chuyên đề việt nam và nợ nước ngoài - Pdf 15

TRƯỜNG ………………….
KHOA……………………….

Chuyên đề
Đề tài:
Việt nam và nợ nước ngoài
1
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong những năm qua nước ta liên tục đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, đó
không chỉ dựa vào yếu tố nội sinh, mà còn có sự tác động của yếu tố bên ngoài. Để đạt
được tốc độ tăng trưởng cao trong điều kiện tiết kiệm trong nước còn hạn chế, các
nước đang phát triển thường thu hút các nguồn vốn nước ngoài bằng nhiều cách khác
nhau, trong đó vay nợ là một phương thức phổ biến. Vay nợ nước ngoài bao gồm vay nợ
dưới hình thức vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) có tính chất ưu đãi và vay
thương mại theo các điều kiện thị trường. Chính nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài đã
giúp nhiều quốc gia khắc phục tình trạng chậm phát triển và chuyển sang phát triển bền
vững.
Nợ nước ngoài phải được sử dụng một cách có hiệu quả để đáp ứng các nhu cầu
đầu tư, đồng thời phải thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng, nhằm tạo nguồn vốn trả nợ,
đảm bảo phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, cũng có không ít quốc gia không
những không cải thiện được một cách đáng kể tình hình kinh tế mà còn lâm vào tình
trạng nợ nần, khủng hoảng nợ và kinh tế suy thoái. Nguyên nhân của những thất bại
trong việc vay nợ nước ngoài cũng có rất nhiều, trong đó phải kể đến buông lỏng quản lý
nợ nước ngoài. Chính vì vậy chính sách quản lý nợ nước ngoài là một bộ phận thiết yếu
trong chính sách tài chính quốc gia.
Vấn đề quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1993 khi
nước ta chính thức thiết lập lại quan hệ hợp tác đa phương với các tổ chức tín dụng lớn
trên thế giới như Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) và Ngân hàng
Phát triển Châu Á (ADB). Song, cũng từ đó các cam kết hỗ trợ vốn ODA của các nước

hỏi Chính phủ phải có những
“bước đi” hợp lý, đặc biệt trong việc vay, quản lý và trả
nợ nước ngoài để tránh “bước
nhầm những vết xe đã đổ” của các nước đi trước

Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình làm bài, và không
thể nào tránh khỏi
những thiếu sót. Chúng em rất mong nhận được được sự góp ý chân thành của thầy và
các bạn nhằm giúp cho đề tài được hoàn thiện hơn.
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung vào việc nghiên cứu hệ thống quản lý nợ
hiện hành và phân tích thực trạng quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam thông qua các chỉ số
kinh tế và chỉ số nợ nước ngoài trên giác độ vĩ mô.
Mục đích nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu chủ yếu của đề tài tập trung vào công tác
quản lý nợ nước ngoài, các biến số và các chính sách có ảnh hưởng đến tính bền vững
của nợ nước ngoài giai đoạn 2005-2010.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
 Thu nhập thông tin từ các nguồn cung cấp khác nhau.
3
 Thống kê, tổng hợp những thông tin thu thập được.

Phân tích những thông tin thu thập được. Từ đó đưa ra những kết luận cụ thể
cho từng vấn đề ở mỗi thời kỳ.
Trong đó, phương pháp chính là thống kê: mô tả và phân tích phù hợp
mục tiêu
nghiên cứu.
4. KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài gồm có 3 chương:
 Chương 1: Tổng quan về việc quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam.

“Tổng nợ nước ngoài tại bất kỳ thời điểm nào là số dư nợ của các công nợ thường xuyên thực
tế, không phải công nợ bất thường, đòi hỏi bên nợ phải thanh toán gốc và/hoặc lãi tại một (số)
thời điểm trong tương lai, do đối tương cư trú tại một nền kinh tế nợ đối tượng không cư trú”.
Theo khái niệm này, khái niệm nợ nước ngoài không tách rời khái niệm đối tượng cư trú.
1.1.2. Phân loại nợ nước ngoài
 Phân loại theo chủ thể đi vay: nợ công/nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh và nợ tư
nhân.
Nợ công và nợ tư nhân được Chính phủ bảo lãnh: Nợ công được định nghĩa là các nghĩa vụ nợ
của các khu vực công và bao gồm nợ của khu vực công cùng với nợ của khu vực tư nhân được
khu vực công bảo lãnh.
Nợ tư nhân: Loại nợ này bao gồm nợ nước ngoài của khu vực tư nhân không được khu vực
công của nền kinh tế đó bảo lãnh theo hợp đồng. Về bản chất đây là các khoản nợ do khu vực
tư nhân tự vay, tự trả.
 Phân loại theo thời hạn vay: nợ ngắn hạn và nợ dài hạn.
Nợ ngắn hạn là loại nợ có thời gian đáo hạn từ một năm trở xuống. Vì thời gian đáo hạn ngắn,
khối lượng thường không đáng kể, nợ ngắn hạn thường không thuộc đối tượng quản lý một cách
chặt chẽ như nợ dài hạn. Tuy nhiên nếu nợ ngắn hạn không trả được sẽ gây mất ổn định cho hệ
thống ngân hàng.
Nợ dài hạn là những công nợ có thời gian đáo hạn gốc theo hợp đồng hoặc đã gia hạn kéo
5
dài trên một năm tính từ ngày ký kết vay nợ cho tới ngày đến hạn khoản thanh toán cuối cùng.
Nợ dài hạn là loại nợ được quan tâm quản lý nhiều hơn do khả năng tác động lớn đến nền tài
chính quốc gia.
 Phân loại theo loại hình vay: vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vay
thương mại
Vay hỗ trợ phát triển chính thức (ODA):
Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác Kinh tế và
Phát triển (OECD), hỗ trợ
phát triển chính thức bao gồm các chuyển khoản song phương
(giữa các Chính phủ) hoặc đa phương (từ các tổ chức quốc tế cho Chính phủ), trong đó ít nhất

