sự tác động từ các biến động về giá vật tư, tiền tệ, công lao động,
nguyên liệu, cơ hội thị trường do đó, có không ít nhà đầu tư mất thế chủ động
hay vỡ kế hoạch dự án, vì bị ách tắc trong chờ đợi mặt bằng sạch để triển khai.
Chính vì vậy, việc tạo quỹ đất sạch đang là nhu cầu rất bức thiết để tăng tốc
triển khai các dự án xây dựng kết cấu hạ tầng, thu hút đầu tư. Để tạo được quỹ
đất sạch với quy mô lớn, đồng thời đảm bảo yêu cầu hiệu quả sử dụng đất, tránh
quy hoạch treo, dự án treo, đòi hỏi phải linh hoạt, có kế hoạch phân kỳ khai thác
sử dụng đất phù hợp.
Khai thác, phát triển quỹ đất không chỉ là giải pháp chủ động để thu hút
đầu tư, triển khai quy hoạch, thực hiện các dự án hạ tầng kỹ thuật, kinh tế - xã
hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng mà còn tạo nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà
nước.
Năm 2009, Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng
Đề án “Phát triển thị trường bất động sản; Tạo quỹ đất của Nhà nước phục vụ
các mục tiêu công ích, chính sách xã hội, điều tiết thị trường đất đai và hỗ trợ tái
định cư”. Ngày 29/10/2012, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường Nguyễn
Minh Quang đã trình Quốc hội dự án Luật đất đai sửa đổi, trong đó dự thảo luật
có quy định: “Nhà nước chủ động thu hồi đất theo kế hoạch sử dụng đất cấp
huyện đã được công bố để tạo quỹ đất “sạch”, sau đó Nhà nước giao đất, cho
thuê đất theo hình thức đấu giá hoặc không đấu giá quyền sử dụng đất”. Đây là
tạo nguồn thu từ khai thác quỹ đất.
Đánh giá thực trạng khai thác quỹ đất thu hút đầu tư để phát triển kinh tế,
xã hội, cơ sở hạ tầng, tạo nguồn thu cho ngân sách huyện, đưa huyện đạt những
tiêu chuẩn trở thành thị xã theo định hướng đã đề ra là vấn đề rất cần thiết.
Xuất phát từ những vấn đề trên và nhằm góp một phần sức mình trong
chiến lược phát triển quê hương, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
thực trạng tạo quỹ đất phục vụ thu hút đầu tư tại huyện Điện Bàn, tỉnh
Quảng Nam”.
2
1.2. Mục đích của đề tài
- Đánh giá tình hình thu hút vốn đầu tư tại huyện Điện Bàn.
- Đánh thực trạng tạo quỹ đất thu hút vốn đầu tư tại huyện thông qua quy
hoạch, cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ tái định cư, nguồn vốn tạo quỹ đất,
xúc tiến đầu tư.
- Đề xuất giải pháp tạo quỹ đất thu hút đầu tư tại huyện Điện Bàn.
1.3. Yêu cầu
- Các tài liệu, số liệu điều tra thu thập đầy đủ, chính xác và phản ánh đúng
thực tế;
- Phân tích, đánh giá khách quan thực trạng công tác bồi thường, hỗ trợ và
tái định cư để giải phóng mặt bằng triển khai dự án;
- Các đề xuất về giải pháp tạo quỹ đất thu hút đầu tư có tính khả thi đối với
đặc thù huyện Điện Bàn, các địa phương của huyện.
3
Phần 2
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Khái niệm đất đai
Luật đất đai hiện hành đã khẳng định “đất đai là tài nguyên quốc gia vô
cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của
môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công trình
nước, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý hoá tính đất …), tạo ra
những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Như
vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch. Đây là quá trình nghiên cứu, lao
động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa mục đích của từng phần lãnh thổ và đề
xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật và pháp
chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông
qua việc phân phối và tái phân phối quỹ đất, tổ chức sử dụng đất như một tư liệu
sản xuất cùng với các tư liệu sản xuất khác gắn liền với đất nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất của xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và tài nguyên môi trường.
Nguyên tắc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thực hiện theo Điều 21
Luật đất đai năm 2003.
