Nghiên cứu ảnh hưởng của khối xây chèn có lỗ cửa đến sự làm việc của khung bê tông cốt thép nhà cao tầng - Pdf 15

Bộ Giáo dục và Đào tạo Bộ Xây dựng
Trờng Đại học Kiến trúc Hà Nội
Tăng Bá Bay
Khóa: 2008 - 2010 lớp: ch08x

Nghiên cứu ảnh hởng của khối xây chèn
có lỗ cửa đến sự làm việc của khung
bê tông cốt thép nhà cao tầng

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật
Chuyên ngành: Xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp

Mã số : 60.58.20Ngời hớng dẫn khoa học:
1: PGS. TS. Vơng Ngọc Lu
2: TS. Vũ Hoàng Hiệp
Hà Nội - 2011

3



4

Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng: Luận văn:
Nghiên cứu ảnh hởng của khối xây
chèn có lỗ cửa đến sự làm việc của khung bê tông cốt thép nhà cao
tầng
là công trình nghiên cứu của riêng mình tôi.
Các số liệu trong luận văn đợc sử dung trung thực, khách quan, có tính kế
thừa. Kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là các kết quả cha từng đợc công bố
tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác từ trớc tới nay.

Hà Nội, ngày 20 tháng 3 năm 2011
Tác giả luận văn Tăng Bá Bay

Sự làm việc của khối xây chèn có lỗ cửa trong khung Bê
tông cốt thép nhà cao tầng - các mô hình tính toán 35

2.1 Sự làm việc của khối xây chèn có lỗ cửa trong khung bê tông cốt thép khi có
tải trọng động tác động: 35

2.2.1 Mô hình hóa khối xây chèn bằng 1 thanh chịu nén: 36

2.2.2 Mô hình hóa khối xây chèn bằng nhiều thanh chịu nén: 36

2.2.3 Mô hình hóa khối xây chèn thành phần tử tấm: 37

2.2.4 Mô hình hóa khối xây chèn thành phần tử tấm có giải phóng liên kết với đáy
dầm của khung bê tông cốt thép: 38

2.3 So sánh các mô hình tính toán để lựa chọn mô hình phù hợp nhất để tính
toán cho khung bê tông cốt thép nhà cao tầng: 39

2.3.1 Trờng hợp 1: Lỗ cửa ở vị trí số 1 (giữa nhịp dầm, phía dới) 43

2.3.2 Trờng hợp 2: Lỗ cửa ở vị trí số 2 (lỗ cửa ở vị trí chính giữa khối xây) 53

2.3.3 Trờng hợp 3: Lỗ cửa ở vị trí số 3 (lỗ cửa ở giữa nhịp dầm, phía trên) 56

2.3.4 Trờng hợp 4: Lỗ cửa ở vị trí số 4 (lỗ cửa có vị trí sát góc khung) 60

Chơng 3: 70

Khảo sát sự làm việc của khối xây có lỗ cửa đến sự làm
việccủa khung bê tông cốt thép nhà cao tầng theo mô hình


3.3.4 Trờng hợp 4 (TH4): Khối xây tại 2 trục đầu hồi theo phơng Y tại 3 tầng
giữa nhà (từ tầng 5 đến tầng 7) 85

3.3.5 Trờng hợp 5 (TH5): Khối xây tại 2 trục đầu hồi theo phơng Y tại 3 tầng
giữa nhà (từ tầng 1 đến tầng 3) 86

3.4 Khảo sát các trờng hợp bố trí lỗ cửa có kích thớc khác nhau trong 1 khối
xây để xét tới sự cần thiết phải kể tới ảnh hởng của khối xây chèn có lỗ cửa: 87

Kết luận và kiến nghị 90

Tài liệu Tham Khảo 92Danh mục các bảng biểu
Bảng 1. 1: Bảng quy cách của gạch bê tông khí chng áp: 20