đến 3030 USD/năm), các nước có thu nhập trung bình cao (từ 3031 đến 9360 USD/năm), các
nước có thu nhập cao (trên 9360 USD/năm). Các nước có thu nhập cao thì khả năng trả nợ cao,
hoặc không là nước đi vay mà còn là nước cho vay.
Căn cứ vào khả năng thanh toán, thì chia ra: Các nước có khả năng thanh toán là đảm bảo
việc trả nợ gốc khi đến hạn và trả nợ lãi đều đặn; các nước không có khả năng thanh toán là
các nước không trả được nợ gốc khi đến hạn, do đó phải thương lượng lại cơ cấu nợ, tiến độ
trả nợ và kèm theo một ân hạn trong thời gian đó. Thậm chí có nhũng nước không có khả năng
6
trả nợ, dẫn đến vỡ nợ và các nước chủ nợ không có cách nào khác ngoài việc xoá nợ, như một số
nước châu Phi đã được nhóm nước G8 phải xoá nợ tới trên 30 tỷ USD.
Việc phân loại theo mức độ nợ này có chủ ý chỉ ra rằng các nước nếu rơi vào các
nước
nợ quá nhiều thì khả năng trả nợ là rất khó khăn, thậm chí trong đó các nước
không có khả
năng trả nợ. Liên Hợp Quốc đã lập danh sách các nước nghèo, nợ nần quá nhiều (HIPCs) trên
toàn thế giới, bao gồm 24 nước, hầu hết ở châu Phi và một số nước ở khu vực Mỹ Latinh. Với
không ít nước thuộc nhóm nợ vừa phải, nhưng cũng không có khả năng thanh toán, thì các nhà
tài chính và ngân hàng của các nước này phải thay mặt Chính phủ để đi thương lượng nhằm
kéo dài thời gian trả nợ, có thể xin giảm bớt lãi suất…
1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá nợ nước ngoài
1.1.4.1. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ nợ nước ngoài
Để đánh giá mức độ nợ của nước ngoài, các chỉ tiêu thường được các tổ chức quốc tế
thường dùng là:
 Khả năng hoàn trả nợ vay nước ngoài
Tổng nợ/Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá dịch vụ: Chỉ tiêu này biểu diễn tỷ lệ nợ nước
ngoài bao gồm nợ tư nhân, nợ được Chính phủ bảo lãnh trên thu nhập xuất khẩu hàng hoá và
dịch vụ. Ý tưởng sử dụng chỉ tiêu này là nhằm phản ánh nguồn thu xuất khẩu hàng hoá và dịch
vụ là phương tiện mà một quốc gia có thể sử dụng để trả nợ nước ngoài. Những khó khăn khi
sử dụng chỉ tiêu này là: Nguồn thu xuất khẩu dễ
biến động từ năm này sang năm khác, ngoài

tình hình nợ nước ngoài của một nước thay đổi theo chiều hướng tốt.
1.1.5. Vai trò của nợ nước ngoài:
Nợ nước ngoài đáp ứng các nhu cầu về vốn đầu tư:
Để thúc đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh
tế xã hội, nhu cầu vốn đầu tư của các
nước đang phát triển rất lớn, vượt quá khả năng đáp ứng
của quốc gia. Vay nước ngoài
là nguồn bổ sung phổ biến mà các nước đang “thiếu vốn”
thường hay sử dụng. Nợ
nước ngoài cũng có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế bằng việc
đầu tư vào các
ngành mũi nhọn, tạo đà cho nền kinh tế phát triển.
Nợ nước ngoài góp phần chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực quản lý:
Bên cạnh
việc dùng các nguồn lực tự có để nhập khẩu các máy móc, thiết bị kèm theo chuyển giao công
nghệ và kỹ năng quản lý, việc vay vốn nước ngoài góp phần bổ sung thêm nguồn vốn để nhập
các máy móc, thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến cùng với kỹ năng quản lý nước ngoài.
Nợ nước ngoài ổn định tiêu dùng trong nước: Khi có những cơn sốc đột ngột giáng vào nền
kinh tế, sản lượng bị thiếu hụt nặng nề và tiêu dùng trong nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Trong những trường hợp như vậy, bên cạnh các khoản viện trợ khẩn cấp, các khoản vay nợ
nước ngoài khẩn cấp đóng vai trò là biện
pháp ổn định tiêu dùng trong nước trong ngắn hạn,
trong khi nền kinh tế được hồi
phục.
Vay nợ nước ngoài bù đáp cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán có thể tạm thời bị thâm hụt
do điều kiện bất lợi tạm thời trong thương mại quốc tế. Chẳng hạn khi giá hàng xuất khẩu các
sản phẩm của một nước bị giảm sút mạnh so với giá hàng nhập khẩu, nước đó cũng có thể sủ
dụng biện pháp vay nợ nước ngoài để duy trì tiêu dùng trong ngắn hạn. Tuy nhiên, giải pháp này
thường có rủi ro cao, vì không có gì chắc chắn rằng các nước đi vay sẽ có thu nhập khá hơn khi
đến hạn phải trả nợ. Thêm vào đó, các khoản vay nợ để bù đắp cán cân thương mại

