Hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần Thân bài khi làm bài Văn tự sự trong phân môn Tập làm văn ở lớp 6 - Pdf 15



SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

HƯỚNG DẪN HỌC SINH CÁCH PHÂN
ĐOẠN PHẦN THÂN BÀI KHI LÀM BÀI
VĂN TỰ SỰ TRONG PHÂN MÔN TẬP
LÀM VĂN Ở LỚP 6
của các em là không biết phân đoạn, cách trình bày đoạn văn như thế nào cho phù
hợp. Đó là vấn đề mà các em chưa thực sự quan tâm lắm.

Trong chương trình Ngữ văn THCS ở lớp 6 học sinh được học văn tự sự trong
cả Học kì I. Tuy học sinh đã học văn tự sự ở lớp 4 Tiểu học gần như hết một học kì
nhưng nhiều lí do các em làm loại văn này chưa tốt nhất là phần Thân bài, thường
các em chỉ viết có một đoạn văn. Không chỉ ở học sinh lớp 6 mà ngay cả học sinh
lớp 7,8,9 khi làm một bài Tập làm văn khi viết phần Thân bài các em thường chỉ viết
có một đoạn văn. Đó là điều mà tôi trăn trở trong quá trình dạy học nhất là dạy học
sinh làm một bài Tập làm văn.
Người giáo viên bao giờ cũng muốn học trò của mình làm được những bài văn
hay nhưng đó không phải là việc dễ. Bài văn hay trước hết phải là viết đúng (đúng
theo nghĩa tương đối, nghĩa là trong khuôn khổ nhà trường).Hay và đúng có quan hệ
mật thiết với nhau. Bài văn hay trước hết phải viết đúng theo yêu cầu của đề bài,
đúng những kiến thức cơ bản, hình thức trình bày đúng quy cách,…
Hình thức trình bày là sự thể hiện hình thức bố cục của bài văn trên trang giấy.
Một bài văn đúng quy cách là bài văn mà khi nhìn vào tờ giấy, chưa cần đọc đã thấy
rõ ba phần : Mở bài, Thân bài và Kết bài. Muốn thế người viết không phải chỉ chú ý
đến nội dung mà cả hình thức cũng phải rõ.
Yêu cầu là vậy nhưng trong thực tế dạy - học tôi thấy bài văn của học sinh chưa
đáp ứng được yêu cầu đó là bao. Bài làm của các em vẫn còn hiện tượng, đoạn văn
còn sai quy cách, giữa các đoạn chưa có sự liên kết.Từ thực tế giảng dạy, tôi thấy các
em chưa biết lập dàn bài, chia bố cục, dựng đoạn ( ở phần Thân bài trong các kiểu
văn bản thường chỉ có một đoạn văn ) trước khi bước vào khâu viết văn bản. Thế là

Trong cách làm đó vấn đề tích hợp có vai trò rất quan trọng. Đó cũng là yêu cầu của
dạy học Ngữ văn hiện nay.
Đó là tất cả những điều mà tôi thật sự quan tâm trước thực trạng dạy và học
phân môn Tập làm văn hiện nay.Vì thế, tôi quyết định chọn giải pháp : Kinh nghiệm
hướng dẫn học sinh cách phân đoạn phần Thân bài khi làm bài Văn tự sự trong
phân môn Tập làm văn ở lớp 6 trường THCS.
b) Ý tưởng
- Được nhà trường phân công giảng dạy lớp 6A, 6B từ đầu năm học, tôi nhận
thấy tình hình viết bài Tập làm văn của các em còn hạn chế về cách phân đoạn phần
Thân bài khi làm bài văn tự sự, nên tôi tìm cách nghiên cứu giải pháp Hướng dẫn
học sinh cách phân đoạn phần Thân bài khi làm bài Văn tự sự trong phân môn
Tập làm văn lớp 6.
- Trong phạm vi sáng kiến, tôi chỉ đề cập đến các tiết Tập làm văn ở kiểu văn
bản tự sự của sách giáo khoa Ngữ văn 6.

