NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
MỤC LỤC
Phần MỞ ĐẦU
2
Phần NỘI DUNG
3
1. Quán tính
4
2. Các định luật Newton
5
2.1. Định luật I Newton
5
2.1.1. Nội dung kiến thức
5
2.1.1.1. Trạng thái đứng yên và chuyển động thẳng đều
5
2.1.1.2. Định luật I Newton
8
2.1.2. Một số lưu ý khi dạy học
9
2.2. Định luật II Newton
9
[email protected] Trang 1
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
2.2.1. Nội dụng kiến thức
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
20
3.2.2. Một số lưư ý khi dạy học
21
Phần KẾT LUẬN
22
TÀI LIỆU THAM KHẢO
23
MỞ ĐẦU
Cơ học là một phần của vật lí học nghiên cứu hiện tượng chuyển động cơ
học của các vật, tức là nghiên cứu sự thay đổi vị trí của vật thể trong không gian
đối với các vật thể khác theo thời gian. Cơ học gồm các phần: Động học nghiên
cứu những đặc trưng của chuyển động và những dạng chuyển động khác nhau;
Động lực học nghiên cứu mối liên hệ của chuyển động với sự tương tác giữa các
vật; Tĩnh học là một phần của động lực học nghiên cứu trạng thái cân bằng của
các vật.
Cho đến nay, nhiều nhà khoa học, các chuyên gia xây dựng chương trình
và tác giả sách giáo khoa theo khuynh hướng chú trọng tính logic của vật lí học
cho rằng, nghiên cứu vật lí phải lấy việc nghiên cứu cơ học làm nền tảng để tiếp
tục nghiên cứu các hiện tượng nhiệt, điện, từ, quang,… sau này.
Trong chương trình vật lí phổ thông của nước ta, cơ học được chia thành 5
phần: Động học, động lực học, Tĩnh học, Các định luật bảo toàn, Dao động và
sóng cơ học. Nội dung cơ bản của chương “Động lực học chất điểm” là các khái
niệm cơ bản: lực và khối lượng; các định luật Newton; những loại lực hay gặp
trong cơ học: lực hấp dẫn, lực đàn hồi, lực ma sát; các định luật riêng cho từng
loại lực trong cơ học và phương pháp động lực học.
Phần nghiên cứu trong tiểu luận này là các kiến thức cơ bản của phần các
định luật Newton. Nội dung của nó bao gồm: các khái niệm cơ bản, các định luật
còn có thể đi hết một khoảng cách nào đó “theo quán tính”. Như vậy, thuật ngữ
quán tính ở đây nói rằng, để biến đổi vận tốc chuyển động của một vật dưới tác
dụng của một vật bất kỳ cần phải có một thời gian xác định, tức là lực xác định
gia tốc chứ không phải xác định vận tốc. Dưới tác dụng của một lực như nhau,
các vật thể khác nhau sẽ thu được các gia tốc khác nhau. Với ý nghĩa này, ta có
thể đưa ra số đo “mức quán tính” của mỗi vật.
Cho đến nay, các sách giáo khoa vẫn sử dụng tính chất hai nghĩa của quán
tính một cách thận trọng. Tính chất “quán tính” hiểu theo cách thứ nhất cùng với
định luật I Newton, là tính chất bảo toàn vận tốc của vật thể, hay nói chính xác
hơn quán tính là hiện tượng bảo toàn vận tốc của vật thể trong chuyển động. Và
người ta dùng đến thuật ngữ “mức quán tính” để diễn tả tính chất của vật thể gắn
liền với định luật II Newton. Mức quán tính là tính chất của vật thể thu được gia
tốc khác nhau dưới tác dụng của những lực khác nhau. Do đó, khối lượng là đại
lượng đắc trưng cho mức quán tính của vật. Do vật thể có quán tính mà nó có
mức quán tính. Tuy nhiên, hai khái niệm “quán tính” và “mức quán tính” hoàn
toàn không đồng nhất với nhau.
