tiểu luận môi trường cạnh tranh- đánh giá sự hấp dẫn của nghành công nghiệp - Pdf 15

Nhóm 2

Tiểu luận MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH – ĐÁNH GIÁ SỰ
HẤP DẪN CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP

qua Internet, một hiện tượng mà chính nó có thể được truy tìm trực tiếp đến sự
tăng trưởng lớn và gia tăng của máy tính cá nhân ở khắp mọi nơi.
Những chiếc PC hiện tại linh hoạt hơn những chiếc thậm chí mới được
sản xuất cách đây vài tháng, chúng có thể có nhiều cấu hình và kích thước khác
nhau, với chiếc máy tính mới nhất hiện nay được thiết kế để có thể chỉ vừa
trong lòng bàn tay. Mỗi thế hệ mới của PC đều tăng đáng kể về sức mạnh, tốc độ,
và linh hoạt hơn so với thế hệ tiền nhiệm của nó, tác động đến các kệ hàng
khoảng mỗi 12 đến 18 tháng. Sự linh hoạt ngày càng tăng của máy tính cá nhân
để thực hiện hàng loạt các chức năng (ví dụ: máy tính tiêu chuẩn, e-mail, khả
năng fax, truy cập Internet, trò chơi video, hệ thống giám sát nhà, giải trí âm
thanh và hình ảnh) đã biến chiếc máy tính thành một thiết bị mạng đa chức năng,
phục vụ như là bộ não tích hợp của nhiều thiết bị và công cụ riêng biệt. Các bộ
vi xử lý mạnh mẽ hơn (Intel của dòng Pentium, Pen-tium II, và Pentium III,
Merced chip) và hệ điều hành phần mềm (của Microsoft Windows 95, Windows
Nhóm 2
98, và Sun Microsystems Java) đã phát triển trong suốt những năm qua đã làm
cho nó có thể phù hợp với bất cứ ai, bất cứ độ tuổi nào, và là nền tảng để học
cách sử dụng máy tính chỉ trong vài giờ. Học máy tính đã trở nên dễ dàng hơn
nhiều bởi vì các phần mềm gần đây không còn đòi hỏi khách hàng tham gia cài
đặt và lập trình cho máy của họ, sách hướng dẫn giảng dạy cồng kềnh. Ngay cả
các máy tính thô sơ nhất có thể gửi fax, tính thuế, gửi e-mail, chơi games, làm
bảng tính, và thậm chí cân bằng sổ séc của bạn.
Đồng thời, mức giá trung bình của máy tính cá nhân đã giảm khoảng 15-
20 phần trăm mỗi năm. Từ năm 1997, sự tăng trưởng lớn nhất của máy tính cá
nhân đã xảy ra đối với các sản phẩm giá bán dưới 1,000$ (còn được gọi là sub-
$ 1,000 PC), mà bây giờ đã mạnh và nhanh hơn nhiều, được bán với giá trên
3,500 $ một vài năm trở lại đây. Tiểu máy tính $1.000 thông thường cung cấp
một loạt các tính năng tiêu chuẩn, bao gồm một vi xử lý nhanh, tích hợp hệ điều
hành phần mềm, một ổ đĩa CD-ROM, loa stereo, và rất nhiều "cổng" để có thể
giao tiếp với nhiều thiết bị ngoại vi khác, như máy quét, máy in, máy ảnh số và

đã cố gắng để cắt gọn công đoạn trong việc đưa sản phẩm mới ra thị trường
nhanh hơn đối thủ.
Tranh chấp tay đôi, nhưng củng cố các chuẩn hoá. Ngành công nghiệp
máy tính gần đây có hai phần mềm hệ điều hành tiêu chuẩn đang cạnh tranh lẫn
nhau. Một hệ điều hành được hỗ trợ bởi Apple Computer, được gọi là hệ điều
hành Macintosh. Đây là hệ điều hành hết sức thân thiện với người dùng và chạy
trên phần mềm độc quyền, có nghĩa là các phần mềm dành cho một máy tính
Apple sẽ không thể chạy trên bất kỳ máy vi tính nào khác. Bộ não của các máy
tính Apple là một họ vi xử lý của Motorola. Trong nhiều năm, hệ điều hành
Macintosh đặc trưng của Apple yêu cầu giá thành cao, chính tính độc quyền đó
làm giới hạn tổng số thị phần của Apple khoảng 3,5% vào giữa năm 1998.
Các dòng PC khác (và chắc chắn có chuẩn công nghiệp cao hơn) được
dựa trên hệ điều hành Microsoft Windows. Hệ điều hành Windows dựa trên việc
sử dụng cơ chế thay đổi các lệnh phần mềm và các biểu tượng cho phép đối dễ
sử dụng một cách đáng kể và tăng hiệu quả tổ chức các chức năng của máy tính.
Theo nhiều cách, sự phát triển to lớn của ngành công nghiệp PC trong suốt
những năm 1990 có thể được đánh dấu từ các phiên bản khác nhau của hệ điều
hành Windows (3.0, 3.1, Windows 95, Windows 98) đã làm cho người sử dụng
máy dễ dàng hơn rất nhiều. Windows giúp cho người dùng tải một loạt các
chương trình khác nhau vào máy tính của họ với tốc độ nhanh và thuận tiện. Do
sự phổ biến khủng khiếp của hệ điều hành Microsoft Windows, có nghĩa là hàng
ngàn ứng dụng phần mềm khác nhau trên diện rộng (ví dụ: xử lý văn bản, bảng
tính, truy cập Internet, vv) đã được thiết kế để sử dụng các định dạng của
Microsoft để làm cho máy tính linh hoạt hơn. Hơn nữa, Microsoft, trái ngược
hẳn với Apple, dễ dàng cho đăng kí hệ điều hành Windows của mình (và hệ điều
hành DOS trước đó) bất kỳ PC của hãng sản xuất nào khác nếu họ sẵn sàng trả
một khoản phí bản quyền. Trong suốt thập niên 1980 và thập niên 1990, chính
sách này đã thu hút điểm của các nhà sản xuất máy tính mới và thiết kế phần
mềm tìm kiếm để bắt đầu tạo ra lợi nhuận bởi sự phổ biến của các hệ thống khác
nhau của Microsoft. Do đó, sự phổ biến của các hệ điều hành Microsoft trước và