3. Nội dung công việc
- Tiến hành bằng các phương pháp sau:
* Phương pháp đọc tài liệu :
- Sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập 1, tập 2
- Sách giáo viên Ngữ văn 6 tập 1, tập 2
-Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn THCS
- Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Ngữ văn –
Nhà xuất bản Giáo dục


động tìm tòi khám phá.
Việc luyện viết đoạn văn tự sự là rất cần thiết, học sinh viết tốt đoạn văn tự
sự có nghĩa là học sinh đã nắm được những yêu cầu của đoạn văn.
Trong thực tế giảng dạy môn Tập làm văn lớp 6 ở trường THCS hiện nay đặt
trọng tâm ở thực hành : xây dựng bài qua thực hành, thực hành nhận biết và thực
hành làm văn bản. Do đó điểm mới và khó trong chương trình là phương pháp dạy
thực hành.
Củng cố kiến thức Tiếng Việt và Văn học góp phần bồi dưỡng tâm hồn, trí
tuệ để học sinh biết rung động trước cái hay, cái đẹp, hướng các em tới nhu cầu thẩm
mỹ, sáng tạo và biết tôn trọng những giá trị thẩm mỹ khi làm một bài văn tự sự.
Tập làm văn là một phân môn khó, đặc biệt yêu cầu về kĩ năng càng khó hơn,
đòi hỏi chúng ta phải dày công, kiên trì dạy các em. Là phân môn có tính thực hành
cao nên giáo viên cần rèn cho học sinh nắm vững lí thuyết để vận dụng vào thực
hành đạt kết quả.
- Đối với học sinh :
Để việc làm một bài Tập làm văn đạt chất lượng, bản thân học sinh cũng cần
phải :
- Tích cực suy nghĩ, chủ động tham gia vào các hoạt động học tập để tự
khám phá và lĩnh hội tri thức, rèn luyện kĩ năng, xây dựng thái độ và hành vi đúng
đắn.
- Mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến, quan điểm cá nhân ; tích cực thảo
luận, tranh luận, đặt câu hỏi cho bản thân, cho thầy, cho bạn.
- Biết tự đánh giá và đánh giá các ý kiến, quan điểm, các sản phẩm học tập
của bản thân và bạn bè.

thức có sẵn trong giáo án mà còn phải có sự sáng tạo khi lên lớp, phải giữ chuẩn mực
đúng phong cách sư phạm.
Trong phân môn Tập làm văn lớp 6 ở Học kì I tập trung vào các kiến thức văn
bản tự sự :
1. Giao tiếp, văn bản và phương thức biểu đạt
2. Tìm hiểu chung về văn tự sự
3. Sự việc và nhân vật trong văn tự sự
4. Chủ đề và dàn bài văn tự sự
5. Tìm hiểu đề và cách làm bài văn tự sự
6. Lời văn, đoạn văn tự sự
7. Thứ tự kể trong văn tự sự
8. Ngôi kể và lời kể trong văn tự sự
9. Luyện tập xây dựng bài tự sự - Kể chuyện đời thường
10. Kể chuyện tưởng tượng
- Hướng dẫn học sinh chiếm lĩnh tri thức :
Để hoàn thành những định hướng đã đặt ra, dựa trên thực tế đã làm, tôi
xin trình bày những biện pháp chính đã áp dụng như sau :
a/ Hình thành những chuẩn mực cần phải đạt đến khi viết một đoạn văn tự sự.
Khi viết bài Tập làm văn học sinh phải biết lập dàn ý, mỗi ý lớn trong dàn ý sẽ
viết ít nhất là một đoạn văn.
Đoạn văn là đơn vị trực tiếp tạo nên văn bản, bắt đầu từ chữ viết hoa lùi đầu
dòng, kết thúc bằng dấu chấm xuống dòng và thường biểu đạt một ý tương đối hoàn
chỉnh. Đoạn văn thường do nhiều câu tạo nên.
Đoạn văn thường có từ ngữ chủ đề và câu chủ đề. Từ ngữ chủ đề là các từ ngữ