[email protected] Trang 6
Isaac Newton 46 tuổi
(Bức vẽ của Godfrey Kneller năm 1689)
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
2. Các định luật Newton
Isaac Newton (phát âm như Isắc Niu-
tơn) là một nhà vật lý, nhà thiên văn học, nhà
triết học tự nhiên và nhà toán học vĩ đại người
Anh. Isaac Newton sinh ra trong một gia đình
nông dân. Theo lịch Julius, ông sinh ngày 25
tháng 12 năm 1642 và mất ngày 20 tháng 3
năm 1727; theo lịch Gregory, ông sinh ngày 4
tháng 1 năm 1643 và mất ngày 31 tháng 3
năm 1727. Luận thuyết của ông về
dụng của trái đất và sợi dây cao su nhưng hòn bi vẫn đứng yên khi nào tác dụng
của trái đất và sợi dây cao su còn cân bằng lẫn nhau.
Như vậy, tác dụng của các vật xung quanh lên một vật đứng yên là tác
dụng cân bằng. Khi sự cân bằng bị phá vỡ, vật không còn ở trạng thái đứng yên
nữa. Một vật chịu tác dụng duy nhất từ một vật khác không bao giờ đứng yên.
Trái lại, một vật đứng yên chịu nhiều tác dụng từ các vật khác và nếu các tác
dụng đó cân bằng lẫn nhau thì vật sẽ đứng yên mãi mãi.
Trạng thái chuyển động thẳng đều giống trạng thái đứng yên ở chỗ cũng
có gia tốc bằng không. Xét về mặt động lực học thì đứng yên chỉ là trường hợp
riêng của chuyển động thẳng đều khi vận tốc ban đầu bằng không. Như vậy, một
vật chuyển động thẳng đều là do chịu những tác dụng như thế nào?
Xuất phát từ các hiện tượng thực tế trong đời sống hằng ngày, Aristôt đã
quan niệm rằng: muốn cho một vật duy trì một vận tốc không đổi thì phải có một
lực tác dụng lên nó. Quan niệm này đã được khẳng định và truyền bá. Nó đã
thống trị nền Vật lý thế giới trong nhiều thế kỷ.
Theo quan này, một vật muốn duy trì chuyển động nhất thiết phải chịu tác
dụng của vật khác, tức có lực tác dụng lên vật. Chiếc xe đẩy không thể tiếp tục
chuyển động nếu không có người kéo hay đẩy nó. Một thí nghiệm đơn giản sau
đây sẽ cho kết luận đúng đắn về vấn đền này.
Đặt một hòn bi lên mặt bàn nằm ngang và búng tay cho nó chuyển động.
Ảnh chụp bằng phương pháp hoạt nghiệm sẽ giúp xác định vị trí của hòn bi sau
những khoảng thời gian liên tiếp bằng nhau. Bức ảnh cho thấy chuyển động của
hòn bi lúc đầu gần như thẳng đều, sau đó chậm dần và dừng lại.
Như thế, tác dụng của cái búng tay lên hòn bi làm thay đổi chuyển động
của nó (từ trang thái nghỉ sang trạng thái chuyển động). Sau cái búng tay, hòn bi
vẫn tiếp tục chuyển động. Tác dụng theo phương thẳng đứng của trái đất và mặt
bàn lên hòn bi cân bằng lẫn nhau. Vậy chuyển động của hòn bi vẫn được duy trì
khi không có một lực nào tiếp tục đẩy nó theo phương ngang. Quan niệm của
Aristôt đã mắc sai lầm. Nhưng tại sao chuyển động không được duy trì mãi mãi?
Nếu cho hòn bi lăn trên những mặt bàn khác nhau thì chuyển động của
2
2
2
1
1
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
Ông càng hạ thấp độ nghiêng của máng thì để đạt được độ cao ban đầu,
hòn bi trên máng 2 lăn đoạn đường dài hơn. Từ những thí nghiệm tương tự như
vậy, Galilê suy ra rằng nếu thay máng 2 bằng một mặt phẳng nằm ngang, nhẵn lý
tưởng thì hòn bi sẽ lăn với vận tốc không đổi mãi mãi vì chẳng bao giờ có thể đạt
tới độ cao ban đầu.
2.1.1.2. Định luật I Newton
Như đã trình bày ở trên ta thấy: Một vật giữ nguyên trạng thái đứng yên
hoặc chuyển động thẳng đều chừng nào tác dụng của các vật khác đặt lên nó cân
bằng lẫn nhau. Nếu không chịu tác dụng bởi một tổng lực khác không thì một vật
đang đứng yên sẽ đứng yên mãi mãi, và một vật đang chuyển động sẽ chuyển
động thẳng đều mãi mãi.