2.1.3. Quan niệm đầu tư, thu hút vốn đầu tư và nội dung thu hút vốn đầu tư
2.1.3.1. Quan niệm về đầu tư, thu hút vốn đầu tư và xúc tiến đầu tư
Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô
hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật
đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thu hút vốn đầu tư là hoạt động nhằm khai thác, huy động các nguồn
vốn đầu tư để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư cho phát triển kinh tế. Bao gồm
tổng hợp các cơ chế, chính sách, thông qua các điều kiện về hành lang pháp
lý, kết cấu hạ tầng kỹ thuật - xã hội, các nguồn tài nguyên, môi trường… để
thu hút các nhà đầu tư đầu tư vốn, khoa học công nghệ… để sản xuất, kinh
doanh nhằm đạt được một mục tiêu nhất định.
Xúc tiến đầu tư còn gọi là đàm phán thương mại, là quá trình trao đổi hay
mặc cả và thuyết phục giữa bên mua và bên bán về các nội dung có liên quan
đến giao dịch (mua bán: như số lượng, chất lượng, giá cả sản phẩm, vốn, ngành
nghề…) nhằm đạt được sự nhất trí để thỏa thuận đầu tư hoặc ký kết hợp đồng
đồng thương mại.
2.1.3.2 Nội dung thu hút vốn đầu tư
Công tác quy hoạch: là công cụ giúp cho các nhà lãnh đạo thực hiện
một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt
được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Nếu xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên
quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc
6
tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng
các nguồn lực xác định.
Nếu xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý sử dụng
vốn, vật tư, lao động để tạo ra kết quả tài chính, kinh tế - xã hội trong một thời
gian dài.
b. Vai trò của dự án đầu tư
- Đối với chủ đầu tư:
+ Dự án đầu tư là một căn cứ quan trọng nhất để nhà đầu tư quyết định có
nên tiến hành đầu tư dự án hay không.
+ Dự án đầu tư là công cụ để tìm đối tác trong và ngoài nước liên doanh bỏ
vốn đầu tư cho dự án.
+ Dự án đầu tư là phương tiện để chủ đầu tư thuyết phục các tổ chức tài
chính tiền tệ trong và ngoài nước tài trợ hoặc cho vay vốn.
+ Dự án đầu tư là cơ sở để xây dựng kế hoạch thực hiện đầu tư, theo dõi,
đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện dự án.
+ Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để theo dõi đánh giá và có điều chỉnh
kịp thời những tồn tại, vướng mắc trong quá trình thực hiện và khai thác công
trình.
+ Dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để soạn thảo hợp đồng liên doanh
cũng như để giải quyết các mối quan hệ tranh chấp giữa các đối tác trong quá
trình thực hiện dự án.
- Đối với nhà tài trợ: dự án đầu tư là căn cứ quan trọng để các cơ quan này
xem xét tính khả thi của dự án, từ đó sẽ đưa ra quyết định có nên tài trợ cho dự
án hay không và nếu tài trợ thì tài trợ đến mức độ nào để đảm bảo rủi ro ít nhất
cho nhà tài trợ.
2.1.5.3. Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
Bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền
sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất.
Bồi thường là trả bằng tiền hoặc hiện vật để thay thế cho các thiệt hại về
đất đai, tài sản thu nhập và các tài sản khác liên quan do tác động của dự án.
Có 2 loại bồi thường là bồi thường thiệt hại về đất và bồi thường thiệt hại
về tài sản:
- Bồi thường thiệt hại về đất là biện pháp để phân bố lại tài nguyên trên
quan điểm lấy bao nhiêu bù bấy nhiêu.
8
- Bồi thường thiệt hại về tài sản gồm: nhà, các công trình, vật kiến trúc,
cây cối hoa màu, mồ mả, công trình kết cấu hạ tầng kỹ thuật gắn liền với đất đai
bị thu hồi.
2.1.5.4. Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi
đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến
địa điểm mới.
2.1.6. Khái niệm về giao đất, cho thuê đất và đấu giá quyền sử dụng đất
Nhà nước giao đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng quyết
định hành chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Nhà nước cho thuê đất là việc Nhà nước trao quyền sử dụng đất bằng hợp
đồng cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất.
Đấu giá quyền sử dụng đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền công
khai lựa chọn nhà đầu tư là các tổ chức, hộ gia đình cá nhân trong nước thuộc
mọi thành phần kinh tế có đủ điều kiện về vốn và khả năng đảm bảo yêu cầu kỹ
thuật của dự án để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất nhằm tạo
vốn đầu tư xây dựng công trình cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế xã hội.