Hewlett-Packard, và các công ty khác thông qua trang web của họ. Sự tăng
trưởng của Internet như một kênh phân phối chính đã làm cho các nhà sản xuất
PC cung cấp sản phẩm cho khách hàng thông qua chính xác nhu cầu của họ về
tốc độ, sức mạnh, số lượng thiết bị ngoại vi khác nhau (ví dụ: máy quét, máy in,
DVD, thẻ video), theo từng mức giá.
Người mua hàng mạnh
Ngành công nghiệp PC có những người mua đầy đủ các kiến thức và
mạnh mẽ. Với hàng trăm nhà cung cấp để lựa chọn, khách hàng được có thể tự
tìm kiếm sản phẩm có giá trị cao hơn và chất lượng tốt hơn. Cho đến khoảng
năm 1990, đa số người mua máy tính là các doanh nghiệp lớn và nhỏ, sử dụng
máy tính để tăng năng suất công việc. Nhưng đến ngày nay, thị phần khách hàng
mua PC đang dịch chuyển về phía những người mua máy tính cho gia định,
thậm chí nhiều gia đình muốn mua một PC thứ hai hoặc thậm chí thứ ba để giải
trí hoặc sử dụng tuy cập Internet. Bất kể những gì máy tính đang sử dụng, người
tiêu dùng đang đòi hỏi và hiểu biết. PC đã trở thành tương tự như máy thu hình
màu trong suốt thập niên 1970 và VCR trong thập niên 1980, với hầu hết các
khách hàng ý thức được những gì họ cần và làm thế nào chi phí cho những thứ
đó. Vì hầu hết các máy tính có một tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng, sức mạnh,
tốc độ, và bộ nhớ, nên sự cạnh tranh phần lớn dựa vào giá cả. Với nhiều khách
hàng, thương hiệu đã trở nên ít quan trọng theo thời gian. Khách hàng là điều
kiện để suy nghĩ và mong đợi rằng giá máy tính sẽ giảm đáng kể từng năm một.
Ví dụ: mô hình máy tính mới nhất từ Compaq và Gateway (dựa trên chip Intel-
class sau này, với vài thiết bị ngoại vi) giảm giá từ $ 1,000 năm 1997 đến $ 599
vào năm 1999.
Người mua hiểu biết là những khách hàng sẽ không quyết định mua hàng
chỉ căn cứ trên giá cả. Điều này thực sự đúng đối với doanh nghiệp kinh doanh
Nhóm 2
và người mua, những người thường xuyên muốn có giám sát, bảo trì, nâng cấp
phần mềm, và sửa chữa thiết bị. Trong hầu hết trường hợp, doanh nghiệp hoặc
sẽ mua trực tiếp từ nhà sản xuất PC lớn (Compaq, Dell, Hewlett-Packard, IBM),