Trong cuốn “Những nguyên lí toán học của triết học về tự nhiên”, Newton
viết “Mọi vật giữ nguyên trạng thái đứng yên hay chuyển động thẳng đều trừ phi
nó chịu tác dụng của các lực làm thay đổi trạng thái đó ”. Đó chính là nội dung
của định luật I Newton. Định luật I Newton nêu lên một tính chất rất tổng quát
của vật thể là tính chất bảo toàn trạng thái chuyển động. Vì vậy định luật I
Newton còn gọi là định luật quán tính và chuyển động thẳng đều được gọi là
chuyển động theo quán tính. Định luật I chỉ ra rằng lực không phải là nguyên
nhân gây ra chuyển động hay duy trì chuyển động của các vật, mà đúng hơn là
nguyên nhân gây ra sự thay đổi trạng thái chuyển động (thay đổi vận tốc/động
lượng của vật). Nhờ sự đúng đắn của định luật I Newton, người ta mới phát hiện
ra lực ma sát tác dụng lên một vật chuyển động.
Ngoài ra cũng có thể phát biểu định luật I như sau: “Một vật giữ nguyên
trạng thái đứng yên hay chuyển động thẳng đều chừng nào nó không chịu tác
0
=v
, chất điểm chuyển động thẳng đều có
vận tốc
v
không đổi. Trong cả hai trường hợp đó, vận tốc
v
đều không đổi. Vì
thế, theo Newton thì thời gian trôi đi trong các hệ quy chiếu quán tính khác nhau
là như nhau. Mọi điểm trong không gian, mọi phương trong không gian đều bình
đẳng như nhau. Vậy định luật I Newton còn chứa một nội dung rất quan trọng
khác. Đó là tính đồng nhất của thời gian, tính đồng chất và đẳng hướng của
không gian. Đây chính là tư tưởng thống soái là cơ sở để xây dựng cơ học
Newton và vật lí học cổ điển. Định luật I Newton là một định luật có ý nghĩa rất
quan trọng cho cơ học cổ điển.
2.1.2. Một số lưu ý khi dạy học
Không giống như các định luật vật lí khác là rút ra từ thực nghiệm, định
luật I Newton được trình bày dưới dạng tiên đề. Muốn tạo lòng tin vào sự đúng
đắn của định luật, trước tiên giáo viên phải cho học sinh xét xem trong điều kiện
nào thì vật đứng yên hay chuyển động thẳng đều. Kế đến, giáo viên phải biết
chọn lựa để mô tả các thí nghiệm tình huống rồi cho học sinh nhận xét. Thí
nghiệm thả hòn bi trên máng nghiêng của Galilê là một thí nghiệm điển hình.
Như đã thấy, cả hai bộ sách giáo khoa cho chương tình chuẩn và chương
trình nâng cao đều bắt đầu từ thí nghiệm lịch sử của Ga-li-lê. Sau khi yêu cầu
học sinh nhận xét thí nghiệm, sách giáo khoa thông báo nội dung định luật I như
một nguyên lý: “Nếu một vật không chịu tác dụng của lực nào hoặc chịu tác
=
(2.2.1.1)
Cách diễn đạt nội dung của định luật như thế này nói lên được mối liên hệ
của các sự vật tồn tại trong tự nhiên.
Tuy nhiên, để đặc biệt nhấn mạnh đến tính nhân quả của định luật, nội
dung của định luật còn được phát biểu như sau: “Gia tốc của một vật tỷ lệ thuận
với lực tác dụng vào vật và tỷ lệ nghịch với khối lượng của nó”. Theo cách phát
biểu này, ta có:
m
F
a
=
(2.2.1.2)
Định luật II luôn luôn đúng cho mọi sự tương tác, cho dù bản chất tương
tác ấy hoàn toàn khác nhau, các vật tương tác là hoàn toàn khác nhau. Vì vậy,
định luật II là một định luật phổ biến. Định luật II được sử dụng để nghiên cứu
chuyển động, của viên đạn, của phân tử, của gió, của một chi tiết cơ khí, của các
vì sao,…
[email protected] Trang 12
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
Phương trình (2.2.1.1) chính là phương trình của định luật II Newton.