Vai trò của đấu giá quyền sử dụng đất: đấu giá quyền sử dụng đất mang lại
nguồn thu quan trọng để bổ xung vào Ngân sách nhà nước để đầu tư cải tạo và
xây dựng cơ sở hạ tầng. Đối tượng tham gia đấu giá không bị ràng buộc về
quá trình thẩm định dự án. Mức độ chi tiết của kế hoạch phụ thuộc vào số lượng
người bị ảnh hưởng và mức độ tác động của dự án. Ngoài ra, còn phải áp dụng
các biện pháp sao cho người bị di chuyển hoà nhập được với cộng đồng mới. Để
thực hiện các biện pháp này, nguồn tài chính và vật chất cho việc di dân luôn
được chuẩn bị sẵn.
2.2.1.2. Trung Quốc
Với hình thức sở hữu nhà nước, sở hữu tập thể về đất đai, mục tiêu bao
quát của chính sách bồi thường, GPMB ở Trung Quốc là hạn chế tối đa việc thu
hồi đất cũng như số người bị ảnh hưởng bởi dự án. Trong trường hợp không thể
tránh khỏi thì sẽ được chuẩn bị thành những chương trình cụ thể để đảm bảo cho
những người bị ảnh hưởng được bồi thường và hỗ trợ đầy đủ trong đó đã tính
đến lợi ích của cả ba bên là nhà nước, tập thể, cá nhân. Tại các thành phố lớn
như Bắc Kinh, Vũ Hán, Quảng Châu và một số tỉnh nhiệm vụ quy hoạch đất đai
ở đô thị cũng như ở nông thôn được Nhà nước quan tâm và thực hiện triệt để.
Khảo sát một số thành phố lớn tại Trung Quốc như Bắc Kinh, Vũ Hán,
Quảng Châu, Nam Ninh, ngay ở trung tâm thành phố, công tác quy hoạch giao
thông, quy hoạch khu chung cư rất hợp lý và ổn định. Với kiến trúc quy hoạch
đô thị như hiện nay, Trung Quốc không phải đầu tư kinh phí bồi thường, GPMB
quá lớn khi phải dí dời dân.
10
Ở vùng nông thôn nước này, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
với nhiều lĩnh vực khác nhau, mục tiêu của các chính sách này là cung cấp cơ
hội phát triển thông qua cách tiếp cận cơ bản là tạo nơi ở ổn định, tạo nguồn sản
xuất cho người thuộc diện được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Đối với các dự
án phải bồi thường, GPMB, phương án tái định cư chi tiết được chuẩn bị trước
khi thông qua dự án cùng với việc dàn xếp kinh tế khôi phục cho từng địa
phương, từng hộ gia đình trong vùng bị thu hồi đất.
Thành công của chính phủ Trung Quốc trong việc bồi thường, GPMB là do
có hệ thống luật pháp đồng bộ, pháp luật đất đai và các chính sách đất đai đầy
đủ, phù hợp, công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất rất năng động, khoa học
nhân để sử dụng vào mục đích công cộng, phục vụ việc phát triển kinh tế - xã
hội và việc trưng thu đó gắn liền với việc nhà nước thực hiện bồi thường.
Ở mỗi bang, ngoài Luật đất đai có các văn bản luật quy định cụ thể việc
thực hiện và các đạo luật khác có liên qun nhằm bảo vệ quyền lợi của chủ sở
hữu đất để phát triển bềnh vững đất đai, khai thác tối đa hiệu quả sử dụng đất.
Về quản lý công trình công cộng, Luật quy định quyền của nhà nước được lấy
lại đất để làm đường bộ, đường sắt và các công trình công cộng cần thiết. Phạm
vi áp dụng luật này rất rộng đối với tất cả các công trình công cộng là quy tắc
chung bao quát các Luật có liên quan tới đất, ngay cả trong trường hợp thửa đất
đó thuộc sở hữu tư nhân, giấy chứng nhận sở hữu của cá nhân đó có ghi quyền
bảo lưu của Nhà nước lấy lại thửa đất do phục vụ công trình công cộng, thu hút
đầu tư để phát triển đất nước.