gồm các công ty như Seagate, Quantum, Western Digital, Applied Magnetics, và
Read-Rite. Các công ty này bản thân họ cũng cạnh tranh quyết liệt trong việc
thiết kế thế hệ sản phẩm mới cho kích thước nhỏ hơn và mạnh mẽ hơn. Các nhà
sản xuất chủ yếu của máy in bao gồm Hewlett-Packard, Canon, Seiko-Epson và
Lexmark, tất cả đều đứng đầu về công nghệ tong kinh doanh thiết bị ngoại vi.
Những cái tên truyền thống trong lĩnh vực tiêu thụ thiết bị điện tử như Sony,
Philips, Matsushita, và những công ty sản xuất đĩa CD-ROM và DVD. Tóm lại,
các nhà cung cấp các thành phần máy tính chủ chốt, từ chip cho bo mạch để các
thiết bị phần cứng đều lớn mạnh và có sức mạnh công nghệ để nhập nhành công
nghiệp PC.
Nhóm 2
Một tiềm năng vừa chớm nở cho thay thế
Mặc dù vài sản phẩm thay thế trực tiếp cho máy tính cá nhân hiện đang
tồn tại tiêu chuẩn hóa ở mức giá thấp hiện nay, rõ ràng tồn tại tiềm năng cho các
sản phẩm mới và công nghệ để xác định lại và thay đổi cách thức các máy tính
cách được thiết kế, sản xuất, bán, và sử dụng. Ngay cả các máy tính nhỏ hơn đã
thực hiện xâm nhập vào thị trường này, minh chứng rõ ràng cho chúng ta thấy là
sự bùng nổ của lap-top và notebook. Các mẫu máy tính xách tay có nhiều phong
cách và có thể thay thế màn hình cồng kềnh và bàn phím kết hợp với máy tính
thông thường. Tuy nhiên, sự tăng trưởng thực tế trong sản phẩm thay thế có khả
năng sẽ xảy ra với sự sẵn có ngày càng tăng của các thiết bị cầm tay, máy tính
palm-top có thể thực hiện nhiều chức năng máy tính mà không có bàn phím.
Những thiết bị cầm tay này là rất hiệu quả trong mạng không dây, chúng có thể
làm việc như các thiết bị thông tin liên lạc và có thể thay thế các thiết bị khác
như điện thoại di động, máy nhắn tin, và thậm chí cả máy tính xách tay qua thời
gian.
Môi trường: các lực lượng bên ngoài, yếu tố, và các điều kiện mà ảnh
hưởng hoặc hình thành chiến lược, quyết định, và hành động của các công ty
(xem môi trường vĩ , môi trường công nghiệp hoặc môi trường cạnh tranh).
GIỚI THIỆU

Sự phát triển môi trường chung như độ tuổi của lực lượng lao động, xu hướng
tăng về nhận thức sức khoẻ, sự thay đổi giá trị tư bản hoặc tỷ lệ lợi nhuận, sự
sản sinh và cạnh tranh với nước ngoài. Những yếu tố này ảnh hưởng lớn môi
trường lâu dài trong nghành công nghiệp mà công ty đang hoạt động. Một số
yếu tố biểu hiện sự chuyển dịch dài hạn, ví dụ độ tuổi người dân Mỹ và sự thịnh
hành cạnh tranh nước ngoài ngày một gia tăng, các yếu tố khác có ảnh hưởng
ngắn hạn, ví dụ tỷ lệ lợi nhuận, sức mua các hộ gia đình và tỷ giá hối đoái.
Các doanh nghiệp nói chung không thể kiểm soát được môi trường. Hơn
nữa, các nhân tố thường khó để đoán trước để quyết định. Mặc dù tập hợp một
số đông các nhân tố tạo ra môi trường chung, một số sự phát triển sẽ tạo ảnh
hưởng tới tất cả các doanh nghiệp theo một số cách nào đó. Cụ thể, chúng ta sẽ
xem xét sự phát triển trong môi trường nhân khẩu học, môi trường chính trị, môi
trường văn hóa xã hội, môi trường công nghệ, và môi trường toàn cầu.
Môi trường nhân khẩu
Nhân khẩu miêu tả đặc điểm dân cư rộng mà nó hình thành đơn vị dân số
trong phân tích như là nước, bang hoặc vùng hoặc hạt, quận. Tầm quan trọng
của sự thay đổi nhân khẩu nằm dưới sự ảnh hưởng của nó đến hình thành của
mỗi lực lượng lao động, tập quán nguồn nhân khẩu, thị trường và sự phát triển
của doanh nghiệp. Chúng ta hãy xem một số xu hướng nhân khấu chủ yếu đang
định rõ ở Mỹ.
Có lẽ một trong những thay đổi quan trọng nhất trong 30 năm trở lại đây ở
Mỹ là bước đi vững chắc và đặc biệt sự tham gia của lực lượng lao động nữ.
Người ta hy vọng rằng nữ giới sẽ chiếm khoảng 1/2 lực lượng lao động vào năm
2000. Hơn nữa phụ nữ đã đạt một số lượng đáng kể ở một số ngành mà đại đa số
nam giới có ưu thế, ví dụ ngành luật, nghành kế toán, Tư vấn quản lý, kỹ sư và
các nghề trả lương cao. Một trong những biểu hiện rõ nhất của xu hướng nhân
khẩu là 1/2 tổng số sinh viên cao học MBA của trường Quản trị kinh doanh là
nữ; so với năm 1990, họ chỉ chiếm 40% sinh viên.
Một yếu tố dân cư quan trọng là sự giao thoa đa sắc tộc ở Mỹ. Ví dụ dân
số ở Hispanic đang tăng nhanh hơn so với các nhóm đa sắc tộc khác và chiếm