năng lượng và công nghiệp (21,78%), nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp xoá đói giảm
nghèo (15,66%). Nhờ tập trung vốn ODA quy mô lớn nên hầu hết các lĩnh vực đều có bước
phát triển nhất định, hàng loạt các dự án được thực hiện, hỗ trợ đáng kể cho việc hoàn thành
các mục tiêu kinh tế - xã hội của Chính phủ. Đối với nước tiếp nhận viện trợ, ODA được xem
như một nguồn lực thực sự nếu
nó được kết hợp hiệu quả với các nguồn lực trong nước khác
để đạt được mục tiêu
quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Đối với các nhà tài trợ, ODA sẽ trở
thành nguồn vốn viện trợ thật sự nếu nó được chuyển giao cho nước tiếp nhận để gián tiếp hay
trực tiếp tạo ra các điều kiện cho phát triển. Từ những tác động của nguồn vốn này trong
thời gian qua, có thể khẳng định ODA ở Việt Nam đã trở thành một nguồn vốn thực sự và hiệu
quả trong tiến trình đổi mới đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trong thu hút và
sử dụng vốn ODA, còn tồn tại nhiều vấn đề mà Việt Nam cần phải giải quyết để sử dụng
nguốn vốn này có hiệu quả hơn trong tương lai.
9
 Về vay thương mại:
Chính phủ vay nợ nước ngoài về cho vay lại
Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
trong thời
gian qua Chính phủ đã sử dụng một phần vốn ODA vay nợ nước ngoài để cho vay lại đối với
các dự án, các chương trình đầu tư có khả năng hoàn vốn của các Bộ, các địa phương. Tỷ lệ
cho vay lại chiếm khoảng 45% tổng số vốn vay ODA của Chính phủ.
Cho vay lại của Chính phủ được thực hiện chủ yếu thông qua 2 công cụ, Quỹ Hỗ trợ Phát
triển (nay là Ngân hàng Phát triển Việt Nam) và các ngân hàng thương mại. Một số dự án
được thực hiện nhờ hoạt động cho vay lại của Chính phủ là dự án phát triển ngành công nghiệp
đóng tàu của Vinashin (750 triệu USD), dự án nâng cao hiệu
suất ngành điện (hơn 30 triệu
USD), dự án tài trợ nông thôn (93,7 triệu USD), điện
Phú Mỹ (71,6 triệu USD) v.v…
Bảo lãnh Chính phủ đối với các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khi vay

Sau một giai đoạn chuẩn bị, ngày 27/10/2005, Chính phủ đã chính thức phát hành trái phiếu
trên thị trường chứng khoán New York với tổng số vốn huy động được là 750 triệu USD, lãi
suất 7,125%/năm, thời hạn 10 năm. Đợt phát hành trái phiếu chính
phủ (TPCP) lần đầu tiên ra
thị trường vốn quốc tế đã giúp Việt Nam đa dạng hoá
nguồn huy động vốn, thiết lập một
10
“thang chuẩn” để giúp cho các doanh nghiệp và địa phương huy động vốn sau này.
Trái phiếu quốc tế của Chính phủ đã thu hút được sự quan tâm rất lớn của các nhà đầu tư
nước ngoài trên khắp thế giới. Trong so 255 nhà đầu tư mua trái phiếu có 51% là các quỹ đầu tư
tài chính, ngân hàng là 25%, các công ty bảo hiểm là 17% và 7% là các tổ chức đầu tư khác. Số
trái phiếu này được phát hành rộng rãi ở châu Á (nắm giữa 38%), châu Âu (32%) và châu Mỹ
(30%).
Toàn bộ số tiền huy động được giao cho Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam
(Vinashin - Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam) sử dụng để đầu tư phát triển sản xuất
kinh doanh.
Việc phát hành trái phiếu quốc tế có thể thực hiện qua 3 hình thức: Chính phủ Việt Nam phát
hành về cho vay lại, Chính phủ bảo lãnh cho doanh nghiệp phát hành trái phiếu doanh nghiệp,
doanh nghiệp tự trực tiếp phát hành mà Chính phủ không phải bảo lãnh
Trong cơ cấu nợ nước ngoài, chủ yếu là nợ trung và dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư
dài hạn vào cơ sở hạ tầng. Các khoản nợ do Chính phủ bảo lãnh cũng chiếm
tỷ trọng không đáng
kể trong tổng số nợ nước ngoài của Chính phủ (trung bình nợ
Chính phủ bảo lãnh chiếm
khoảng 7%).
2.1.2. Tình hình vay nợ nước ngoài của Việt Nam
Nhìn chung, nợ của Việt Nam đến thời điểm này không quá lo ngại, do chúng ta đã thành
công trong việc xử lý nợ đến hạn, khống chế được luồng nợ vay ngắn hạn… nhưng còn một số
vần đề trong sử dụng và quản lý nợ ở nước ta còn nhiều vướng mắc cần được giải quyết.Đó là
trong vay nợ và viện trợ, chúng ta chưa xác định rõ mục tiêu, hiệu quả theo

Chính phủ đó tạo nguồn
để trả nợ. Mặc dù trong cơ cấu nợ vay nước ngoài của Việt Nam nợ trung và dài hạn chiếm tỷ
trọng chủ yếu (năm 2006 chiếm 98,25% tổng nợ), nợ ngắn hạn chỉ chiếm tỷ trọng khá nhỏ. Tuy
nhiên, cơ cấu nợ của Việt Nam chưa hợp lý là nợ công và nợ bảo lãnh công lại ngày càng cao,
tạo áp lực chi trả của Chính phủ.
Mặt khác, các khoản vay trong những năm 1990 sẽ đến hạn,
thời gian ân hạn cho
những khoản vay trước đó sẽ dần kết thúc nghĩa vụ nợ tăng lên, sẽ gây
những khó
khăn cho công tác trả nợ.
2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NỢ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
2.2.1. Cơ chế quản lý nợ
Hệ thống các cơ quan thực hiện quản lý nợ Chính phủ hiện nay vẫn chưa phân
định rõ
chức năng, nhiệm vụ. Với số lượng các cơ quan tham gia quản lý nợ hiện nay,
khó có thể và
thậm chí không thể có những phản hồi kịp thời đối với các cơ hội thị trường.
Số lượng các cơ quan trên đã giãm xuống sau khi ban hành Luật Ngân sách sửa đổi. Tuy
nhiên, vẫn còn một số lượng lớn các cơ quan chịu trách nhiệm về giám sát, phân tích và quản
lý nợ của Chính phủ.
Hiện nay cả Bộ Tài chính (Bộ TC), Bộ Kế hoạch - Đầu tư (Bộ KH & ĐT), Ngân hàng Nhà
nước (NHNN) và một số cơ quan khác cùng được giao nhiệm vụ quản lý nợ
Chính phủ mà
không xác định được chính xác phạm vi hoạt động của từng đơn vị.
Luật Ngân sách Nhà
nước quy định Bộ Tài chính là cơ quan xây dựng chiến lược, kế
hoạch vay nợ, trả nợ trong và
ngoài nước (điều 21), Quy chế Quản lý vay và trả nợ
nước ngoài quy định, Bộ KH & ĐT chịu
trách nhiệm xây dựng chiến lược quốc gia và trả nợ nước ngoài (điều 6). Luật Tổ chức Các Tổ