Phương trình này cũng chính là phương trình cơ bản của cơ học chất điểm. Thật
vậy, giả sử xét một chất điểm chịu tác dụng của một lực
F
đã biết, thì trong
(2.2.1.1), nếu biết khối lượng của chất điểm ta sẽ tính được gia tốc của chuyển
=a
, tức là vận tốc
constv =
, vật đứng
yên hoặc chuyển động thẳng đều. Vì thế, đứng về mặt toán học để xét, định luật I
có thể được suy ra từ định luật II. Nhưng định luật I vẫn là một định luật độc lập
vì nó bao hàm những nội dung và ý nghĩa quan trọng như đã trình bày ở trên.
* Định luật II Newton được viết dưới dạng toán học như sau:
trong đó:
là tổng ngoại lực tác dụng lên vật (trong SI, lực đo bằng đơn vị N)
là động lượng của vật (trong SI, động lượng đo bằng đơn vị kg m/s
2
)
t là thời gian (trong SI, thời gian đo bằng đơn vị s)
[email protected] Trang 13
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
* Định luật II Newton trong cơ học cổ điển
Trong cơ học cổ điển, khối lượng có giá trị không đổi, bất kể chuyển động
của vật. Do đó, phương trình định luật II Newton trở thành:
trong đó:
m là khối lượng của vật (trong SI, khối lượng đo bằng đơn vị kg)
là gia tốc của vật (trong SI, gia tốc đo bằng đơn vị m/s2).
* Định luật II Newton trong thuyết tương đối hẹp
F
a
= m
0
A
là những thí nghiệm minh họa.
2.3. Định luật III Newton
2.3.1. Nội dung kiến thức
Thực nghiệm chứng tỏ rằng không bao giờ có tác dụng một phía. Khi vật
A tác dụng lên vật B thì ngược lại vật B cũng tác dụng lên vật A. Ta nói chúng
tương tác nhau. Có thể lấy nhiều ví dụ xung quanh ta để minh họa. Chẳng hạn,
khi đi chân đạp vào đất, đồng thời đất cũng tác dụng đẩy ta làm ta di chuyển
được; khi bơi, vận động viên tác dụng vào nước một lực đẩy nước ra phía sau,
ngược lại nước đẩy vận động viên về phía trước. Trong hình (2.3.1), ta thấy nếu
người tác dụng vào tường một lực
1
F
thì tường cũng tác dụng lại người một lực
2
F
, hay người tác dụng vào tường một lực 100N thì cũng chịu lại một lực 100N
do tường tác dụng,…
(hình 2.3.1)
Ngoài ra, sách giáo khoa cho cả hai chương trình cơ bản và nâng cao đều
đưa ra rất nhiều ví dụ tương tự:
[email protected] Trang 15
1
F
2
F
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
'
F
bằng không nhưng tác dụng
của chúng không khử nhau vì điểm đặt cảu chúng khác nhau.
Đó chính là nội dung của định luật III Newton. Định luật III Newton xác
định đặc tính tương tác của các vật được Newton phát biểu lần đầu như sau:
“Tác dụng bao giờ cũng bằng và ngược chiều với phản tác dụng. Nói khác đi,
các lực tác dụng của hai vật lên nhau bao giờ cũng bằng nhau và hướng về hai
phía ngược nhau”.
[email protected] Trang 16
A'
A
B
B'
Hình 10.2 trang 62 SGK cơ bản
Sắt non Nam châm
Hình 16.2 trang 71 SGK nâng cao
Hình 10.3 trang 62 SGK cơ bản
Hình 10.4 trang 62 SGK cơ bản
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
Với cách phát biểu như thế, định luật III đúng cho mọi trường hợp tương
tác, dù lực tương tác có bản chất là gì và vận tốc của các vật tham gia tương tác
như thế nào đi nữa.
Tuy nhiên, định luật III chỉ nói đến đặc tính của sự tương tác chứ không
đề cập tới nguyên nhân của đặc tính đó, tức là định luật chỉ cho biết rằng hễ có
lực tác dụng thì nhất thiết phải có lực phản tác dụng mà không cho biết vì sao
như vậy.
Ta xét một hệ chất điểm cô lập, nghĩa là một hệ không chịu tác dụng của
ngoại lực, trong hệ chỉ có các nội lực tương tác giữa các chất điểm của hệ. Nếu
[email protected] Trang 17
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
2.3.2 Một số lưu ý khi dạy học
Các định luật Newton là các nguyên lí lớn. Tuy nhiên, nếu thừa nhận định
luật II thì có thể dùng thí nghiệm về hai vật tương tác để rút ra định luật III.