Ở bang Tây Ôxtrâylia, khi cần một khu đất nào đó cho các dự án, trước
tiên Nhà nước phải tìm cách mua lại thửa đất của tư nhân với giá hợp lý, công
bằng. Trường hợp mua không đạt kết quả, Nhà nước tiến hành biện pháp thông
báo rộng rãi các quy hoạch trên các phương tiện thông tin đại chúng (nhằm ngăn
chặn chủ sở hữu bán khu đất) và tiến hành thu hồi đất theo luật định. Thư kháng
nghị của các chủ sử dụng đất (nếu có) sẽ được Bộ trưởng Bộ quản lý các công
trình công cộng xem xét, kháng nghị có thể bị bác bỏ, có thể được chấp nhận
hoặc sửa đổi một phần. Sau 30 ngày hoặc trong thời hạn một năm khi có Quyết
định thu hồi đất, thửa đất đó thuộc quyền quản lý của Bộ quản lý các công trình
công cộng. Nhà nước xét bồi thường theo thư đề nghị của chủ sở hữu khu đất,
việc bồi thường dựa trên nhiều yếu tố, trong đó có các yếu tố như giá trị của
thửa đất và những công trình trên đất mô tả việc kinh doanh, chi phí đa khôi
phục lại thiệt hại gây ra cho việc tách thửa đất ra khỏi khu vực xung quanh…
các yếu tố hợp lý khác do tòa án bồi thường xem xét.
2.2.1.5. Inđônêxia
Trong những năm gần đây chính sách của Inđônêxia đang từng bước hoàn
thiện phù hợp với chính sách của các tổ chức quốc tế như WB, ADB,… Đối với
Inđônêxia di dân tái định cư, bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất vì
- Thông tư 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của bộ Tài nguyên và
môi trường về việc hướng dẫn lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch
sử dụng đất ;
- Nghị định 188/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về phương
pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
13
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền
sử dụng đất;
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
- Thông tư 16/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 Của Bộ tài chính hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP;
- Nghị định 142/2005/NĐ-CP ngày 14/11/2005 của Chính phủ về thu tiền
thuê đất, thuê mặt nước;
- Nghị định 17/2006/NĐ-CP ngày 21/01/2006 của Chính phủ về sửa đổi bổ
sung một số điều của các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đất đai;
- Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về Quy định
bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện
quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất, giải quyết khiếu nại;
- Nghị định 123/2007/NĐ-CP ngày 27/7/2007 của Chính phủ về sửa đổi bổ
sung một số điều của Nghị định 188/2004/NĐ-CP;
- Nghị định 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ về Quy định
bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư;
- Thông tư 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường Quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình tự thủ
tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất;
- Thông tư 57/2010/TT-BTC ngày 16/04/2010 của Bộ Tài chính quy định
việc lập dự toán, sử dụng và quyết toán kinh phí tổ chức thực hiện bồi thường,
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Điện Bàn
- Điều tra thực trạng đầu tư và thu hút đầu tư tại huyện Điện Bàn
- Đánh giá thực trạng tạo quỹ đất phục vụ thu hút đầu tư tại huyện Điện
Bàn
- Đề xuất các giải pháp phát triển quỹ đất phục vụ thu hút đầu tư
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập số liệu
15
Điều tra, thu thập các quy hoạch, tài liệu, văn bản, báo cáo, niên giám
thống kê, số liệu… có liên quan đến phát triển quỹ đất thu hút đầu tư trong và
ngoài nước tại huyện.
3.4.2. Phương pháp chuyên gia
Tham khảo ý kiến chuyên gia về lĩnh vực quy hoạch, GPMB xây dựng quỹ
đất thu hút đầu tư và các vấn đề đầu tư, thu hút đầu tư.
3.4.3. Phương pháp duy vật biện chứng
Nghiên cứu cụ thể tính tất yếu của quá trình đô thị hóa và GPMB đáp ứng
yêu cầu của sự phát triển.
3.4.4. Phương pháp thống kê, phân tích, xử lý và tổng hợp số liệu
- Thống kê, sắp xếp số liệu theo thời gian các năm điều tra.
- Phương pháp phân tích: phân tích về thực trạng công tác tạo quỹ đất thu
hút đầu tư dựa trên các tiêu chí về:
+ Cơ chế chính sách bồi thường hỗ trợ và tái định cư
+ Công tác tổ chức GPMB
+ Quy hoạch sử dụng đất và quản lý thực thi quy hoạch
+ Quản lý quỹ đất và xúc tiến đầu tư
- Xử lý số liệu: so sánh, phân tích tình hình quản lý sử dụng đất, sự biến
động đất đai.
Phần 4
16
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Là vùng chịu ảnh hưởng của gió mùa, gió mùa Tây Nam thổi từ tháng 4
đến tháng 7, gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 9 và gió mùa Đông
Bắc thổi từ tháng 10 đến tháng 12.