Các chỉ tiêu theo dõi và đánh giá nợ cũng không được tập hợp thành một hệ thống nhằm xác
định mức độ nghiêm trọng của nợ cũng như làm cơ sở xây dựng chiến lược dài hạn về nợ
chính phủ.
2.2.2. Đánh giá về tình hình nợ nước ngoài tại Việt Nam
Đánh giá và giám sát tình hình nợ nước ngoài là việc Chính phủ, cơ quan quản lý nhà nước
liên quan thông qua hệ thống chỉ tiêu nợ nước ngoài thực hiện theo dõi, đánh giá thường xuyên
tình trạng nợ nước ngoài, phân tích danh mục nợ để kịp thời phát hiện những dấu hiệu mất cân
đối trong thanh toán quốc tế của nền kinh tế, các khó khăn tài chính trong việc trả nợ
nước
ngoài của khu vực công và tư nhân, quản lý tốt rủi ro nhằm điều chỉnh chính
sách vay nợ và
danh mục nợ phù hợp, kịp thời, đảm bảo bền vững nợ theo các ngưỡng an toàn và an ninh tài
chính quốc gia.
Cơ quan chủ trì đánh giá, giám sát nợ là Bộ Tài chính. Cơ quan phối hợp thực hiện
việc đánh
giá, giám sát là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Kế hoạch - Đầu tư,
Tổng Cục thống kê,
Bộ Công thương; các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương có sử dụng vốn vay nước ngoài của Chính phủ.
nhìn vào hình 2.5 ta thấy: Tỷ lệ nợ nước ngoài có xu hướng giảm dần qua các năm từ
2003-2010, năm sau giảm hơn năm trước (ngoài trừ chỉ tiêu nợ dịch vụ). tổng nợ/GDP từ
2003-2007 nhin chung ổn định, 2007-2010 giam nhe.Tổng nợ/xuất khẩu giảm dần từ 2003-
2010, nợ dịch vụ/xuất khẩu hầu như ổn định.
Đặc biệt trong năm 2008, cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới ngày càng lan rộng trên
phạm vi toàn thế giới thì tình hình nợ nước ngoài của Việt Nam không những không tăng mà còn
giảm
2.2.3. Hiệu quả sử dụng nợ vay
Vốn vay là nguồn hỗ trợ chủ yếu cho quá trình điều hành và cân đối Ngân sách Nhà nước
(NSNN). Có thể thấy điều đó thông qua sự ổn định trong NSNN trong thời gian qua. Nguồn vốn
vay của Chính phủ được ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế xã hội, cụ thể các dự án về giao

dẫn đến nguồn vốn khi huy động thì rất
nhanh, trong một thời gian ngắn có thể đáp ứng nhu
cầu về vốn, nhưng tốc độ giải
ngân thì chậm, ảnh hướng đến việc sử dụng vốn sao cho vừa
đúng mục đích vừa thoả mãn nhu cầu cầu về vốn vừa làm cho đồng vốn sinh lời để trả nợ. Với
đồng vốn giải ngân chậm mà không được đưa đồng vốn giải ngân vào sử dụng cho mục đích
khác đã làm cho hiệu quả của nợ vay giảm rất nhiều.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB), hiện nay tốc độ giải ngân của Việt
Nam chỉ
đạt khoảng 50%/năm. Thanh toán nợ của Việt Nam chỉ chiếm 28% GDP.
Đây chính là một
trong những vấn đề mà các nhà tài trợ mong muốn Việt Nam cần quan tâm cải thiện. Việc
chậm giải ngân đồng nghĩa với tiến trình thực hiện chậm, vì
thế lợi ích thu được hạn chế, ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Trên thực tế, các
khoản vay nước ngoài hiện nay chủ yếu là
có điều kiện ưu đãi nên lãi suất thấp hơn khoản nợ vay trong nước nên số chi trả nợ nước ngoài
luôn thấp hơn chi trả nợ trong nước. Cùng với mức thâm hụt NSNN vẫn ở mức trên 5% GDP
như hiện nay nếu không kiểm soát chặt chẽ hoạt động vay và trả nợ nước ngoài thì khả năng
các chỉ số về nợ nước ngoài sẽ gia tăng vượt ngưỡng an toàn. Nền kinh tế Việt Nam vẫn gặp
nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng GDP còn thấp và chưa bền vững, kim ngạch xuất khẩu chưa
cao, dự dự ngoại hối “mỏng”… Trong những năm qua số trả nợ của chúng ta còn thấp do hầu hết
là những khoản vay mới chưa đến kỳ hạn trả, trong những năm tới áp lực trả nợ sẽ gia tăng lên
do nhiều khoản vay đã đến hạn trả.
Nguồn vốn vay nước kết hợp với nguồn vốn trong nước sẽ tạo nên một hợp lực
thúc đẩy
nền kinh tế tiến mạnh trên quỹ đạo tăng trưởng và phát triển của nó. Song
phải nhận thức
rằng vay nợ nước ngoài là một vấn đề bất đắc dĩ, là hai mặt phải trái đối lập nhau và bất cứ lúc
nào mặt trái của nó cũng có thể quay lại làm ảnh hưởng nền kinh tế, gây nên tình trảng khủng