Hoặc ngược lại, từ sự thừa nhận định luật III, dùng thí nghiệm về sự tương tác
giữa hai vật để suy ra định luật II. Các sách giáo khoa thường trình bày định luật
II trước định luật III, vì thế mà định luật III thường được trình bày dưới dạng
một định luật rút ra từ thực nghiệm.
Một điều quan trọng nữa khi dạy định luật III Newton là giáo viên phải
chú ý nhấn mạnh cho học sinh những lưu ý sau :
* Lực bao giờ cũng xuất hiện thành từng cặp (lực tác dụng và lực phản tác
dụng) và xuất hiện một cách đồng thời.
* Đặc điểm của lực và phản lực:
+ Cặp lực này bao giờ cũng có cùng bản chất (cùng là lực ma sát, cùng là
đàn hồi, cùng là lực điện từ, hoặc cùng là lực hấp dẫn,…).
+ Hai lực trong cặp lực này đặt vào hai vật khác nhau.
+ Cặp lực này là một cặp lực trực đối (cùng độ lớn, cùng phương, ngược
chiều).
3. Khái niệm lực và khối lượng
Lực và khối lượng là hai khái niệm rất cơ bản của động lực học. Không
thể nói đến các định luật của chuyển động nếu không có hai đại lượng này. Mặc
khác, hai đại lượng này chỉ có thể trình bày một cách trọn vẹn sau khi đã trình
bày các định luật Newton.
3.1. Lực
3.1.1. Nội dung khái niệm
Để đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác, người ta đưa ra khái
niệm lực. Newton cho rằng: “Lực đặt vào là sự tác dụng tiến hành trên vật thể để
làm thay đổi trạng thái đứng yên hay là chuyển động thẳng đều của nó”. Đây
chính là ý nghĩa của khái niệm lực. Feyman lại cho rằng: “Lực là cái mà nếu
nghĩa này là "đặc trưng cho tác dụng của vật này lên vật khác, làm cho vận tốc
của vật thay đổi hoặc làm cho vật biến dạng". Về đặc điểm của lực, sách giáo
khoa cho chương trình cơ bản nêu: “lực là một đại lượng vectơ nên có thể biểu
diễn bằng một vectơ
F
”.Còn sách giáo khoa cho chương trình nâng cao chỉ nêu
ra như một thông báo và dùng hình 13.1 (trang 60) dưới dạng mô hình hoá làm
ví dụ về một vectơ lực cụ thể.
Theo quan niệm hiện đại, lực chỉ có một tác dụng động lực học là gây ra
gia tốc tức làm biến đổi chuyển động. Hệ quả của sự biến đổi chuyển động
không đều của các phần tử của vật là làm vật bị biến dạng. Bởi vậy, chỉ nên định
nghĩa: “Lực tác dụng lên vật là một đại lượng vectơ bằng tích của khối lượng m
với gia tốc a mà vật thu được dưới tác dụng của lực”.
Công thức của định luật II Newton
amF
=
bao giờ cũng cho phép xác
định được mối liên hệ trên giữa ba đại lượng khi ta đo F, m, a một cách độc lập.
Như vậy, lực tác dụng lên vật bằng tích của khối lượng m với gia tốc a mà vật
thu được dưới tác dụng của lực. Đồng thời, công thức trên cũng cho ta nhận biết
được một cách chính xác khái niệm lực, thấy được lực là một đại lượng vectơ.
Do đó, công thức trên vừa là công thức của định luật II Newton vừa là công thức
định nghĩa lực.
Các lực được xét trong cơ học thường được chia ra thành các lực khác
nhau tuỳ vào sự tiếp xúc trực tiếp giữa các vật (áp lực, lực ma sát,…) và các lực
xuất hiện là nhờ vào các trường phát sinh từ các vật tương tác (trường hấp dẫn,
trường điện từ,…).
qq
kF =
trong đó
21
,qq
lần lượt là điện tích của hai hạt.
k là hệ số tỉ lệ phụ thuộc việc chọn hệ đơn vị.
* Lực ma sát trượt:
NF
µ
=
trong đó
µ
là hệ số ma sát trượt.
N
là áp lực lên mặt tiếp xúc.
[email protected] Trang 20
P
N
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
* Lực đàn hồi:
kxF
−=
trong đó
x
là độ biến dạng.
k
là hệ số đàn hồi.
v.v…
+ Lực là đại lượng vectơ.