đổi đáng kể tính chất và lợi nhuận của những ngành công nghiệp này. Các ngành
công nghiệp khác thay thế trở nên regulated. Ví dụ, sự sụp đổ hàng loạt các
khoản cho vay và tiết kiệm dẫn đến thất thoát hơn 500 Tỷ USD trong suốt những
năm cuối của thập kỷ 80, là kết quả của những chính sách mới của chính phủ
liên quan đến hoạt động của Ngân hàng. Do đó, chính sách của Chính phủ có thể
ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức kinh doanh, hoạt động của các doanh nghiệp
thông qua nhiều nghành công nghiệp.
Một quy định chính có xu hướng ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp
Mỹ là việc chú trọng vào vấn đề bảo vệ môi trường. Với việc thông qua Đạo luật
Bầu không khí sạch vào năm 1990, nhiều công ty Mỹ đã phải coi việc thực hiện
bảo vệ môi trường là một phần quan trọng trong chiến lược lâu dài chứ không
phải là công việc một sớm một chiều. Ví dụ, các nhà sản xuất ô tô (chẳng hạn
như General Motors), sản xuất thiết bị (chẳng hạn như General Electric), và các
nhà sản xuất hóa chất (như DuPont và Dow Chemical) đang thay thế các chất
làm lạnh được sử dụng trong tủ lạnh và các hệ thống điều hoà không khí bằng
hoá chất bảo vệ tầng ô zôn. Các nhà sản xuất bán dẫn như Intel, Texas
Instruments, Lucent Technologies, và IBM đang bỏ ra một số lượng tiền lớn
trong việc đề ra cách thức mới để tái chế các chất gây ô nhiễm sinh ra trong quá
trình sản xuất vi mạch. Và rất nhiều công ty khác đang bắt đầu nỗ lực tái chế
chất thải để tránh tình trạng bão hòa bãi rác thải. Các công ty thép và các công ty
Nhóm 2
liên quan vẫn đang áp dụng các công nghệ sản xuất mới, không gây ô nhiễm bầu
khí quyển, ngăn ngừa chất gây ô nhiễm và mùi độc hại vào không khí. Các vấn
đề liên quan đến bảo vệ môi trường của chính phủ và xã hội là những thách thức
đối với các doanh nghiệp Mỹ. Việc thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường thân
thiện là một trong những kế hoạch phát triển lâu dài của họ.
Những thay đổi gần đây về chính trị tại Mỹ ảnh hưởng đến kinh doanh
bao gồm các thay đổi về thuế, trợ giúp nhiều hơn cho những người tàn tật và
khuyết tật, và pháp luật mới bảo vệ con người khỏi sự lạm dụng tình dục. Mỗi
sự thay đổi này đều tác động trực tiếp tới cách thức hoạt động của các công ty

đang sa sút về học tập và vì thế trở nên ít được tuyển dụng cho các doanh nghiệp
Mỹ. Xu hướng này đáng báo động, không chỉ vì có ít lực lượng lao động trẻ
trong dân số Mỹ - kết quả của việc thay đổi nhân khẩu học, mà còn vì những
Nhóm 2
nhân viên mới thường có kỹ năng làm việc kém, là gánh nặng đối với công ty
phải đào tạo lại để giúp họ học những kỹ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu công
việc.
Cuối cùng, một vấn đề quan trọng nữa mà tất cả các công ty sẽ phải đối
mặt ngày càng nhiều trong những năm tiếp theo đó là sự đòi hỏi ngày càng lớn
các nhà quản lý và người lao động phải sắp xếp công việc linh hoạt hơn. Ngày
càng có nhiều người quan tâm đến việc chăm sóc cha mẹ già, nhiều người phụ
thuộc vào việc chăm sóc con cái. Do vậy các bậc cha mẹ cần có một lịch làm
việc linh hoạt hơn để giúp họ chăm sóc con cái của họ trong những khoảng thời
gian chúng không đến trường. Chỉ riêng sự thay đổi này đã thúc đẩy nhiều công
ty, chẳng hạn như AT & T, IBM, và Xerox, hoặc đưa ra những điều kiện thuận
lợi để chăm sóc ban ngày hoặc tăng lợi ích của nhân viên, cho phép các nhà
quản lý và nhân viên giải quyết tốt hơn vấn đề chăm sóc trẻ em. Với số lượng
lực lượng lao động nữ ngày một tăng, vấn đề chăm sóc trẻ em sẽ trở thành một
thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Mỹ.
Sự phát triển của công nghệ
Những tiến bộ mới trong công nghệ đang làm sống lại cách cạnh tranh
của doang nghiệp Mỹ. Ví dụ, sự phát triển và sự mở rộng nhanh chóng của máy
tính cá nhân có thể nâng cao đáng kể năng suất làm việc của người lao động và
yêu cầu công việc đặt ra cho nhân viên. Sự bùng phát của Internet cho phép mọi
người mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ và liên lạc trực tuyến với nhau, đã bắt
đầu để xác định lại tính chất của nhiều ngành công nghiệp. Công nghệ truyền
thông, đặc biệt, là khả năng giúp con người có thể liên hệ với nhau theo những
cách mà các khái niệm truyền thống về khoảng cách và địa lý đã lỗi thời. Nhiều
công nghệ sản xuất mới được áp dụng trong sản xuất làm nâng cao chất lượng
sản phẩm, đẩy nhanh tốc độ quay vòng và giảm chi phí lưu kho. Trong bối cảnh

