Nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố khách hàng và nhà cung cấp nhằm hoàn thiện công tác quản trị tại công ty Đông Đô – BQP - Pdf 38

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp luôn gắn
liền với môi trường kinh doanh. Bên cạnh những điều kiện chung trong một
nền kinh kế như chính trị, van hóa – xã hội,… thì doanh nghiệp cũng có
những yếu tố môi trường kinh doanh đặc thù khác biệt với những doanh
nghiệp khác. Các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh có ảnh hưởng trực tiếp
tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và tạo ra sự khác biệt giữa doanh
nghiệp này với doanh nghiệp khác. Môi trường kinh doanh vửa tạo cơ hội,
vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp. Việc xác định môi trường kinh
doanh đặc thù của doanh nghiệp giúp cho các doanh nghiệp đánh giá được vị
thé và khả năng của mình.
Hiện nay, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới nền kinh tế
nước ta cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Lúc này môi trường kinh doanh của
các doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí một số doanh nghiệp
không còn khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển nên phải ngừng sản
xuất, giải thể hoặc phá sản.
Trước tình hình cấp bách này, các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần tự tìm hiểu bản thân, năng lực của mình và
tìm hiểu môi trường kinh doanh mới để có những định hướng, bước đi phù
hợp. Môi trường kinh doanh hiện nay đang ảnh hưởng mạnh mẽ lên các
doanh nghiệp hoạt động trong ngành xây dựng, đây là ngành có vai trò quan
trọng để làm trục đỡ cho sự phát triển đi lên của đất nước. Đặc biệt là sự ảnh
hưởng của yếu tố khách hàng và nhà cung cấp là rất lớn đối với doanh nghiệp.
Khách hàng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp.
Cộng thêm với doanh nghiệp biết và hiểu rõ sự ảnh hưởng của nhà cung cấp
và nắm bắt, tận dụng tốt yếu tố này thì doanh nghiệp chắc chắn thàn công
trong kinh doanh


1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài

Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp là tổng hợp các yếu tố ( tự
nhiên, xã hội, kinh tế, chính trị, …) điều kiện mà doanh nghiệp chịu tác động
trực tiếp hay gián tiếp lên toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Hay đó là tổng thể những điều kiện những yếu tố bên trong và bên
ngoài tác động đến doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động
bình thường và có hiệu quả. Một trong những môi trường đặc trưng có ảnh
hưởng trực tiếp đến doanh nghiệp là môi trường kinh doanh đặc thù.
Vậy môi trường kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp là gì?
Môi trường kinh doanh đặc thù của doanh nghiệp là những yếu tố môi
trường kinh doanh của từng doanh nghiệp và làm cho nó phân biệt với các
doanh nghiệp khác. Nói cách khác môi trường kinh doanh đặc thù là môi
trường chứa đựng tất cả các tác nhân hướng trực tiếp đến hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nó bao gồm những cá nhân hay tổ chức ở bên ngoài doanh nghiệp mà
quyền lợi của họ có liên quan, gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp.
Các yếu tố của môi trường kinh doanh đặc thù gồm bốn yếu tố: khách
hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh và các cơ quan hữu quan. Đó là những
yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
Trong môi truờng kinh doanh đặc thù, khách hàng là mục tiêu của doanh
nghiệp đưa ra thị trường đều xuất phát từ nhu cầu của khách hàng. Khách
hàng là người quyết định chỗ đứng của doanh nghiệp trên thị trường. Khách
hàng giúp doanh nghiệp lập và triển khai thực hiện các chiến lược, kế hoạch
kinh doanh, các quyết định đến khâu bán hàng và quản trị bán hàng sao cho
có hiệu quả. Các nhà cung cấp là các nguồn cung ứng các yếu tố đầu vào cho
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp phát