hành Quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý toàn diện và rõ
ràng hơn về quản lý nợ nước ngoài. Tiếp đó, một loạt các Quy chế và Quyết định mới được ban
hành trong năm 2006 chứng tỏ quyết tâm thể chế hoá các lĩnh vực quản lý nợ nước ngoài để tăng
cường hiệu quả quản lý nhà nước toàn diện trong lĩnh vực này.
2.3.1.3.Hệ thống tổ chức quản lý nợ nước ngoài đã hoàn thiện và từng bướcđược cải thiện
Việc xác định Bộ Tài chính là cơ quan đầu mối chịu trách nhiệm về tổng thể nợ nước
ngoài là một sự chuyển dịch quan trọng để đi tới hoàn thiện hệ thống quản lý nợ quốc gia. Đây
cũng là một hướng chuyển đổi chức năng quản lý nợ phù hợp với thực tiễn quốc tế. Việc gắn
khâu hoạch định chiến lược, kế hoạch vay vốn nước ngoài với trách nhiệm trả nợ vào một đơn
vị là Bộ Tài chính, giúp tăng cường sự điều phối sử dụng vốn vay nước ngoài và các hoạt động
giám sát nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn vốn này.
2.3.1.4. Nâng lực cán bộ đang từng bước được nâng cao:
Lực lượng cán bộ quản lý nợ nước ngoài, đặc biệt là các cán bộ Vụ Tài chính Đối ngoại (Bộ Tài
chính) cũng đã được đào tạo nâng cao năng lực thông qua các khoá bồi dưỡng, các hoạt động
của các dự án xây dựng năng lực quản lý nợ nước ngoài. Nâng lực cán bộ được nâng cao thể
hiện rất rõ trong việc ban hành các văn bản pháp quy có chất lượng hơn, phù hợp hơn với thông
lệ quốc tế và thực tiễn hoạt động của nền kinh tế, tạo thuận lợi cho những đối tương phải tuân
thủ và những người thực thi, giám sát.
2.3.2.Một số tồn tại trong quản lý nợ nước ngoài
2.3.2.1.Tồn tại trong quản lý vĩ mô
Về mặt kinh tế vĩ mô, nền tài chính chưa hoàn toàn thoát khỏi tình trạng ức chế, thể hiện ở
việc tín dụng vẫn chủ yếu “rót” vào các doanh nghiệp nhà nước theo các điều kiện ưu đãi,
trong khi các doanh nghiệp tư nhân chỉ được tiếp cận một cách hạn chế; lãi suất thực bị giữ ở
mức quá thấp. Nền tài khoá thâm hụt thường xuyên và phần nào phụ thuộc vào phần thu từ dầu
mỏ.
Cơ chế cấp bảo lãnh và cho vay lại nguồn vốn ODA của Chính phủ nói chung vẫn có xu
hướng tập trung tín dụng ưu đãi vào các doanh nghiệp nhà nước, trong khi chưa có những dấu
hiệu đáng kể cho thầy rằng hiệu quả của các dự án tài trợ đã được thẩm
định một cách nghiêm
15

một bất cập lớn, nó làm khung pháp lý quản lý nợ nước ngoài trở nên rườm rà, khó theo dõi và
thực hiện. Tình trạng này làm tăng chi phí của các tổ chức, doanh nghiệp - đối tượng phải tuân
thủ, cũng như chi phí của các cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, giám sát và tuân thủ. Sự chồng
chéo về quy định quản lý nợ nước ngoài: thể hiện ở sự tồn tại song song của các quy định về
quản lý nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và các quy định về quản lý nợ nước ngoài
nói chung, trong khi phần lớn nợ nước ngoài của Việt Nam là nợ ODA. Luật Ngân sách và Quy
chế Quản lý vay, trả nợ nước ngoài quy định Bộ Tài chính chịu trách nhiệm chính trong việc lập
và thực hiện kế hoạch trung và dài
hạn về vay trả nợ nước ngoài, Bộ KH & ĐT chịu trách
nhiệm chính trong việc xây
dựng kế hoạch thu hút và trả nợ ODA. Đây là một bất cập không
có lợi cho việc thực hiện có hiệu quả các chức năng quản lý nợ nước ngoài.
2.3.2.3. Tồn tại trong hệ thống quản lý nợ nước ngoài
Tính chất chưa đồng nhất của
hệ thống quản lý nợ nước ngoài vẫn vòn đang tồn tại.
Tương tự với sự tồn tại song
song của các quy định về quản lý nguồn vốn ODA và các quy định
về quản lý nợ nước
ngoài nói chung mà trong đó là phần lớn là nợ ODA là sự theo dõi và làm
đầu mối
song song của hai ngành cho cùng một chủ thể quản lý.
Kết quả là còn khá nhiều sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ của hai bộ kinh tế chủ chốt
này, đặc biệt là trong các lĩnh vực lập kế haọch tập trung, chính sách, thu thập thông tin, giám sát
và đánh giá hiệu quả vốn vay nước ngoài. Việc này gây lãng phí nguồn lực không cần thiết và
phức tạp trong quản lý nợ.
2.3.2.4. Tồn tại trong cơ chế quản lý nợ nước ngoài
Phân công trách nhiệm quản lý nợ còn nhiều điểm bất hợp lý
Việt Nam hiện nay chưa có một cơ quan chuyên biệt về quản lý nợ. Nhiệm vụ
quản lý
nợ được giao cho nhiều cơ quan khác nhau tuỳ theo chuyên môn chức năng của họ như Bộ Tài

Những phânh tích như vậy mới
chỉ phản ánh nợ ở dạng tĩnh tại một thời điểm nhất định.
Hệ thống các chỉ số đánh giá tình trạng nợ nước ngoài của một nước chỉ cho phép
đánh giá
mức độ nợ nần trong những thời điểm nhất định, chưa đánh giá trong một
khoảng thời gian
dài. Chỉ số nợ trên giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ là một chỉ số quan trọng đánh giá khả
năng vay nợ của một nước chỉ được tính toán dựa trên số dư nợ và giá trị xuất khẩu, không tính
đến các biến khác có mối liên hệ chặt chẽ đến khả
năng trả nợ thực tế và diễn biến của nợ như
số dư nợ ban đầu, lãi suất, tốc độ tăng
trưởng của xuất khẩu và nhập khẩu.
2.3.3.Nguyên nhân của những tồn tại
2.3.3.1.Yếu tố lịch sử
Về nguyên nhân những hạn chế của hệ thống quản lý nợ nước ngoài ở Việt Nam,
cần phải
thừa nhận rằng yếu tố lịch sử đóng vai trò rất lớn. Quản lý nợ nước ngoài
trong nền kinh tế thị
trường chỉ mới được triển khai ở nước ta từ những năm 1995, khi mà các dự án vay nợ ODA của
các ngân hàng đa phương lớn bắt đầu giải ngân đáng kể. Kinh nghiệm và thực tiễn quản lý nợ
nước ngoài trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam chưa có nhiều và hệ thống quản lý nợ
nước ngoài còn đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện.
Thêm vào đó, về nhận thức vẫn còn tồn tại cách hiểu chưa đúng thực chất về nợ ODA.
Quan niệm ODA như các khoản viện trợ không hoàn lại nên không tính toán kỹ khả năng hoàn
vốn, dẫn đến lãng phí và tham nhũng. Quan niệm sai lầm này dẫn đến
tình trạng tranh thủ
nguồn vốn ODA mà không tính toán hiệu quả kinh tế, tính bền
vững của dự án cũng như khả
17
năng trả nợ.