hiệu quả và linh hoạt hơn trong việc sử dụng các nguồn lực. Tốc độ thay đổi
công nghệ nhanh chóng vẫn tiếp tục, cả nhà lãnh đạo và các doanh nghiệp vẫn
đang tìm cách ứng dụng công nghệ cao để cải thiện sản phẩm và khả năng cạnh
tranh của họ. Sự cải tiến liên tục và thường xuyên sản phẩm, dịch vụ, quy trình
sản xuất, và khả năng phân phối sẽ trở thành cơ sở cho sự tăng trưởng trong
tương lai tại Mỹ và các nơi khác. Công nghệ phát triển sẽ đem đến cơ hội thực
sự cho các doanh nghiệp nếu có thể nắm bắt được nó, đồng thời cũng là mối đe
dọa cho những doanh nghiệp không có kỹ năng và không thể điều chỉnh được.
Qua cuốn sách này, chúng tôi sẽ chỉ ra các dạng công nghệ khác nhau đem đến
cơ hội mới và thách thức cho các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp khác
nhau.
Môi trường toàn cầu
Các doanh nghiệp trong tất cả các ngành công nghiệp đang phải đối mặt
với làn sóng toàn cầu hóa. Nói một cách đơn giản, thế giới đang trở nên nhỏ bé
mỗi ngày, và các doanh nghiệp Mỹ cần phải suy nghĩ về việc bán hàng và sản
xuất hàng hóa cho khách hàng, không phải là vấn đề khách hàng ở đâu. Toàn
cầu hóa hiện nay tạo ra cơ hội tốt cho nhiều công ty, như Coca-Cola, General
Electric, Intel, Cisco Systems, Caterpillar, Boeing, Citigroup, American Express,
AT & T, IBM, Colgate-Palmolive. Các công ty này đã phát triển rất tốt ngoài
phạm vi nước Mỹ và doanh thu của họ ngày càng tăn. Sự gia tăng của các thị
trường mới bên ngoài nước Mỹ đồng nghĩa với việc tạo ra nhiều việc làm hơn
cho các nhà xuất khẩu Mỹ, chẳng hạn như General Electric, Boeing, Caterpillar,
và Merck. Sự phát triển của các doanh nghiệp ở Brazil, Trung Quốc, Ấn Độ,
Nga và Đông Âu đồng nghĩa với việc có thêm việc làm cho người lao động Mỹ
và nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp Mỹ sẵn sàng phục vụ những thị
trường này.
Tất nhiên, toàn cầu hóa cũng đặt ra nhiều thách thức. Khi thị trường càng
mở cửa, nhiều ngành công nghiệp Mỹ sẽ cảm thấy áp lực cạnh tranh khốc liệt từ
những nhà sản xuất hiệu quả hơn từ nước ngoài. Đã có một số ngành công
nghiệp Mỹ đang quay cuồng từ sự tấn công của cạnh tranh toàn cầu, bao gồm

đại như máy bay thương mại, ô tô, hóa chất, máy tính, nông nghiệp và điện tử.
Sự lớn mạnh của đồng Euro - một loại tiền tệ chung châu Âu được lưu hành
trong phần lớn các quốc gia châu Âu cũng đưa ra những thách thức gián tiếp đến
nền kinh tế Mỹ, vì nó cho phép các công ty châu Âu đạt được khối lượng tới hạn
lớn hơn và sự ổn định của đồng tiền trong hoạt động kinh doanh của họ ở nước
sở tại. Các nước như Pháp, Đức, Ý, và Anh Quốc đã bắt đầu lên kế hoạch cuộc
chiến kinh tế, tạo điều kiện phối hợp lớn hơn hoạt động giữa các công ty của họ
để đối phó lại sự thống trị kinh tế của Mỹ, đặc biệt là trong thị trường công nghệ
cao như: hàng không vũ trụ, ô tô, thông tin liên lạc
Lợi nhuận từ sự ổn định kinh tế của các thị trường cũng đang tăng ở tây
bán cầu. Giữa những năm 90, Mỹ và các nước khác (trừ Cuba) ở Tây bán cầu
bắt đầu thảo luận kế hoạch thành lập khu vực thương mại tự do trải dài tư
Alaska đến Achentina trong năm 2005. Mỹ đã cho Chilê một cơ hội tham gia
hiệp định thương mại hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ mới: Nafta được ra
đời năm 1994 để hình thành khu vực thương mại tự do giữa Canada, Mỹ và
Mêhico. Vùng viễn đông và các nước Đông Nam á đã tham gia thảo luận tương
Nhóm 2
tự để thành lập khu vực mậu dịch tự do trong số đầu tầu kinh tế như Singapo,
Indonexia, Thái Lan và các nước khác.
Môi trường toàn cầu là rất quan trọng đối với doanh nghiệp Mỹ đến nỗi
chúng ta sẽ giành cả một chương để phân tích các kiểu chiến lược khác nhau mà
các công ty của Mỹ có thể chấp nhận để cạnh tranh hiệu quả hơn trong thế giới
không biên giới.
Đánh giá tác động của môi trường
Các công ty cần phải hiểu được rằng sự phát triển trong môi trường nói
chung bao gồm cả cơ hội và mối đe dọa. Ví dụ, cùng một xu hướng hoặc sự phát
triển môi trường có thể có ý nghĩa khác nhau cho các ngành công nghiệp khác
nhau. Xét về khía cạnh sự cần thiết phải bảo vệ môi trường. Đối với công ty
công nghiệp, đáp ứng nhu cầu này có thể làm tăng chi phí của họ trong kinh
doanh. Đối với các nhà sản xuất thép, nhôm, và đồng, ví dụ như Bethlehem