+ Đoạn văn làm phần Kết bài : Nhận xét chung về đề tài hoặc nhiệm vụ của đề tài (
như giá trị, công dụng, ảnh hưởng, tầm quan trọng,…), đánh giá kết quả đạt được,
gợi mở những hướng xem xét khác, …
- Những biến đổi trong quan hệ nội dung giữa các đoạn văn :
- Sau đây là bốn nội dung quan hệ thường gặp :
+ Đề tài : Quan hệ giữa các vật, việc, hiện tượng khác nhau : mỗi vật, việc, hiện
tượng đó được tách thành một đoạn văn.
+ Không gian : Quan hệ giữa các điểm, hướng không gian của một vật, việc, hiện
tượng. Mỗi điểm, hướng không gian của nó được tách thành một đoạn văn.

+ Thời gian : Quan hệ giữa các thời điểm, thời hạn của một vật, việc, hiện tượng.
Mỗi thời điểm, thời hạn của nó được tách thành một đoạn văn.
+ Phương diện của đề tài : Quan hệ giữa các mặt, các đặc điểm, các tác dụng khác
nhau của một vật, việc, hiện tượng. Mỗi mặt, mỗi đặc điểm, mỗi tác dụng của một đề
tài được tách thành một đoạn văn.
- Ở bài văn tự sự phần Thân bài ít nhất từ hai đến ba đoạn.
- Văn tự sự ở lớp 6, học sinh chỉ được học một tiết về đoạn văn :
Tiết 19- Lời văn, đoạn văn tự sự.
- Để học sinh có được những chuẩn mực về đoạn văn vừa nêu trên tôi mạnh dạn đầu
tư vào tiết 19. Ở tiết này, học sinh :
- Hiểu đoạn văn tự sự : gồm một số câu, được xác định giữa hai dấu chấm xuống
dòng.
- Biết viết đoạn văn, bài văn tự sự.
Tôi đã hướng dẫn học sinh tìm hiểu về đoạn văn bằng Hoạt động 3 khi dạy trên lớp

nàng hết mực, muốn kén cho con một người chồng thật xứng đáng.
(2) Một hôm có hai chàng trai đến cầu hôn.Một người ở vùng núi
Tản Viên có tài lạ […].Người ta gọi chàng là Sơn Tinh. Một người
ở miền biển, tài năng cũng không kém […].Người ta gọi chàng là
Thủy Tinh.[…],cả hai đều xứng đáng làm rể vua Hùng.
(3) Thủy Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận,
đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Thần hô mưa, gọi gió làm
thành dông bão rung chuyển cả đất trời, dâng nước sông lên cuồn
cuộn đánh Sơn Tinh.Nước ngập ruộng đồng, nước ngập nhà cửa,
nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi
lềnh bềnh trên một biển nước.
? Hãy cho biết mỗi đoạn văn biểu đạt ý chính nào?Gạch dưới
câu biểu đạt ý chính? Tại sao người ta gọi đó là câu chủ đề ?
HS: Thảo luận theo nhóm cùng bàn (2 phút) và trình bày :
- Đoạn 1 : Vua Hùng kén rể
- Đoạn 2 : Hai thần đến cầu hôn
- Đoạn 3 : Thuỷ Tinh dâng nước đánh Sơn Tinh .
- Câu chủ đề : diễn đạt ý chính của đoạn văn .
HS: Nhận xét, góp ý .
GV: Chốt ý.
Gọi HS đọc Ghi nhớ SGK/59
GV: 2 em đọc Ghi nhớ
*Hoạt động 4:Hướng dẫn HS luyện tập
GV: Cho HS đọc bài tập 1

3.
Đo
HS
:

Đ
ọc v
à x
ác đ
ịnh y
êu c
ầu

GV: Cho HS thảo luận theo 6 nhóm (3 phút) và cử đại diện
trình bày :
- Nhóm 1,2 : đoạn a.
- Nhóm 3,4 : đoạn b.
- Nhóm 5,6 : đoạn c.
HS: Nhận xét, bổ sung
Chốt ý.(máy chiếu)

a)Thế là Sọ Dừa đến ở nhà phú ông.(1)Cậu chăn bò
rất giỏi.(2) Hằng ngày, Sọ Dừa lăn sau đàn bò ra đồng,
tối đến lại lăn sau đàn bò về chuồng.(3)Ngày nắng cũng
như ngày mưa, bò con nào con nấy bụng no căng(4).
Phú ông mừng lắm.(5)
-> Sọ Dừa chăn bò rất giỏi.


-> Tính cô còn trẻ con lắm.
c)Cô không đẹp, chỉ xinh thôi.(1) Và tính cô cũng như tuổi cô còn
trẻ con lắm. (2)Thấy khách hàng nói một câu bông đùa, cô đã tưởng
người ta chòng ghẹo mình, díu đôi lông mày lại và ngoe nguẩy cái
mình.(3) Khách trông thấy chỉ cười.(4) Nhưng cô cũng không giận
ai lâu, chỉ một lát cô lại vui tính ngay !(5)
+ Câu 1 : Giải thích.
+ Câu 2 : Nhận xét chung về tính tình.
+ Câu 3,4,5 : Biểu hiện tính trẻ con của cô Dần.Qua tiết học, học sinh đã hiểu đoạn văn tự sự : gồm một số câu, được xác định giữa
hai dấu chấm xuống dòng; biết tìm ý chính của mỗi đoạn trong một văn bản tự sự đã
học, tìm đúng câu chủ đề và thứ tự triển khai các câu chủ đề trong một đoạn văn.

b. Chú trọng việc luyện viết đoạn văn phần Thân bài của học sinh ngay từ đầu
năm học trong tất cả các giờ dạy Tập làm văn.
Để giúp học sinh biết phân đoạn phần Thân bài khi làm bài văn tự sự, tôi đã
hướng dẫn cho các em trong một số tiết dạy Tập làm văn sau :
* Tiết 11, 12- Sự việc và nhân vật trong văn tự sự.
Khi dạy tiết này, ở Hoạt động 1: Tìm hiểu đặc điểm của sự việc trong văn tự
sự, sau khi học sinh từ văn bản mẫu “Sơn Tinh, Thủy Tinh” đã hiểu được vai trò của
sự việc trong văn tự sự, tôi đặt câu hỏi phát vấn học sinh:

M
ột

hôm có hai chàng trai đ
ến cầu hôn. Một
người ở vùng núi Tản Viên có tài lạ […]. Người ta
gọi chàng là Sơn Tinh. Một người ở miền biển, tài
năng cũng không kém […]. Người ta gọi chàng là
Thủy Tinh. […], cả hai đều xứng đáng làm rể vua
Hùng.
(3)Vua Hùng ra

đi
ều kiện chọn
rể.

Vua Hùng băn khoăn […].Vua phán : “Hai
chàng đều vừa ý ta […]. Hai chàng tâu hỏi đồ sính
lễ cần sắm những gì, vua bảo : “Một trăm ván
cơm nếp, một trăm nệp bánh chưng và voi chín
ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao, mỗi thứ

m
ột đô

- Chốt ý .
GV: Lập ý là làm gì ?