2.3.3.5. Hệ thống và quy trình kiểm định các dự án đầu tư còn yếu kém
Quản lý nợ nước ngoài bền vững có liên quan rất chặt chẽ với việc thẩm định và đảm bảo
hiệu quả đầu tư. Từ phương diện này, những điểm yếu của hệ thống và quy trình thẩm định,
quản lý các dự án đầu tư, vốn đã là thực tiễn nhiều năm của nước ta, đã có tác động đến công
tác quản lý nợ nước ngoài. Nguồn vốn vay nước ngoài trên thực tế cũng được phân bổ cho các
chương trình, dự án ưu tiên như nguồn vốn ngân sách. Bởi vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý
nợ nước ngoài trong dài hạn thì cái gốc vẫn là phải nâng cao hiệu quả đầu tư công cộng nói
chung.
2.3.3.6. Ứng dụng công nghệ thông tin còn yếu kém
Phần mềm quản lý nợ nước ngoài đang sử dụng tại Bộ TC và NHNN chưa được hỗ trợ đầy
đủ các ứng dụng như chuẩn tiếng Việt Unicode, chuẩn trao đổi dữ liệu điện tử… Việc ứng dụng
công nghệ thông tin ở cấp địa phương còn yếu hơn nhiều, yếu cả về trang bị hệ thống máy tính,
phần mềm quản lý và năng lực chuyên môn của cán bộ.
18
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT VÀ QUẢN LÝ NỢ
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
3.1. CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO KHẢ NĂNG TIẾP NHẬN NỢ VAY NƯỚC NGOÀI
3.1.1.Đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững
Để có thể đảm bảo an toàn tín dụng, nền kinh tế phải có tăng trưởng kinh tế cao để đảm bảo
lãi vay nợ không vượt quá khả năng sinh lời của nó. Ở nước ta trong những năm gần đây, mặc
dù mức GDP vẫn tăng, nhưng hệ số ICOR lại tăng liên tục cho
thấy hiệu quả sử dụng vốn
thấp
. Để có thể đạt được hệ số ICOR = 4 thì trong tương lai ta phải nâng cao tốc độ tăng trưởng
kinh tế trong khi vẩn giảm được tỷ lệ đầu tư/GDP. Điều này có nghĩa là vẫn gia tăng mức đầu tư
trong đó mức gia tăng của GDP phải nhanh hơn. Hay nói cách khác, ta phải mở rộng quy mô
của nền kinh tế một cách có hiệu quả. Nếu trong giai đoạn 2000 - 2010, kinh tế Việt Nam đạt
được tốc độ tăng trưởng là 7,5 - 8%/năm thì đòi hỏi đầu tư/GDP là 30 - 32%. Nhu cầu vốn đầu tư
giai đoạn này theo kế hoạch là 135 - 140 tỷ USD giai đoạn 2000 - 2010 và 250 - 280 tỷ USD

19
đó năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu, thì nguy cơ hàng hoá ngoại sẽ tràn ngập thị
trường nội địa, bóp chết nền sản xuất trong nước, khiến cán cân tài khoản vãng lai thâm hụt
triền miên, gây mất ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, để đẩy mạnh xuất khẩu phải có sự nỗ lực từ
phía Chính phủ lẫn doanh nghiệp.
Gia tăng cán cân tài khoản vốn
Muốn gia tăng tài khoản vốn, chúng ta cần thu hút và quản lý hiệu quả các dòng vốn quốc
tế bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII). Dòng vốn này
rất là quan trọng đối với nền kinh tế, nó không chỉ góp phần cung cấp cho phát triển kinh tế - xã
hội mà còn đem lại nguồn ngoại tệ làm gia tăng quỹ dự trữ quốc gia, đặc biệt là nguốn vốn FII.
Khuyến khích kiều hối chảy về nước
Cần có chính sách khuyến khích thu hút hơn nữa lượng kiều hối từ nước ngoài.
Hiện nay,
nước ta có hơn 3 triệu kiều bào đang sinh sống ở nước ngoài và tổng số
người về thăm hoặc
gửi tiền cho người thân trong nước hàng năm tăng lên nhanh
chóng. Gần đây, Nhà nước
cũng đã có chính sách ưu đãi nhằm kiều bào về đóng góp xây dựng quê hương. Tuy nhiên,
chúng ta cũng cần có chính sách thông thoáng hơn nữa như đối xử bình đẳng với Việt kiều
như người dân trong nước, tạo niềm tin cho kiều bào về sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
trong nước để họ yên tâm chuyển tiền về nước. Có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với các
thành phần tri thức Việt kiều về đóng cho quê hương. Cơ quan hải quan cần kiểm soát chặt chẽ
hơn nguồn kiều hối lậu
chảy về, NHNN khuyến khích các NHTM mua để tăng nguồn kiều
hối thu hút vào
ngân hàng và bán cho NHNN.
Thực hiện nghiêm cấm trao đổi mua bán hàng hoá bằng ngoại tệ trên thị trường
nội địa.
Tổ chức hữu hiệu mạng lưới thu đổi ngoại tệ cho các khách hàng vào Việt N
am, trước hết là