chính trị hoặc kinh tế riêng lẻ có thể dịch chuyển sự cân bằng nguồn lực và sự
gia đời của hầu hết các ngành công nghiêp.
Tóm lại, sự phát triển trong môi trường chung có thể ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến các công ty trong các ngành công nghiệp khác nhau. Môi
trường vĩ mô có thể xem như một chiếc ao lớn với hàng trăm công ty ở bên
trong. Khi ném một viên đá vào ao nó tạo ra hiệu ứng gợn mà tất cả các công ty
có thể cảm nhận được.
Nhóm 2
MÔI TRƯỜNG CẠNH TRANH
Môi trường chung bao gồm các yếu tố và sự phát triển mà nó ảnh hưởng
tất cả các công ty trong nền kinh tê. Hơn nữa, nhà quản lý phải giải quyết các
yếu tố mà ảnh hưởng của nó hạn chế đến môi trường cạnh tranh hiện tại. Môi
trường cạnh tranh hiện tại bao gồm: lực lượng nòng cốt hình thành trong nền
công nghiệp. Sự phân tích môi trường cạnh tranh cho công ty đề cập tới đánh giá
những yếu tố ảnh hưởng như thế nào tới sự thu hút của công nghiệp. Sự thu hút
ngành công nghiệp đưa ra tiềm năng cho vấn đề lợi nhuận mà kết quả từ sự cạnh
tranh trong nền công nghiệp đó. Mỗi sự hấp dẫn của nền công nghiệp hoặc tiềm
năng lợi nhuận, là chức năng giao thoa của nhiều yếu tố môi trường trực tiếp mà
nó quyết định bản chất sự cạnh tranh.
Mô hình 5 nguồn lực tạo sự hấp dẫn nghành công nghiệp
Trạng thái cạnh tranh của một nền công nghiệp có ảnh hưởng công ty phát
triển chiến lược như thế nào để kiếm lợi nhuận trong thời gian qua. Mặc dù tất
cả các ngành công nghiệp thì phải cạnh tranh, bản chất của sự cạnh tranh tương
đối khác giữa các công ty vd: sự cạnh tranh trong ngành công nghiệp hàng
không là một điều gì đó rất tàn khốc và xuất hiện bởi cuộc chiến giá rẻ, trong khi
các công ty ở ngành công nghiệp máy in destop thường cạnh tranh thông qua
đặc điểm sản phẩm nổi trội và mẫu mới. Sự cạnh ttranh trong công nghiêp được
quyết định bởi cấu trúc đặc biệt của nó. Cấu trúc công nghiệp đưa ra mối quan
hệ tương hỗ giữa 5 yếu tố khác nhau mà thể hiện thái độ cạnh tranh của công ty
trong lĩnh vực công nghiệp đó. Các công ty canh tranh với nhau như thế nào liên
DN nhập ngành
ti

m n
ă
ng


Khách hàng
Quy

n
thương
thuyết của
khách hàng
Các SP thay
thế
Đe doạ của các sản
phẩm và dịch vụ
thay th
ế

Nhóm 2 Exhibit (2-1) Mô hình năm yếu tố hấp dẫn trong ngành của POTER
Rào cản đối với những
DN mới nhập ngành
 Tiết kiệm theo quy mô

Những yếu tố quyết định
đến đe doạ của SP thay
thế
 Sự tương quan về
giá/Thực hiện SP thay thế
 Chi phí dịch chuyển
 Xu hướng của KH với
SP thay thế
Những yếu tố quyết định
đến quyền lực của nhà
cung cấp
 Xu hướng của KH với
SP thay thế
 Sự khác biệt đầu vào
 Chi phí dịch chuyển của
nhà cung cấp và các công
ty trong ngành