2.
Cách làm bài văn t
ự sự

:

Đề bài : Kể một câu chuyện mà em
thích bằng lời văn của em .

a) Tìm hiểu đề .
b) Lập ý :
- Nhân vật chính : Thánh Gióng
Nhân vật phụ : cha mẹ Gióng, sứ
giả, dân làng
- Sự việc : Đánh đuổi giặc Ân
GV: ? Em hiểu thế nào là viết “bằng lời
văn của em”?
HS: Có nghĩa là em tự chọn từ, đặt câu,
diễn ý theo dàn ý đã lập. Không sao chép
từ nguyên bản câu chuyện hoặc từ một tài
liệu có sẵn.
GV: Nêu câu hỏi gợi ý cho học sinh cách

c) Lập dàn ý :
* Mở bài : Giới thiệu sự ra đời kì lạ
của Gióng .
* Thân bài : Các sự việc chính :
- Gióng và sứ giả
- Gióng ăn khoẻ lớn nhanh như
thổi
- Gióng vươn vai thành tráng sĩ
- Gióng giết giặc
- Roi gãy, nhổ tre làm vũ khí
- Thắng giặc, Gióng cởi bỏ áo

tự sự có thể viết thành nhiều đoạn văn
thích hợp với các sự việc đã diễn ra.
* Tiết 35, 36- Thứ tự kể trong văn tự sự.
Trong tiết này, tôi gợi ý cách phân đoạn phần Thân bài qua việc giải
quyết Bài tập 2 ở Hoạt động 3: Hướng dẫn học sinh luyện tập.
Minh họa ( giáo án tiết 36 )

Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung
*
Hoạt động 3:Hướng dẫn HS luyện
tập.
GV: Cho HS đọc bài tập 1.
HS: Đọc và xác định yêu cầu
HS: Thảo luận theo nhóm cùng bàn (3
phút) và cử đại diện trình bày
GV: Nhận xét, bổ sung
Chốt ý (bảng phụ ) II.
Luy
ện tập

:

Bài tập 1:SGK/98
- Tóm tắt các sự việc chính :

GV: Nêu câu hỏi gợi ý cho học sinh
cách phân đoạn phần Thân bài Văn tự
sự.
GV?.Em sẽ viết phần Thân bài cho đề
văn này mấy đoạn văn ?
HS: Em có thể viết ít nhất là hai đoạn
văn tương ứng với hai sự việc.
GVChốt ý : Thân bài của đề văn này,
em có thể viết hai hoặc ba đoạn văn
thích hợp với các sự việc mà em đã sắp
xếp.

-

K
ể ng
ư
ợc : (5)
-
(1)
-
(2)
-
(3)
-
(4)
-
(5)

- Kể theo ngôi thứ nhất .

HS:Cho HS đọc dàn bài SGK/120
(bảng phụ)
GV? .Nhiệm vụ của phần Mở bài là

HS: Mở bài : Giới thiệu người định
kể
GV?.Phần Thân bài nêu hai ý lớn : Ý
thích của ông em và ông yêu các cháu
đã đủ chưa ? Em nào có ý kiến gì
khác?
HS: Thảo luận theo nhóm đôi (2 phút)
và trình bày .
GV: Nhận xét, bổ sung .
Chốt ý : Có thể nêu hình dáng của ông
nhưng chỉ là giới thiệu để phân biệt
với người khác chứ không đi vào miêu
tả cụ thể .( Liên hệ văn miêu tả )
GV?.Nhắc đến một người thân mà
nhắc đến ý thích của người ấy có thích
II.Quá trình thực hiện một đề tự sự kể
chuyện đời thường :
Đề bài : Kể chuyện về người ông (hay
bà) của em .
- Tìm hiểu đề
- Phương hướng làm bài
- Dàn bài
- Viết thành văn

SGK/120
HS: Đọc bài, cả lớp theo dõi
GV?. Bài làm đã nêu chi tiết nào đáng
chú ý về người ông
HS:Thích trồng cây xương rồng,
thương cháu.
GV?.Những chi tiết ấy có vẽ ra được
một người già có tính khí riêng hay
không?
HS: Già, chăm chút cây hoa, ngăn
nắp. Tính khí riêng : thích trồng cây
xương rồng.
GV?Cách thương cháu của ông có gì
đáng chú ý ?
HS: Chăm chút đến việc học của
cháu, dạy cháu cách sắp xếp ngăn nắp,
dạy cháu đọc sách để mở rộng hiểu
biết.
GV?Tóm lại, kể chuyện về một nhân
vật cần chú ý đạt được những gì ?
HS:Nhiều em trình bày .
Chốt ý : SGV/176 – ghi bảng
GV?.PhầnThân bài nêu hai ý lớn : Ý