Bảng 2. 1: So sánh các chu kỳ dao động với lỗ cửa ở vị trí số 1: 67

Bảng 2. 2: So sánh các chu kỳ dao động với lỗ cửa ở vị trí số 2: 67

Bảng 2. 3: So sánh các chu kỳ dao động với lỗ cửa ở vị trí số 3: 68

Bảng 2. 4: So sánh các chu kỳ dao động với lỗ cửa ở vị trí số 4: 68

Bảng 3. 1: So sánh giữa trờng hợp 1 và trờng hợp 2: 87

Bảng 3. 2: So sánh giữa trờng hợp 3; 4 và 5: 87


không kể ảnh hởng của khối xây chèn có lỗ cửa 44

Hình 2. 8: Trờng hợp MH1-2: Mặt bằng bố trí khối xây và lỗ cửa ở vị trí số 1 45

Hình 2. 9: Sơ đồ vị trí của lỗ cửa để tính trị số

47

Hình 2. 10: Trờng hợp MH1-2: Mô hình không gian mô tả dải khối xây 48

là 1 thanh chịu nén 48

Hình 2. 11: Trờng hợp MH1-3: Vị trí liên kết các thanh chịu nén với cột 49

và dầm 49

Hình 2. 12: Trờng hợp MH1-3: Mô hình không gian mô tả dải khối xây 50

là 3 thanh chịu nén 50

Hình 2. 13: Trờng hợp MH1-4: Mô hình không gian mô tả cả khối xây chèn là
những phần tử tấm 51

Hình 2. 14: Trờng hợp MH1-5: Mô hình không gian mô tả cả khối xây chèn là
những phần tử tấm có giải phóng liên kết ở đáy dầm 52

Hình 2. 15: Sơ đồ vị trí của lỗ cửa ở vị trí 2 trong khối xây 53

Hình 2. 16: Trờng hợp MH2-4: Mô hình không gian mô tả cả khối xây chèn là
những phần tử tấm 55

Hình 2. 26: Trờng hợp MH4-5: Mô hình không gian mô tả khối xây bằng các phần
tử tấm có giải phóng liên kết ở các tấm ngay đáy dầm 66

Hình 3. 1: Sơ đồ mặt bằng công trình từ tầng 1 đến tầng 10 71

Hình 3. 2: Sơ đồ vị trí các lỗ cửa cho các trờng hợp khảo sát 72

Hình 3. 3: Sơ đồ lỗ cửa của 1 Panô khối xây theo TH1 73

Hình 3. 4: Sơ đồ không gian mô tả các khối xây có lỗ cửa theo trờng hợp 1 (TH1)
đợc bố trí dọc theo 6 trục theo phơng Y ở cả 10 tầng. 74

Hình 3. 5: Sơ đồ lỗ cửa của 1 Panô khối xây theo TH2 75

Hình 3. 6: Sơ đồ không gian mô tả các khối xây có lỗ cửa theo trờng hợp 2 (TH2)
đợc bố trí dọc theo 6 trục theo phơng Y ở cả 10 tầng. 76

Hình 3. 7: Sơ đồ lỗ cửa của 1 Panô khối xây theo TH3 778

Hình 3. 8: Sơ đồ không gian mô tả các khối xây có lỗ cửa theo trờng hợp 3 (TH3)
đợc bố trí dọc theo 6 trục theo phơng Y ở cả 10 tầng. 78

Hình 3. 9: Sơ đồ lỗ cửa của 1 Panô khối xây theo TH4 79

Hình 3. 10: Sơ đồ không gian mô tả các khối xây có lỗ cửa theo trờng hợp 4
(TH4)đợc bố trí dọc theo 6 trục theo phơng Y ở cả 10 tầng. 80

9

mở đầu
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, trên thế giới và trong nớc cũng đã xuất hiện rất nhiều loại công
trình với nhiều hình khối về kiến trúc khác nhau, có các công năng khác nhau nhng
nhìn chung xét về mặt kết cấu chịu lực chính thì chỉ có một số các loại hình kết cấu
chủ yếu nh: tờng chịu lực; khung chịu lực; lõi; ống; và có sự kết hợp giao thoa của
các loại phơng án kết cấu trên. Đối với nớc ta việc xây dựng các loại nhà cao tầng
có số tầng từ 9 đến 30 tầng rất phổ biến và chiếm đại đa số các công trình xây dựng
dân dụng hiện nay. Về mặt kết cấu đại đa số sử dụng hệ kết cấu khung bê tông cốt
thép chịu lực chính. Để ngăn chia các không gian chức năng và bao che cho công
trình xây dựng loại này hầu nh đều sử dụng phơng án xây chèn gạch trong khung
bê tông cốt thép. Nh vây:
- Nếu chỉ sử dụng mô hình tính toán khung chịu lực chính và thay các tờng
gạch xây chèn là các tải trọng tĩnh rời rạc thì tải trọng công trình sẽ rất lớn, khối
lợng kết cấu chịu lực công trình tăng cao. Mặt khác, hệ tờng xây chèn ngoài khả
năng chịu tải bản thân của nó thì thực tế nó cũng tham gia chịu tải chung cho công
trình (theo các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thí nghiệm công trình trong các báo
cáo nghiên cứu của các nhà khoa học trớc đây).
- Nếu xét về mặt kinh tế thì việc không đa tờng kết hợp chịu lực sẽ lãng phí,
bởi vì trách nhiệm chịu tải toàn bộ công trình lại dồn sang hệ khung bê tông cốt