[email protected] Trang 21
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
3.2. Khối lượng
3.2.1. Nội dung khái niệm
Định luật II Newton và định luật vạn vật hấp dẫn là hai định luật hoàn
toàn độc lập với nhau. Tuy nhiên trong hai định luật này đều xuất hiện khái niệm
khối lượng. Do đó có hai khái niệm đã xuất hiện trong lịch sử phát triển của vật
lí học: khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn. Mặc dầu hai khái niệm này
hoàn toàn khác nhau về vai trò trong cơ học nhưng lại trùng nhau đến kỳ lạ.
Khối lượng quán tính và khối lượng hấp dẫn vẫn không phân biệt được sự khác
nhau dù rằng đã có nhiều công trình nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này. Hầu
hết sách giáo khoa phổ thông ở các nước chỉ hình thành khối lượng quán tính và
dùng chung cho cả trường hợp trường hấp dẫn.
Lúc đầu khối lượng chỉ được hiểu là một đại lượng dùng để chỉ lượng vật
chất chứa trong vật. Sau khi có định luật II Newton thì khối lượng mới được hiểu
một cách chính xác.
Thực nghiệm cho thấy rằng, đối với hai vật thể tương tác với nhau thì tỷ
số gia tốc mà chúng thu được là như nhau. Tỷ số này không phụ thuộc vào tính
chất tương tác mà chỉ phụ thuộc vào một tính chất đặc biệt nào đó vốn có của
mỗi vật thể. Tính chất ấy được biểu hiện bằng một đại lượng vật lí là khối lượng.
Theo định luật II Newton, khối lượng được dùng để chỉ mức quán tính của
vật. Cùng một lực tác dụng như nhau, vật nào thay đổi vận tốc nhanh hơn tức thu
được gia tốc lớn hơn thì có khối lượng nhỏ hơn và ngược lại. Từ đó ta có định
nghĩa: “Khối lượng là đại lượng đặc trưng cho mức quán tính của vật”. Bởi vậy,
khối lượng này được gọi là khối lượng quán tính. Cách hiểu mới này cho phép ta
so sánh khối lượng của các vật bất kỳ, dù chúng được làm bằng cùng một chất
hay bằng các chất khác nhau. Vật thể nào có mức quán tính lớn hơn thì có khối
lượng lớn hơn và ngược lại.
Định nghĩa khối lượng như thế không thật hoàn toàn chính xác. Theo quan niệm
này, khối lượng là một đại lượng vô hướng, có giá trị dương, không đổi với mọi
vật. và có tính cộng được.
Giai đoạn logic được hình thành khi đã có định luật II Newton. Ở giai
đoạn này, khối lượng được hiểu là đại lượng vật lí đặc trưng cho mức quán tính
của mỗi vật.
[email protected] Trang 23
NGHIÊN CỨU CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ PHỔ THÔNG
KẾT LUẬN
Cơ học nói chung và phần động lực học nói riêng là một nội dung kiến
thức quan trọng trong chương trình vật lí phổ thông. Một trong những nội dung
cơ bản của phần động lực học là các định luật Newton. Sách giáo khoa nước ta
coi các định luật Newton như là các nguyên lý lớn làm nền tảng cho việc xây
dựng và phát triển cơ học. Do đó, ba định luật Newton được sách giáo khoa trình
bày dưới dạng tiên đề chứ không phải bằng con đường quy nạp thực nghiệm.
Sau khi nghiên cứu cấu trúc chương trình, nội dung kiến thức được trình bày
trong sách giáo khoa và tìm hiểu cách tổ chức dạy học cho học sinh các kiến
thức cơ bản phần các định luật Newton, tiểu luận đã hoàn thành và đạt được
những kết quả sau:
♦ Trình bày các khái niệm cơ bản và một số lưu ý khi dạy học các
khái niệm này.
♦ Phát biểu các định luật Newton, nêu được ý nghĩa các định luật
mang lại cho khoa học và phạm vi ứng dụng của các định luật.
Ngoài ra, qua quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi đã hiểu sâu hơn
và hệ thống hóa được các kiến thức cơ bản của các định luật Newton, đồng thời
cũng biết được cách tổ chức dạy học để đạt được hiệu quả trong giảng dạy kiến
thức phần này.
Trong quá trình viết bài, tôi đã cố gắng nghiên cứu và trình bày các kiến
thức cơ bản của phần các định luật Newton. Tuy nhiên, do thời gian còn hạn chế
nên tôi không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được ý kiến