- Trả bài trên lớp : Sau khi lập xong dàn ý, tôi hỏi học sinh ( dựa vào bài làm của
một số học sinh ) :
? Em đã viết được mấy đoạn trong phần Thân bài ở bài làm của em?
Tất nhiên học sinh sẽ trả lời khác nhau, dựa vào đó mà tôi gợi ý, dẫn dắt cho các em
có thể viết nhiều đoạn ở phần Thân bài cho đề bài này vì truyền thuyết thường có
nhiều sự việc xảy ra trong diễn biến câu chuyện.

* Tiết 37,38- Viết bài Tập làm văn số 2
Thường khi cho học sinh làm bài viết số 2 ở những năm học trước tôi nêu một
vài câu hỏi về những lỗi sai mà học sinh vấp phải ở bài viết số 1 để các em tránh khi
làm bài số 2 như : chính tả, cách viết câu, cách trình bày bố cục, … Và năm học này
để thực hiện giải pháp đề ra tôi cho các em nêu lại lỗi sai ở bài trước là thiếu cách
phân đoạn ở Thân bài để các em định hướng cho bài làm của mình được tốt hơn.
Qua bài làm, học sinh hiểu được một bài văn tự sự kể chuyện đời thường khi viết
Thân bài cũng có nhiều đoạn tương ứng các sự việc mà các em kể ra.
* Tiết 47- Trả bài Tập làm văn số 2
- Quá trình chấm bài : tôi thực hiện như chấm bài Tập làm văn số 1 nhưng thêm lời
khen cho học sinh có tiến bộ khi phân đoạn ở phần Thân bài
Trả bài trên lớp : Sau khi lập xong dàn ý, tôi hỏi học sinh ( dựa vào bài làm của
một số học sinh ) :
? Em đã viết được mấy đoạn trong phần Thân bài ở bài làm của em?
Tất nhiên học sinh sẽ trả lời khác nhau, dựa vào đó mà tôi gợi ý, dẫn dắt cho các em
có thể viết nhiều đoạn ở phần Thân bài cho đề bài này vì cũng như truyền thuyết, kể
chuyện đời thường cũng có thể có nhiều sự việc xảy ra trong diễn biến câu chuyện.

Tiếng Việt.
Tất nhiên các kiến thức thuộc văn bản tự sự được học trong Học kì I học sinh
cũng phải nắm được mới làm tốt một bài văn tự sự và sẽ được kiểm chứng qua tiết
luyện nói, tiết làm bài viết.
* Phương tiện:
- Sách giáo khoa Ngữ văn 6 tập 1, tập 2
- Sách giáo viên Ngữ văn 6 tập 1, tập 2
-Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ văn THCS
- Những vấn đề chung về đổi mới giáo dục THCS môn Ngữ văn –
Nhà xuất bản Giáo dục - Các dạng bài Tập làm văn và cảm thụ thơ văn lớp 6 –Cao Bích Xuân – Nhà
xuất bản Giáo dục.
5. Kết quả đạt được
Sau khi áp dụng những biện pháp đã nêu trên thì học sinh có những chuyển
biến rõ rệt qua các bài viết, các em đã phân đoạn được phần Thân bài cho bài văn tự
sự một cách thích hợp.

Y
ếu

Đ
ầu năm

6A
B

54

1

1
4

25

14

Bài vi
ết
số 1
6A
B

54

3


quả khi học sinh làm bài Văn tự sự.
Đây là sáng kiến của bản thân được nghiên cứu trong quá trình giảng dạy,
chắc chắn không tránh khỏi những khiếm khuyết. Rất mong được sự góp ý chân tình
của Hội đồng khoa học các cấp, quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp giúp cho giải
pháp này được hoàn chỉnh hơn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status