Bão thường xảy ra vào các tháng 9, 10, 11 kết hợp với các trận mưa lớn
gây lũ lụt làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
4.1.1.3. Tài nguyên thiên nhiên
a. Tài nguyên đất
Điện Bàn là một huyện đồng bằng ven biển được hình thành trên sản phẩm
bồi tích có nguồn gốc sông biển. Theo điều tra của viện Quy hoạch - Nông
nghiệp thì tổng diện tích đất tự nhiên trên địa bàn huyện là 21471 ha chia thành
các loại đất sau:
- Nhóm đất cát ven biển
- Nhóm đất phù sa
- Nhóm đất mặn
- Đất xói mòn trơ sỏi đá
Nhìn chung đất đai huyện Điện Bàn khá tốt. Nhóm đất phù sa có chất
lượng cao và độ phì nhiêu cao có thể cho năng suất cây trồng. Hiện tại nhóm đất
này được khai thác sử dụng hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp.
18
Khu vực vùng cát phía Đông ven biển là khu vực có địa hình tương đối
bằng phẳng cấu trúc địa chất bền vững thuận lợi cho việc xây dựng các công
trình, xây dựng đô thị, du lịch và công nghiệp.
b. Tài nguyên biển
Điện Bàn có bờ biển dài gần 8 km, chạy qua các xã Điện Ngọc, Điện
Dương, nằm giữa tuyến ven biển Hội An - Đà Nẵng, có vị trí rất thuận lợi để
phát triển kinh tế biển như đánh bắt, nuôi trồng và khai thác du lịch.
c. Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: hệ thống sông suối ở huyện nhiều, phân bố đều, rất thuận
lợi cho việc phân bố và sử dụng. Do vậy có đủ lượng nước tưới cho cây trồng
quanh năm, nên hầu hết lúa trong huyện thuộc dạng tưới tiêu chủ động.
Tổng số 100 100 100
Nông - Lâm - Ngư nghiệp 14,99 6,97 5,89
Công nghiệp – Xây dựng 65,50 75,24 75,82
Thương mại – Dịch vụ 18,51 17,79 18,29
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Điện Bàn từ năm 2005 – 2011)
Cơ cấu kinh tế của huyện Điện Bàn trong những năm qua có nhiều chuyển
dịch tích cực và đúng hướng, tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp - xây
dựng, giảm tỷ trọng dịch vụ, nông - lâm - ngư nghiệp. Tốc độ phát triển công
nghiệp khá nhanh tập trung chủ yếu là công nghiệp sạch. Các ngành dịch vụ như
tài chính, ngân hàng, du lịch, khách sạn phát triển nhanh chóng và ổn định từ
năm 2005 - 2011. Thêm vào đó thu nhập bình quân đầu người của huyện Điện
Bàn tăng nhanh từ 6,81 triệu đồng năm 2005 lên 20,26 triệu đồng năm 2011 cao
gấp 1,97 lần.
Chuyển dịch về thành phần kinh tế: giảm dần tỷ trọng kinh tế nhà nước và
tập thể, tăng dần tỷ trọng kinh tế tư nhân, cá thể, đồng thời xuất hiện thêm thành
phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
4.1.2.2. Thực trạng phát triển các ngành và lĩnh vực
a. Nông – Lâm – Thủy sản
Khu vực kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm quốc
nội (GDP). Giá trị sản xuất ngành nông - lâm - ngư nghiệp năm 2010 là 413,96
tỷ đồng (theo giá cố định năm 1994).
20
b. Công nghiệp
Sản xuất công nghiệp giai đoạn vừa qua có bước khôi phục và phát triển
mạnh mẽ cả về tốc độ tăng trưởng và năng lực sản xuất. Giá trị công nghiệp -
xây dựng năm 2011 đạt 5480,09 tỷ đồng, chiếm 75,82% trong cơ cấu kinh tế.
c. Dịch vụ
Hoạt động thương mại có những bước phát triển đáng kể, hàng hoá lưu
thông ngày càng thuận lợi, đáp ứng được nhu cầu phát triển đáng kể, cơ bản đáp
ứng được nhu cầu tiêu dùng của dân cư cũng như yêu cầu phát triển sản xuất của
Hạng mục Tổng
Nông
nghiệp
Công nghiệp
- xây dựng
Dịch vụ
Số lao động (người) 122004 44712 38830 30700
Tỷ lệ (%) 100 36,6 31,8 25,2
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Điện Bàn, năm 2011)
Về nguồn lao động hầu hết là lực lượng lao động nông nghiệp. Hiện nay
nguồn lao động chưa có việc làm giảm dần, tập trung chủ yếu ở ngành nông
nghiệp.