Ảnh hưởng của chi phí
đầu vào hay sự khác biệt
Những yếu tố quyết định
đến quyền lực của khách
hàng
 Tác dụng của đòn bảy
rào cản
 Sự tập trung của khách
hàng và công ty
 Mối quan hệ giữa chi
phí dịch chuyển của KH và

lượng nhà cung cấp
 Chi phí liên quan trong
tổng hàng hoá trong ngành 

ảnh hưởng của chất
lượng/Sản lượng thực hiện
 Lợi ích của khách hàng
 Quyết định của các nhà
phân tích độ nhạy Tóm lược ý chính:
 Môi trường cạnh tranh: Những nhân tố trực tiếp về kinh tế như những
người tiêu dùng, các đối thủ cạnh tranh, những nhà cung cấp, khách hàng
và tiềm năng của sản phẩm thay thế - có liên quan trực tiếp đến một công
ty trong ngành (cũng được hiểu như môi trường cạnh tranh).
 Sự hấp dẫn trong ngành: Tiềm năng về lợi nhuận khi có sự cạnh tranh
trong cùng một ngành. Một sự hấp dẫn ngành có tiềm năng lợi nhuận cao,
ngược lại tiềm năng lợi nhuận thấp sẽ không có sự hấp dẫn.
Cấu trúc của ngành: Mối tương quan giữa các yếu tố trong các công ty hay
trong môi trường cạnh tranh của ngành; những hình thái của các yếu tố kinh tế
và các nhân tố đó tương quan với nhau ảnh hưởng đến hành vi cạnh tranh của
các công ty trong cùng ngành.

Sự đe doạ của người mới nhập nghành
Lợi ích của một công ty sẽ bị ảnh hưởng mạnh khi các công ty khác ngăn
cản ngay từ khi mới nhập ngành. Người mới nhập ngành sẽ làm giảm lợi ích

động cao, chất lượng sản phẩm tốt hơn và tất nhiên là tiết kiệm được chi phí
sản xuất.
+ Phạ vi hoạt động trong mỗi giá trị sản phẩm lớn hơn làm cho DN có khả
năng tiết kiệm hơn.
+ Thông thường 1 DN hoạt động nằm trong ngành, sản phẩm của họ đã có
tiếng tăm trên thị trường cho nên họ có khả năng sản xuất và tiêu thụ vì họ
có thị trường riêng, có kế hoạch truyền thống cho nên họ có ưu thế về giá.
Điều đó gây trở ngại cho DN mới vào ngành.
Cá biệt hóa sản phẩm. Cá biệt hóa sản phẩm có nghĩa là các DN hiện có
trong ngành đã thành công trong việc tạo ra hình ảnh tốt về mác sản phẩm và
củng cố lòng tin của khách hàng nhờ các giải pháp marketing-mix (quảng cáo,
bao bì mẫu mã, dịch vụ sau bán hàng…). Vật cản này thường có tác dụng răn đe
rất lớn đối với những người mới nhập ngành tiềm năng, bởi vì để có thể có một
hình ảnh nhãn mác riêng cho snả phẩm của mình người mới nhập ngành phải
thực hiện một khoản đầu tư rất lớn cho chất lượng sản phẩm và những chiến
dịch quảng cáo đắt tiền.
Chi phí chuyển dịch. Đó là những chi phí trực tiếp mà người mua phải chịu
khi họ chuyển từ việc mua sản phẩm của các nhà sản xuất hiện tại snag mua các
snả phẩm của người mới nhập ngành (nhu cầu trợ giúp kỹ thuật, thời gian thích
ứng để sử dụng sản phẩm mới, chi phí về các thiết bị phụ trợ….). Nếu chi phí
này lớn thì những người mới nhập ngành cần phải đưa ra thị trường các sản
phẩm có chất lượng cao hơn hẳn so với các sản phẩm của các nhà sản xuất hiện
tại tới mức mà người mua có thể từ bỏ các DN hiện tại với một chi phí chuyển
dịch cao.
Nhóm 2
Tính đồng nhất của hàng hóa. Sự đồng nhất các sản phẩm và dịch vụ
được tạo ra bởi các DN hiện tại có thể thỏa mãn như các rào cản vào khác. Sự
đồng nhất các hàng hóa là đặc biệt quan trọng ít khi giành được những sản phẩm
mà đem lại giá trị (đồng đôla) cho khách hàng. Thông thường thì một loại hàng
hóa sẽ biểu hiện trong tâm trí người tiêu dùng mà sản phẩm đó là đáng tin cậy và

Packaging (20) 10.4
Nhóm 2
Health Care Products (47) 14.6
Drugs (24) 14.3
Medical supplies (23) 14.5
Health Care Services (33) 10.4
Household & Personal
Products (60) 9.4
Personal products (24) 13.5
Apparel & shoes (16) 9.4
Textiles & home
furnishings (9) 6.3
Home
entertainment (11) 2.2

Insurance (67) 11.7
Diversified (12) 11.9
Life & health (19) 11.5
Property & casualty (33) 11.1
Insurance services (3) 17.8
Metals (46) 9.7
Steel (27) 10.4
Nonferrous metals (19) 8.8
Retailing (119) 9.5
Department stores (10) 11.0
Apparel (19) 11.4
Consumer
electronics (9) 8.1
Drug & discount (26) 8.7
Home improvement (7) 10.5