Việt Nam cũng cần phải có giải pháp ổn định giá cả sinh hoạt
hiện nay, tăng giá đồng tiền nội
địa, bằng việc kiểm soát ngăn chặn tình trạng đôla hoá ở mức cao độ bởi vì một nền kinh tế bị
đôla hoá cao thì việc hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô trong đó có chính sách tiền tệ bị
giảm hiệu quả do tình trạng đôla hoá gây khó khăn, trong việc dự đoán diễn biến tổng phương
tiện thanh toán, đồng nội tệ bị thay đổi nhạy cảm hơn từ các thay đổi bên ngoài, việc hoạch định
và thực thi chính sách mất hiệu quả… Tình trạng đôla hoá ở Việt Nam dao động ở mức khá
cao (tỷ lệ tiền gửi bằng USD trên tổng lượng tiền gửi vào các NHTM Việt Nam luôn dao động
xung quanh 30%). Tăng giá trị đồng nội tệ là điều cần thiết, một khi đồng Việt Nam có
giá trị cao, tạo được niềm tin nơi công chúng cộng với “tinh thần Việt” thì tình trạng
đôla sẽ tự
động được ngăn chặn, nguy cơ lạm phát do đôla hoá sẽ bị triệt tiêu, việc
hoạch định và thực
thi chính sách tiền tệ có hiệu quả hơn và có nghĩa là lạm phát được kiểm soát tốt hơn.
Chính phủ phải thực hiện kiểm soát cung tiền để kiểm soát lạm phát. Khi gia nhập Tổ
chức Thương mại Quốc tế (WTO), NHNN cần phải tích cực tham gia trên thị trường ngoại hối để
mua đồng đôla từ hệ thống NHTM, bên cạnh đó thì Chính phủ cũng phải triển khai phát hành
trái phiếu trên thị trường mở để giảm áp lực lên cung tiền tệ.
Tăng cường phối hợp hiệu quả giữa chính sách tài khoá và chính sách
tiền tệ. Ở Việt
Nam, “Chính sách tiền tệ quốc gia là một bộ phận của chính sách kinh tế - tài chính của Nhà
nước nhằm ổn định giá trị đồng tiền, kiểm soát lạm phát, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh và nâng cao đời sống của nhân dân” (Điều 2, Luật Ngân
sách Nhà nước). Như vậy, Chính phủ cũng như NHNN cần phải công khai hoá các thông tin
có liên quan đến lạm phát, đừng vì lạm phát lên cao vượt quá mức kế hoạch đề ra mà che dấu,
phải công bố và hướng đến cơ chế lạm phát mục tiêu.
Trong tình hình lạm phát xảy ra có phần do chi phí đẩy, để chống lại lực đẩy của chi
phí, lực tác dụng ngược trở lại là giảm chi phí. Các doanh nghiệp cần rà soát lại các khâu, các
bộ phận triệt để cắt giảm chi phí, song cắt giảm chi phí cũng có
giới hạn của nó, vấn đề là

công sự vụ hàng ngày đến việc thực hiện các dự
án lớn, tránh tình trạng quy hoạch treo
hoặc đầu tư kéo dài;

Giảm bớt hội họp,
phong bì, thay thế việc hội họp bằng việc phân công, phân nhiệm rõ
ràng, thay thế các cuộc họp mặt truyền thống bằng các cuộc họp thông qua mạng viễn
thông, sử dụng hình thức liên lạc thông qua mạng nội bộ và mạng toàn cầu thay vì chỉ sử
dụng văn bản giấy nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí; gắn liền với trách nhiệm. Quyền lợi
và trách nhiệm phải cụ thể hoá đối với từng cá nhân;
 Tránh tình trạng có luật mà không ai chịu thi hành. Việc thanh tra, giám sát hiện nay
mang nặng tính hình thức, thiếu chuyên nghiệp, cung cách xử lý còn nặng tình cảm. Việc
giám sát, phát hiện sai phạm phải thể hiện tính chuyên nghiệp, không giám sát một cách tự
phát hoặc tình cờ mà phải có chuyên môn, phải có chiến lược lâu dài hay nói cách khác phải
có cung cách làm việc hiệu quả.
3.2.3.2. Gia tăng hệ số tín nhiệm quốc gia
Khi quyết định đầu tư hay cho vay, các nhà đầu thường đánh giá tương quan giữa rủi ro và
thu nhập. Thông tin đáng tin cậy mà các nhà đầu tư thường tham khảo là hệ số tín nhiệm do các
công ty quốc tế hàng đầu đánh giá. Nếu hệ số tín nhiệm của một quốc gia được đánh giá cao,
quốc gia đó dễ dàng tiếp cận các nguồn tài chính trên thị trường quốc tế, giảm được chi phí
huy động vốn, đặc biệt cho những đợt phát hành mới. Một quốc gia có tăng trưởng cao và uy
tín khi đi vay sẽ được vay với chi phí thấp và đàm phán được giá cao hơn khi giao dịch trên thị
trường nợ thứ cấp, do người đi vay cân đối giữa rủi ro và thu nhập có được từ khoản cho vay
và sẵn sang chấp nhận chứng khoán có mực sinh lợi thấp hơn nhưng độ an toàn cao.
3.3. CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG VỐN VAY HIỆU QUẢ
Nợ nước ngoài có hai mặt đối lập, một mặt nó là nguồn lực cho phát triển kinh tế -xã hội,
mặt khác nếu quản lý không tốt, hiệu quả sử dụng vốn thấp, không hợp lý, nó sẽ dẫn tới khủng
hoảng nợ và gây ra những hậu quả nghiêm trọng cho đất nước. Do đó, việc hoàn thiện quản lý
nợ vay và sử dụng nợ có hiệu quả sẽ mang lại nhiều lợi ích cho phát triển kinh tế - xã hội và tránh
được khủng hoảng nợ.