- Khảo sát trên máy tính.
- Phân tích, tổng hợp đa ra các kết quả khảo sát.
11

Chơng 1:
Tổng quan về nhà cao tầng và ảnh hởng của khối xây chèn
trong khung Bê tông cốt thép nhà cao tầng

1.1 Tình hình phát triển nhà cao tầng hiện nay tại Việt nam:
Cho đến giờ khái niệm Nhà cao tầng ở Việt Nam không còn mới mẻ nữa,
hiện nay chúng ta đã có khai niệm về nhà cao tầng, đã có một hệ thống các tiêu
chuẩn liên quan đến công tác thiết kế, thi công nhà cao tầng tơng đối đồng bộ.
Trên thực tế trong khoảng 10 năm trở lại đây, chúng ta có rất nhiều những công
trình đã và đang đợc xây dựng tại các thành phố lớn nh: Hà Nội, thành phố Hồ
Chí Minh, và các thành phố khác trong cả nớc với một tốc độ phát triển khá cao.

- Khách sạn Thăng Long, Giảng Võ - Hà Nội 20 tầng.
- Khách sạn K5, Nghi Tàm 22 tầng.
- Hà Nội Tower 24 tầng.
- Sofitel Plaza Hà Nội, số 1 đờng Thanh Niên, quận Tây Hồ.
- Hotel Nikko Hà Nội 17 tầng.
- Tòa nhà tháp đôi Vicom đờng Bà Triệu, 27 tầng và 01 tầng ngầm.
- Khách sạn trung tâm thơng Hà Nội Melia, 44 Lý Thờng Kiệt cao 22 tầng.
- Chung c Láng Hạ cao 27 tầng, chung c Huỳnh Thúc Kháng cao 19 tầng.
- Tổ hợp các nhà chung c và nhà làm việc từ 20 đến trên 30 tầng tại các khu
đô thị mới nh: Mỹ Đình, Trung Hòa - Nhân Chính, Dịch Vọng, Hà Đông, Linh
Đàm
* Tại thành phố Hồ Chí Minh:
- Sài Gòn Tower 18 tầng, 29 đờng Lê Duẩn.
- Trung tâm thơng mại Sài Gòn, số 37 đờng Tôn Đức Thắng, gồm 33 tầng
+ 01 tầng hầm.
- New Wolrd cao 14 tầng bao gồm 2 khối nhà.
- Công trình nhà ở cao cấp số 8 đờng Nguyễn Bỉnh Khiêm, 14 tầng + 01
tầng hầm.
- Khách sạn BUROTEL, số 4 đờng Tôn Đức Thắng, 14 tầng.
- Cao ốc thơng mại - Văn phòng Mê Linh 22 tầng.
- Trung tâm thơng mại số 14 đờng Lê Duẩn, cao 23 tầng (công trình sử
dụng kết cấu thép).

13

- Khách sạn Plaza Hotel.
Ngoài ra còn rất nhiều công trình cao tầng khác đã và đang đợc xây dựng
trên khắp các thành phố và mọi miền của đất nớc.
Qua đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng sự hình thành, tồn tại và phát triển
của nhà cao tầng tại Việt Nam là một quá trình tất yếu. Việc nghiên cứu lý thuyết,