triển ổn định và bền vững. Nhà cung cấp ảnh hưởng trực tiếp đến khâu quản

đúng vị trí của mình, là trung tâm của mọi hoạt động kinh doanh. Theo quan
điểm hiện nay, có thể nói khách hàng là lý do tồn tại của doanh nghiệp, khách
hàng là người tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. là ngưởi trả
lương cho doanh nghiệp và đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Bởi vậy,
doanh nghiệp muốn bán được hàng hóa và dịch vụ để thu được lợi nhuận,
doanh nghiệp phải lấy khách hàng là mục tiêu cuối cùng mà doanh nghiệp
hướng tới. Nhất là trong điều kiện hiện nay, khi sức tăng của cầu nhỏ hơn sự
tăng số lượng các doanh nghiệp mới tham gia vào thị trường, khiến cho môi
trường cạnh tranh trong nuớc và ngoài nước diễn ra ngày càng gay gắt.Vì vậy
doanh nghiệp cần tìm hiểu các thông tin về thị hiếu, sở thích, văn hóa, giá cả,
tình hình cung cầu trên thị trường để có sự đáp ứng đúng và thỏa mãn tối ưu
nhu cầu khách hàng.
Để tìm tập khách hàng cho doanh nghiệp của mình, doanh nghiệp cần
phân loại khách hàng theo các tiêu chí khác nhau, có thể phân nhóm khách
hàng như sau:
- Phân theo vị trí địa lý:
+ Khách hàng trong nước: Phân nhỏ thành các vùng miền, thành phố,
địa phương riêng…
+ Khách hàng quốc tế: Phân chia thành các khu vực riêng
- Phân theo mối quan hệ với doanh nghiệp: Có khách hàng mới, khách
hàng truyền thống và khách hàng tiềm năng.
- Phân theo thành phần kinh tế: Khách hàng là các cá nhân, tổ chức chính
phủ, phi chính phủ, các trung gian thương mại…
- Phân theo mục đích giao dịch:
+ Khách hàng là các tổ chức, trung gian thương mại mua hàng hóa và
dịch vụ để kinh doanh thu lợi nhuận từ các dịch vụ và chênh lệch giá.
+ Khách hàng là các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh, mua hàng hóa
và dịch vụ làm yếu tố đầu vào cho hoạt động kinh doanh của mình.




Khách hàng quyết định đến khâu ra giá hàng hóa và dịch vụ của

doanh nghiệp. Với nền kinh tế mở giá cả được cầu thành từ nhiều yếu tố khác
nhau. Tuy nhiên quyền quyết định có chấp nhận mức giá hay không lại thuộc


về khách hàng vì khch hàng mới là người trực tiếp bỏ tiền ra mua hàng hóa và
dịch vụ.
+

Khách hàng quyết định đến việc doanh nghiệp sẽ bán hàng hóa và

dịch vụ của mình như thế nào? Bán ở đâu? Và bán bao nhiêu? Khi nào doanh
nghiệp nên bán hàng hóa và dịch vụ? Tùy theo sự phân bố của tập khách hàng
(tập trung hay phân tán) mà việc chọn địa điểm tiêu thụ cho hợp lý. Tùy theo
phân loại mà mỗi tập khách hàng có những đặc điểm tâm lý về nhu cầu về số
lượng, thị hiếu riêng quyết định khi nào thì bán. Để thu được lợi nhuận tối đa
thì tùy vào từng ngành hàng, mặt hàng và nhu cầu của khách hàng mà doanh
nghiệp phải biết chiều lòng khách hàng, tạo ra sự thuận lợi nhất để khách
hàng đến với doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải luôn coi trọng những lựa chọn
của khách hàng. Đồng thời doanh nghiệp luôn đổi mới các phương thức bán
hàng và phục vụ phù hợp với tập tính của khách hàng ở mỗi vùng, mỗi quốc
gia.
+ Khách hàng quyết định đến khâu phân phối hàng hóa và dịch vụ của
doanh nghiệp. Tùy theo sự phân bố của tập khách hàng mà việc phân phối,
vận chuyển hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp cần có những điều chỉnh
tối ưu nhất để phục vụ cho việc mua của khách hàng. Việc phân phối hàng
hóa và dịch vụ, lựa chọn địa điểm bán hàng tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất
cho khách hàng mua hàng hóa và dịch vụ, giúp doanh nghiệp tăng hiệu quả

trường với tập khách hàng mà doanh nghiệp quan tâm đến các quá trình hoạch
định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát để công việc được thực hiện một cách
thống nhất và hiệu quả.
1.5.2.2. Ảnh hưởng nhà cung cấp
Nếu quá trình tiêu thụ hàng hóa được coi là yếu tố quan trọng nhất quyết
định sự sống còn của doanh nghiệp thì quá trình mua các yếu tố đầu vào là cơ
sở cho sự tồn tại và ổn định của doanh nghiệp. Trong điều kiện môi trường
cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh nghiệp muốn đứng vững mở rộng thị
trường, tăng doanh thu và lợi nhuận thì phải đáp ứng hàng hóa và dịch vụ đầy
đủ số lượng, đảm bảo chất luợng, kịp thời về thời gian. Muốn vậy doanh
nghiệp phải có nguồn đầu vào ổn định, hợp lý từ các nhà cung ứng
Để không bị rơi vào tình trạng bất hợp lý, lúc thì dự trữ quá nhiều dẫn
đến ứ đọng, ế thừa. Lúc thì thiếu nguồn hàng, nguồn vốn khan hiếm. Doanh