ngăn cản việc đưa 1 sản phẩm mới vào nền công nghiệp. Ví dụ, khi Dr. Pepper
(hiện giờ là đơn vị của Cadbury-Schweppes) cố gắng phát triển trên mạng lưới
quốc gia những năm 1960 và 1970, thì Coca-Cola và PepsiCo đã không cho Dr.
Pepper thâm nhập vào nhiều thị trường bên ngoài quê hương Texas. Dr. Pepper
đã phải tự mình đứng lên bảo vệ thị trường ở miền Nam trước Coca-Cola và
Pepsi. Họ đã trả đũa vì sản phẩm của Dr. Pepper đã thâm nhập vào thị trường
miền tây và miền bắc. Sản phẩm của công ty tiếp cận với những ngành công
nghiệp khác như phim ảnh, vật tư y tế, dầu xe thường bị ngăn cản bởi những lời
đe dọa trả đũa.
Quyền thương thuyết của khách hàng
Khách hàng của các sản phẩm và dịch vụ của ngành công nghiệp đôi khi
có thể ảnh hưởng lớn đến các công ty để có được sản phẩm với giá thấp hơn và
dịch vụ tốt hơn. Tác dụng đòn bẩy này rất rõ ràng khi (1) khách hàng có hiểu
biết, (2) họ tiêu rất nhiều tiền vào sản phẩm công nghiệp, (3) sản phẩm công
nghiệp không được nhìn nhận là cần thiết đối với nhu cầu của người mua, (4)
khách hàng tập trung hơn các công ty sản xuất sản phẩm. Khách hàng cũng
mạnh mẽ khi sản phẩm không phân biệt được hay có giá cả dao động, và họ có
Nhóm 2
thể tự thâm nhập vào nền công nghiệp.
Hiểu biết của khách hàng. Khách hàng thiếu hiểu biết về chất lượng hay
hiệu quả của một sản phẩm sẽ bị thiệt khi mặc cả với người bán hàng. Một
người bán hàng có kinh nghiệm đôi khi có thể thuyết phục được khách hàng trả
giá cao, thậm chí là đối với một sản phẩm không khác biệt lắm với các đối thủ
khác. Bán hàng cho những khách hàng như thế này có thể kiếm được lợi nhuận
lớn hơn.
Ví dụ, trong nền công nghiệp phần mềm, phần mêm rất phức tạp và người
sử dụng có ít khả năng hay thời gian để so sánh với các sản phẩm của các công
ty khác nhau. Do đó, khách hàng lệ thuộc vào lời khuyên của các công ty và nhà
phân phối phần mềm để dánh giá nhu cầu về phần mềm. Vì lí do này và các lí do
khác (bao gồm giá cả dao động, kĩ năng đặc biệt, bản quyền), các công ty phần

Nhóm 2
Điều này là ngoại lệ khi bệnh nhân có bảo hiểm y tế và họ không phải trả hoàn
toàn chi phí thuốc thang. Đơn thuốc mới chính là điều quan trọng với sức khỏe
người bệnh và thường được kê với giá khá cao. Điều này đã góp phần làm cho
lợi nhuận của ngành công nghiệp dược tăng đến 14,3%. Tuy nhiên, với sự can
thiệp của chính phủ vào điều chỉnh giá cũng sẽ làm cho lợi nhuận của ngành bị
giảm xuống.
Sự tập trung của khách hàng.Khi khác hàng tập trung hơn các nhà sản
xuất, các nhà sản xuất có sự lựa chọn khi tìm kiếm khách hàng. Khách hàng
thường có được giá cả và dịch vụ tốt hơn. Ví dụ, các công ty lớn trong ngành
công nghiệp máy tính và ô tô đã thường mặc cả rất quyết liệt với những nhà
cung ứng bởi vì họ tập trung hơn những nhà cung ứng. Các công ty máy tính và
ô tô cũng có thể đưa ra mức giá cao bởi vì họ có được viễn cảnh bán ra được số
lượng sản phẩm lớn. Việc tập trung của người mua lớn hơn người bán cũng xuất
hiện trong lĩnh vực nông nghiệp. các công ty như Archers-Daniel-Midland
(ADM), Farmland Industries, Corn Products International, và Cargill có thể
có sức mạnh mặc cả đối với nông dân, đã cung cấp ngô và lúa mì cho họ. Trong
ngành công nghiệp chăm sóc sức khỏe, nhiều công ty đã cùng nhau thành lập
hiệp hội mua bảo hiểm sức khỏe. Những hội này khuyến khích công ty mua bảo
hiểm y tế cho các nhân viên và họ có các ưu đãi tốt hơn các công ty riêng lẻ có
thể đáp ứng.
Sản phẩm không khác biệt. Khách hàng có thể mặc cả khi họ mua những
sản phẩm tiêu chuẩn, không khác biệt từ người bán hàng. Họ có thể không mua
của người này và chuyển sang mua của người khác mà không cần suy nghĩ đến
giá cả dao động. Hiện tượng này làm tăng sức mạnh mặc cả của họ. Ví dụ về
việc những nhà sản xuất ô tô mua thép. Đối với hầu hết các bộ phận, thép là chất
liệu không khác biệt. Do đó, General Motors, Ford, và Chrysler có thể mua được
sản phẩm với giá rẻ hơn.
Khách hàng thâm nhập nền công nghiệp. Sức mạnh mặc cả của người
mua được tăng lên nếu họ có thể thâm nhập nền công nghiệp mà họ đang sử


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status