công trình, các tải trọng ngang thờng gặp nhất là tải trọng gió, tải trọng động đất.
Chính vì vậy khi thiết kế nhà cao tầng phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Hạn chế chuyển vị ngang của công trình (đảm bảo độ cứng tổng thể): Kết
cấu phải đảm bảo độ cứng nhất định để hạn chế các chuyển vị ngang của công trình
bởi vì sự gia tăng của chuyển vị ngang công trình cũng đi liền với sự phát triển ảnh
hởng của biến dạng, dao động đối với công trình.
- Kết cấu công trình phải có bậc siêu tĩnh càng nhiều càng tốt: Để khi kết cấu
công trình chịu tải trọng nói chung và tải trọng ngang nói riêng thì kết cấu vẫn còn
có khả năng biến dạng dẻo để phân phối lại nội theo hớng hình thành các khớp dẻo
để tự hình thành lại sơ đồ kết cấu giúp công trình chịu đợc các tải trọng tăng lên
một cách đột biến.
- Đối với nhà cao tầng thì yêu cầu về thiết kế chống động đất cũng cần phải
quan tâm đến: Kết cấu công trình phải có độ dẻo nhất định với mục đích là để phân
tán năng lợng mà công trình tiếp nhận đợc do động đất, gió và các tải trọng khác
gây ra.
- Bên cạnh các giải pháp về kết cấu trên thì phơng án giảm nhẹ trọng lợng
bản thân của công trình cũng nh của bộ phận kết cấu chịu lực cũng có ý nghĩa
giảm ảnh hởng của thành phần động của các tải trọng ngang, cụ thể là làm giảm
ảnh hởng của lực quán tính công trình: F=ma.
Để giải quyết các vấn đề trên thì tùy theo đặc điểm của các công trình cũng
nh yêu cầu về kiến trúc, kỹ thuật, công năng sử dụng của các chủ đầu t mà có
nhiều giải pháp về kết cấu khác nhau, nhng nhìn chung về mặt kết cấu chính trong
nhà cao tầng có các dạng nh sau:
+ Dạng 1: Hệ kết cấu thuần khung (Frame), đó là hệ kết cấu có không gian
lớn, bố trí mặt bằng linh hoạt có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sử dụng công trình
nhng độ cứng theo phơng ngang của hệ kết cấu này không cao, khả năng chịu tải
trọng ngang không lớn. Để khắc phục nhợc điểm này ngời ta tăng kích thớc mặt

15


16

Mặt khác, các hệ tờng xây ngoài khả năng chịu tải bản thân thì thực tế nó cũng
tham gia chịu tải chuung cho công trình (Từ các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thí
nghiệm công trình của các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học).
- Nếu xét về mặt kinh tế thì việc không đa tờng kết hợp chịu lực sẽ lãng phí,
bởi vì trách nhiệm chịu tải toàn bộ công trình lại dồn sang hệ khung Bê tông cốt
thép, do đó các kết cấu chịu lực chính cho công trình phải có khối lợng lớn hơn nếu
không xét tới khả năng chịu lực của khối xây chèn.
Hiện nay, với việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm
đã đợc chứng minh, các phần mềm kết cấu vào trong tính toán thiết kế, bên cạnh
đó khoa học công nghệ về vật liệu xây dựng, công nghệ, kỹ thuật thi công xây dựng
công trình cũng rất phát triển nên có đầy đủ cơ sở để có thể nghiên cứu sự tham gia
chịu lực chung với hệ khung của các loại tờng xây chèn trong công trình.
Khối xây chèn đợc sử dụng phổ biến và rộng rãi nhất hiện nay chính là khối
xây gạch nung, kích cỡ của khối xây này thờng dày 110, 220 chính là các vách
ngăn chia không gian hoặc bao che cho công trình. Phần tử chính của khối xây
chính là các viên gạch: có nhiều loại khác nhau nh: gạch đặc dạng viên kích thớc
105x210x55, các dạng viên gạch Tuynel có lỗ: viên 2 lỗ, 4 lỗ, 6 lỗ

Hình 1. 1: Hình ảnh dạng gạch đất nung dạng Tuynel 4 lỗ.
Nhng sử dụng gạch đất nung có nhiều mặt hạn chế, cụ thể theo nh dự báo ở
nớc ta đến năm 2020 sẽ tiêu tốn từ 41 đến 43 tỷ viên một năm, với số lợng này
phải tiêu tốn khoảng 57-60 triệu m
3
đất sét và từ 5,3 đến 5,6 triệu tấn than. Nh vậy

17

mức độ hao hụt đất nông nghiệp là vô cùng lớn, cha kể đến sự gia tăng về ô nhiễm

18
H×nh 1. 2: H×nh ¶nh mét c¬ së cã d©y chuyÒn s¶n xuÊt g¹ch kh«ng nung H×nh 1. 3: H×nh ¶nh mét ®o¹n t−êng sö dông g¹ch kh«ng nung