4.1.2.5. Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
a. Giao thông
Huyện Điện Bàn là đầu mối giao thông của tỉnh Quảng Nam, có nhiều
tuyến giao thông quan trọng của tỉnh, của vùng và cả nước. Huyện Điện Bàn
nằm trên trục đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam về cả đường bộ - đường
sắt - đường thủy… Nhìn chung hệ thống giao thông huyện Điện Bàn tương đối
hoàn chỉnh, khép kín trên toàn huyện và phân bố khá đày và đồng đều rất thuận
tiện, đáp ứng được nhu cầu giao lưu đi lại, sản xuất và phát triển kinh tế xã hội
theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa.
b. Bưu chính viễn thông
Hệ thống bưu chính viễn thông huyện Điện Bàn tương đối hoàn chỉnh và
ổn định. Đến nay huyện đã có 14 tổng đài điện tử, có bưu điện trung tâm huyện
ở thị trấn Vĩnh Điện và 20 bưu điện phân bố ở các xã, đáp ứng được nhu cầu
thông tin liên lạc trong nước và quốc tế.
c. Giáo dục - đào tạo
Trong những năm qua giáo dục đào tạo có bước phát triển toàn diện cả về
xây dựng mạng lưới, phổ cập giáo dục và chất lượng.
Công tác xây dựng kiên cố hoá trường học và kế hoạch xây dựng trường
1.1 Vị trí địa lý:
- Nằm giữa 2 thành phố Đà
Nẵng và Tam Kỳ, giáp Hội
An
- Có các tuyến giao thông
huyết mạch: quốc lộ 1A,
đường sắt Bắc – Nam, gần
đầu mối giao thông lớn, gần
- Thuận lợi trong việc
mở rộng giao lưu kinh
tế trong nước và quốc
tế, tiếp nhận khoa học.
- Kỹ thuật, công nghệ
mới vào sản xuất và
đời sống, đào tạo
nguồn nhân lực.
Chịu sức cạnh tranh
lớn của Đà Nẵng, Hội
An, Tam Kỳ và nhiều
khu vực lân cận.
23
sân bay, cảng biển… - Có lợi thế để phát
triển công nghiệp,
dịch vụ, thương mại
và du lịch.
1.2 Địa hình:
- Vùng ven biển 25%, đồng
bằng 73%, gò đồi 2%
- Bằng phẳng, độ chênh cao
thấp, mức độ chia cắt trung
- Vùng biển đẹp,
nhiều tài nguyên lợi
để phát triển kinh tế
biển như đánh bắt,
nuôi trồng và khai
thác du lịch.
- Nghèo khoáng sản.
- Bị khai thác quá
mức, ít được cải tạo,
đang dần bị suy thoái;
chịu ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu.
5. Tài nguyên nhân văn:
- Nhiều di tích lịch sử được
nhà nước công nhận.
- Có các làng nghề truyền
thống nổi tiếng.
Chính quyền địa
phương đã và đang
quan tâm đến việc
khai thác các kỳ tích
trong lịch sử dựng và
giữ nước cùng với
phát triển các làng
Di tích lịch sử ít được
tu dưỡng, đang bị
xuống cấp.
24
nghề truyền thống để
thu hút du khách.
dự án phát triển, đang
phát huy hiệu quả.
2.4. Nguồn lực tài chính - Các khoản thu có xu
hướng tăng dần.
- Nguồn thu từ tiền sử
dụng đất và thu từ
khai thác quỹ đất tăng
nhanh.
- Tỷ lệ huy động ngân
sách và tích lũy nội bộ
nền kinh tế còn thấp.
- Thiếu vốn đầu tư cho
phát triển kinh tế - xã
hội và tạo quỹ đất.
2.5. Cơ sở hạ tầng - Đang được đầu tư,
xây dựng thêm và mở
rộng.
- Chưa hoàn chỉnh và
đồng bộ; chưa đạt chỉ
tiêu để trở thành thị
xã.
2.6. Nguồn lao động - Trẻ, dồi dào.
- Năng động, có khả
năng tiếp thu khoa
học – kỹ thuật tiên
tiến.
- Lao động qua đào
tạo còn ít.
- Chất lượng lao động
thấp.