nghiệp phải nghiên cứu phân tích quá trình quản trị mua hàng và dự trữ sao
cho hiệu quả, giảm thiểu những rủi ro không đáng có cho doanh nghiệp.
Doanh nghiệp có thể lựa chọn các nhà cung cấp theo những loại sau:
- Nhà cung cấp nguyên vật liệu, thiết bị công nghệ kỹ thuật, hàng hóa là
yếu tố đầu vào cho doanh nghiệp.
- Nhà cung cấp tài chính, dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm cho doanh
nghiệp.
- Nhà cung cấp nguồn nhân lực cho doanh nghiệp.
Để đem lại lợi ích lớn nhất cho doanh nghiệp mình trong khâu thu mua
các yếu tố đầu vào, doanh nghiệp nên lựa chọn nhà cung ứng phù hợp theo
các tiêu thức sau:
- Đánh giá được phạm vi, quy mô của nhà cung ứng lớn hay nhỏ, có đáp
ứng được nhu cầu biến động của thị trường hay không?
- Đánh giá về mẫu mã, chủng loại phong phú đa dạng? Chức năng công
dụng của sản phẩm dịch vụ như thế nào?

doanh.
- Nhà cung cấp vốn: trong những thời điểm nhất định phần lớn các
doanh nghiệp, kể cả các doanh nghiệp làm ăn có lãi, đều phải vay vốn tạm
thời từ người tài trợ. Nguồn tiền vốn này có thể nhận được bằng cách vay
ngắn hạn hoặc vay dài hạn hoặc phát hành cổ phiếu. Khi doanh nghiệp tiến
hành phân tích về các tổ chức tài chính thì trước hết cần chú ý xác định vị thế
của mình so với các thành viên khác trong cộng đồng. Cần đặt ra các câu hỏi
cơ bản sau:
Doanh nghiệp có được đánh giá đúng không?
Các điều kiện cho vay hiện tại của chủ nợ có phù hợp với các mục tiêu
lợi nhuận của doanh nghiệp không?
- Nhà cung cấp lao động: Nguồn lao động cũng là một phần chính yếu tố
trong môi trường cạnh tranh của doanh nghiệp. Khả năng thu hút và giữ được
các nhân viên có năng lực là tiền đề đảm bảo thành công cho doanh nghiệp.
Các yếu tố chính cần đánh giá nhà cung cấp lao động bao gồm: trình độ đào
tạo và trình độ chuyên môn của họ.


CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ
THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ KHÁCH HÀNG,
NHÀ CUNG CẤP ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ Ở
CÔNG TY ĐÔNG ĐÔ – BQP
2.1. Phương pháp nghiên cứu
2.1.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Phương pháp nghiên cứu các dữ liệu thứ cấp được sử dụng dể nghiên
cứu cơ sở lý luận nhằm đặt nền tảng cơ sở cho những lý luận sau này để phân
tích và đề ra hướng giải quyết cho việc ảnh hưởng của yếu tố khách hàng, nhà
cung cấp nhằm hoàn thiện bộ máy quản trị. Phương pháp này được sử dụng
để xem xét, tìm tòi, hệ thống hóa và tóm tắt tất cả những kết quả có liên quan
đến đề tài đã được tiến hành nghiên cứu.

2.1.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
Phương pháp phân tích dữ liệu là phương pháp dựa vào dữ liệu thứ cấp
thông thường là dữ liệu của ba năm như báo cáo kết quả kinh doanh, doanh
thu của các nhóm mặt hàng, các danh mục chi phí, năng suất lao động theo
sản phẩm… để thống kê, so sánh về số tương đối, số tuyệt đối giữa các năm
để từ đó thấy được sự tình hình giữa các năm đó tăng hay giảm và mức tăng
giảm là bao nhiêu, sự tăng giảm này có ảnh hưởng như thế nào đến kết quả
kinh doanh của công ty như thế nào.
Nguồn số liệu thứ cấp để phân tích sẽ được thu thập thông qua các bản
điều tra và trực tiếp là các nhà quản trị được phỏng vấn chuyên sâu. Họ sẽ
cung cấp cho ta các số liệu liên quan đến vấn đề cấp bách và cần thiết của
công ty trong thời gian hiện tại mà công ty cần giải quyết.
Để thực hiện phương pháp này sau khi đã có các số liệu cân thiết phục
vụ cho quá trình phân tích ta có thể lập bảng thống kê số liệu cho ba năm và
đưa ra các cột chỉ tiêu so sánh giữa hai năm với nhau để thấy được sự khác
biệt giữa các năm. Áp dụng cho đề tài giải pháp tiết kiệm cho phí kinh doanh,
quá trình phân tích dữ liệu thứ cấp bao gồm các bảng kết quả kinh doanh, số