19

Bênh cạnh các loại dạng gạch nêu trên hiện nay còn có loại gạch không nung
tự nhiên từ các biến thể và sản phẩm phong hóa của đá Bazan. Loại gạch này chủ
yếu sử dụng ở các vùng có nguồn Puzolan tự nhiên, tuy nhiên hình thức sản xuất còn
tự phát, mang tính chất địa phơng, qui mô nhỏ

Hình 1. 4: Hình ảnh gạch không nung sản xuất từ đất tự nhiên
Hiện nay trên thị trờng vật liệu ở Việt Nam, đang giới thiệu và chào bán loại
gạch Bê tông khí chng áp VIGLACERA-AAC có tỷ trọng tơng đối nhẹ từ 400 -
1000 kg/m
3
, nh vậy chỉ tơng đơng từ 1/3 gạch đặc, 2/3 gạch rỗng 2 lỗ, bằng 1/5
tỷ trọng của gạch bê tông thông thờng, nh vậy tải trọng tĩnh tải của công trình sẽ
giảm đáng kể, nhất là đối với nhà cao tầng. Theo ý kiến của các chuyên gia tính toán
kết cấu: khi sử dụng sản phẩm gạch bê tông khí chng áp thay thế cho gạch rỗng 2
lỗ thông thờng trong công trình nhà cao tầng thì chi phí xây thô sẽ giảm khoảng từ
10 đến 12% do giảm chi phí kết cấu. Do sản phẩm gạch bê tông khí chng áp nhẹ

gạch bê tông khí chng áp đã cho thấy khả năng chống lại những chấn động địa chất
tốt. Vì trọng lợng của bê tông khí thấp nên trọng lực đặt lên mặt đất thấp.
Bảng 1. 1: Bảng quy cách của gạch bê tông khí chng áp:
Chiều dài
(mm)
Chiều rộng
(mm)
Chiều cao
(mm)
Thông số kỹ thuật
75

100
200
125
300 150
400 175
200
600
250
Tỷ trọng: 400 đến 1000
kg/m
3Cờng độ chịu nén: từ:
4,0 đến 5,0 MPa

Nh vậy, vật liệu xây chèn trong khung bê tông cốt thép nhà cao tầng rất đa
dạng và phong phú, việc sử dụng loại gạch nào phụ thuộc vào điều kiện thực tế tại

công trình chịu áp lực do các vụ nổ nguyên tử gây ra.
Sau khi thử nghiệm, nghiên cứu họ đã có những kết luận nh sau, trong đó có
liên quan đến vấn đề khối xây chèn:
1. Tỷ số chiều dài trên chiều cao của khối xây có ảnh hởng lớn đến khả
năng chịu tải và độ cứng của kết cấu.

22

2. Việc sử dụng công thức toán học chính xác để giải bài toán này trên thực
tế là không thể thực hiện đợc vì sự thay đổi quá lớn các đặc trng cơ lý
của vật liệu khối xây chèn và khung mà chỉ có thể tính toán đến một mức
độ gần đúng nào đó.
3. Độ cứng của nút khung ảnh hởng lớn đến khả năng chịu tải của hệ kết
cấu khung. Nếu khung có cấu tạo nút cứng thì khả năng chịu tải của nó
cao hơn khung có cấu tạo nút khớp.
4. Khung có khối xây chèn chịu tải trọng ngang trung bình từ 2 đến 3 lần
lớn hơn khung cùng loại không có khối xây chèn.
Tại Nga, những ngời đầu tiên nghiên cứu loại kết cấu này là S.V.Poliakov và
các cộng sự của ông. S.V.Poliakov đã tiến hành khảo sát các khung có khối xây
chèn chịu tải trọng ngang, cụ thể: Tác giả đã thí nghiệm khung thép có liên kết khớp
đợc chèn gạch có kích thớc 120cmx120cm; 200cmx200cm. Tờng chèn dày 12
cm và 25 cm. Lực dính kết khối xây là 1,7 - 3,5 kg/cm
2
. Kết quả thí nghiệm cho
thấy ở giai đoạn đầu khung và khối xây chèn làm việc nh một hệ liền khối, ở giai
đoạn tiếp theo tại vùng cuối của đờng chéo chịu kéo xuất hiện các vết nứt tách giữa
các bộ phận khung với khối xây chèn. Khi giữa dầm và khối xây chèn còn lại 20% -
30% vùng tiếp xúc thì vết nứt xiên trong khối xây chèn xuất hiện. Đặc trng phân bố
vết nứt xiên trong khối xây chèn phụ thuộc vào tỷ số = L/H; ở đây L là chiều dài
khối xây chèn và H là chiều cao khối xây chèn =1 thì vết nứt xiên trong khối xây

b
a
=

(1-2)
vl
n
nm
ad
D
Z
)(
2
=
(1-3)
ở đây:
(
)
[
]
93,22 10.12
6
+=


n
D
(1-4)
d: Chiều dày của khối xây chèn;
m


b
b
(1-6)
Trong đó a
2
: là bề rộng của lỗ cửa;
kx
v
h
n
5,7
=
(1-7)
Với h
kx
: là chiều dày một hàng xây.