Các cơ quan chức năng có liên quan cần phải phát triển nhân viên có
năng lực nhằm
gia tăng quản lý nợ và cá rủi ro quốc gia. Có sự phân công rõ ràng về trách nhiệm quản lý và
theo dõi các nguồn thu từ vay nợ, phân bổ nguồn vốn vay, kế hoạch và thực trả các khoản nợ,
tránh tình trạng chồng chéo hoặc không rõ ràng.
3.3.2. Các biện pháp nhằm sử dụng nợ nước ngoài có hiệu quả
Xem xét một cách độc lập, khách quan và đánh giá cẩn trọng các phương án kinh doanh,
năng lực và tiềm năng của các doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn, cần định giá được lợi nhuận
ròng trong phương án này phải cao hơn lãi suất đi vay.
Công bố công khai định kỳ (ngắn hạn) và thường xuyên các số liệu về
tình hình sản xuất
kinh doanh, tiến độ của các dự án tại các đơn vị được vay lại nguồn tiền phát hành này.
Nhằm phân chia rủi ro cho việc phân bổ các khoản vay vào các dự án
đầu tư nên phần vốn
vay này vào các dự án đầu tư trong các lĩnh vực, ngành nghể khác nhau nhưng chủ yếu tập trung
vào các ngành kinh tế đang là mũi nhọn.
Có các biện pháp chế tài mạnh không chỉ dành riêng cho doanh nghiệp
được vay lại nguồn
vốn từ trái phiếu mà cả với các vị trí lãnh đạo liên quan từ khâu đề nghị, xét duyệt dự án, điều
hành và thực hiện dự án, có như vậy mới ràng buộc được tránh nhiệm tài chính.
Với Quy chế kiểm soát trái phiếu quốc tế năm 2005, Bộ Tài chính nên
nhận báo cáo tài
chính của Vinashin theo định kỳ của quý, không phải đợi đến 15 ngày sau khi có biên bản kiểm
toán đã kết thúc năm tài chính.
Bộ Tài chính cần quan tâm và kiểm soát có bắt buộc đối với Quỹ hoàn
trái
11
điển hình là
Quỹ hoàn trái của Vinashin. Với Quỹ hoàn trái này, Vinashin phải có trách nhiệm trích quỹ
định kỳ hàng thàng dành cho việc thanh toán lãi. Riêng việc trích Quỹ để hoàn trả vốn gốc cần

Thành lập hội đồng tư vấn nợ. Tổ chức này có trách nhiệm giúp Thủ
tướng Chính phủ
về chính sách vay, trả nợ nước ngoài, về kế hoạch vay và trả nợ hàng
năm.
Thiết lập cơ quan chuyên trách trực thuộc Chính phủ về quản lý nợ nước ngoài. Hiện nay
các cơ quan quản lý nợ nước ngoài như: Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà
nước đang từng bước hoàn chỉnh chương trình quản lý nợ nước ngoài hiện đại, tuân thủ pháp
luật của Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chỉ dừng lại ở mức quản lý hành chính và nghiệp vụ. Do
đó, phải thành lập một cơ quan về quản lý nợ nước ngoài, cơ quan này có chức năng quản lý
nợ quốc gia sao cho vừa đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý Nhà nước, vừa đảm
bảo nguyên tắc chỉ đạo tập trung và gắn kết giữa quản lý nợ nước ngoài với cân đối kinh tế vĩ
mô. Nhiệm vụ của tổ chức này là theo dõi, tổng hợp báo cáo tình hình huy động và sử dụng vốn
vay nước ngoài, tình hình nợ quốc gia tồn đọng để báo cáo với Thủ tướng Chính phủ.
Đổi mới, hoàn thiện cơ chế chính sách quản lý nợ nước ngoài, gạt bỏ sự chồng chéo hoặc
mâu thuẫn trong phân công, phân nhiệm. Việc gắn trách nhiệm sử dụng vốn vay với việc trả nợ
là hết sức cần thiết, tạo cho doanh nghiệp ý thức sử dụng nguốn vốn vay có hiệu quả.
Cần tổ chức lại hệ thống thông tin về nợ nước ngoài. Hệ thống thông tin về nợ nước ngoài
ở Việt Nam cho đến nay vẫn còn nghèo nàn, chưa đầy đủ và liên tục, chất lượng thông tin về nợ
thiếu tin cậy. Bên cạnh đó, sự không công khai thông tin
giữa các bộ, ngành dẫn đến hiện
tượng bưng bít thông tin gây hậu quả xấu đối với
công tác quản lý nợ. Các tác giả thực hiện
dự án về quản lý nợ vay nước ngoài (dự án VIE 01/010) cũng đã từng khuyến cáo Việt Nam cần
đảm bảo rằng các số liệu nợ được kiểm chứng thống nhất và cập nhật một cách nhất quán, thông
24
tin từ các khoản vay cần
được hoàn chỉnh để có thể có được các đầu ra và báo cáo cần thiết.
Do đó, cần lập
mạng thông tin trao đổi công khai giữa các cơ quan được giao chuyên trách về
quản lý nợ.

định chỉ có ý nghĩa khi nó đảm bảo cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Ngược lại, tăng
trưởng cao được duy trì trong thời gian dài sẽ đảm bảo ổn định.
3.5.2.Cải thiện môi trường đầu tư
- Cải cách mạnh mẽ hành chính công, đặc biệt là các quy định về công chứng, thủ tục hành
chính, thủ tục đầu tư; cải thiện tính minh bạch của luật lệ và chính sách đảm bảo tính nhất quán
của văn bản luật ở mọi cấp, tăng cường xây dựng chính sách kinh tế dựa theo thị trường.
- Hợp lý hoá thuế thu nhập cá nhân, đặc biệt là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài nhằm tạo
điều kiện cho các công ty có vốn đầu tư nước ngoài dễ dàng tìm kiếm hơn trong việc tìm kiếm
nhân lực ở các vị trí chủ chốt.
- Đầu tư hơn nữa vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật để đầu tư ngoài quốc doanh diễn ra thuận lợi hơn.
- Các doanh nghiệp phải được đối xử bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt trong các
lĩnh vực đất đai, vay vốn ngân hàng, minh bạch về quyền và lợi.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status