24

Phơng pháp này tuân theo giả thiết độ cứng của dầm ở một khoang là vô
cùng và kích thớc ở mỗi khoang là nh nhau. Phần tải trọng ngang đợc truyền lên
khung đợc tính nh sau:
( )

=

=

1

Thành phần nội lực nằm ngang của thanh xiên X
t,n
phải thỏa mãn điều kiện sau:
[
]
ntnt
XX
,,

(1-10)
Trong đó:
[
]
nt
X
,
: là khả năng chịu tải của khối xây chèn lên phơng nằm ngang.
Giá trị của X
t,n
đợc xác định nh sau:








+=



Thành phần nội lực thẳng đứng đợc xác định nh sau:
ntntnt
XtgV
,,,
.

=
(1-12)
Trong đó:

nt ,

: là góc nghiên của thanh xiên với đờng nằm ngang.
Nh vậy, ta thấy bản chất của phơng pháp S.V Poliakov là thay việc tính
toán một hệ khung có các thanh xiên bằng việc tính toán một hệ khung thông
thờng. Tải trọng ngang tác động lên khung thông thờng là phần tải trọng sau khi
đã trừ đi thành phần nằm ngang của nội lực trong các thanh xiên.
Tại Anh B.S.Smith đã thí nghiệm các khung có kích thớc thật gồm 3 khung
thép hàn với kích thớc 60inchs x 60 inchs x 25 Lb và tại đỉnh các khung này có
chất tải trọng ngang là lực tập trung.
Khi tải trọng ngang tăng lên, khối xây dần dần tách khỏi khung ở khoảng ở
chiều dài mỗi cạnh. Tại hai đầu dọc đờng chéo chịu nén vùng tiếp xúc chỉ còn
khoảng ở chiều dài mỗi cạnh, qua các đồng hồ đo đặt tại đây chỉ thấy nội lực xuất
hiện ở đây rất lớn, còn ở đầu đối diện hầu nh nội lực rất bé. Trên cơ sở đó B.S.Smth
đã thiết lập sơ đồ sự làm việc của khung có khối xây chèn chịu tải trọng ngang.
Trong sơ đồ này, khối xây chèn đợc thay thế bằng một đờng chéo. Mặt khác tác
giả cho rằng để làm sáng tỏ sự làm việc của hệ kết cấu, cần phải biết đợc độ cứng
của khối xây chèn khi có tải tập trung tác động dọc theo đờng chéo và kiểm chứng
với độ cứng của khối xây chèn có khung bao quanh. B.S. Smith đã đi tới kết luận

D.V.Mallick và R.P.Garg đã tiến hành các thí nghiệm khung với khối xây
chèn có lỗ cửa dới tác động của tải trọng ngang. Họ đa ra các kết luận nh sau:
1. Nếu lỗ cửa nằm một trong các góc chất tải thì khả năng chịu tải của các kết
cấu giảm đi 75% còn độ cứng tơng ứng giảm đi từ 70% - 80% so với kết cấu không
cso lỗ cửa cùng loại.
2. Nếu lỗ cửa vuông nằm ở trung tâm khối xây chèn và kích thớc cạnh của
nó không vợt quá 1/5 cạnh ngắn của khối xây chèn thì khả năng chịu tải và độ
cứng giảm xuống từ 25% - 50% so với khung có khối xây chèn không có lỗ cửa
cùng loại.
M.Endcla và I.Senoga xem xét loại vật liệu chèn bằng Bê tông xốp. Các tác
giả đã đi tới kết luận nh sau:

Trích đoạn Sự làm việc của khối xây chèn có lỗ cửa trong khung bêtông cốt thép khi có Khảo sát các tr−ờng hợp bố trí lỗ cửa có kích th−ớc khác nhau trong 1 khố
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status