liệu phân tích về chi phí theo chỉ tiêu các loại phí và số liệu phân tích theo các
chỉ tiêu về chi phí. Qua sự phân tích đó thấy được sự tăng, giảm của các chỉ
tiêu và tìm hiểu nguyên nhân tại sao lại có sự tăng hoặc giảm về chi phí và sự
tăng giảm đó có ảnh hưởng gì tới mục tiêu đạt được của doanh nghiệp không.
Cùng với phương pháp thu thập dữ liệu và phương pháp phân tích dữ
liệu thì phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp logics sẽ giúp cho
luận văn có sự kết hợp chặt chẽ, dễ hiểu và tạo ra khả năng thuyết phục được
người đọc.
2.2. Đánh giá tổng quan tình hình và nhân tố ảnh hưởng của yếu tố
khách hàng, nhà cung cấp đến công tác quản trị ở Công ty.
2.2.1. Giới thiệu khái quát về Công ty Đông Đô – BQP


ngừng của xí nghiệp xây dựng và chất đốt – BQP đã ký quyết định nâng cấp xí
nghiệp thành công ty Đông Đô thuộc Bộ Quốc phòng.
Công ty Đông Đô hoạt động trong lĩnh vực xây dựng và thương mại do
đó Công ty có chức năng sản xuất và kinh doanh. Bên cạnh xây dựng các công
trình lớn, Công ty còn phân phối vật liệu xây dựng và chất đốt, sản xuất và
kinh doanh hàng công nghiệp nhẹ và thực hiện các chức năng thương mại khác
như:
- Kinh doanh vật liệu xây dựng.
- Đại lý kinh doanh than và chất đốt.
2.2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ
Chức năng: Công ty Đông Đô – BQP là Công ty thuộc Nhà nước hoạt
động trong lĩnh vực xây dựng và thương mại do đó Công ty có chức năng sản
xuất và kinh doanh. Bên cạnh xây dựng các công trình lớn, Công ty còn phân
phối vật liệu xây dựng và chất đốt. Sản xuất và kinh doanh hàng công nghiệp
nhẹ và thực hiện chức năng thương mại khác.
Nhiệm vụ:
- Xây dựng các công trình vành đai biên giới, phục vụ quốc phòng, các
công trình cơ sở hạ tầng cho các đơn vị quân đội dưới sự kiểm soát của BQP.
- Kinh doanh và vận chuyển cát, đá, sỏi.
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và kinh doanh nhà.
- Sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, chất đốt (than), đồ hộp, đồ
gia dụng.


2.2.1.3. Khái quát về kết quả kinh doanh
Bảng 2.2: Kết quả hoạt động KD của công ty qua 3 năm 2006 - 2008
Đơn vị: tỷ đồng
Chỉ tiêu



lệch

(%)

So sánh 08/07

213.289 214.355

218.735

1.066

0.5

4.38

2

208.546 210.074

213.157

1.528

0.7

3.083

1.5


2.913

3.074

0.016

0.5

0.161

5.5

1.479

1.533

2.016

0.054

3.7

0.483

31.5

7. Lợi nhuận thuần từ HĐTC
8. Lợi nhuận bất thường



1.918

2.052

2.628

0.134

7

0.576

28

0.537

0.575

0.736

0.038

7.1

0.161

28.01

1.381

sự ổn định và nhờ có sự dự báo, hoạch định chiến lược kinh doanh của ban
lãnh đạo công ty nên việc kinh doanh khá là khả quan.


2.3. Phân tích dữ liệu sơ cấp
2.3.1. Ảnh hưởng của khách hàng
Qua kết quả phiếu điều tra trắc nghiệm và phỏng vấn ta thấy:
Số lượng sản phẩm cung cấp cho khách hàng là gồm có vật liệu xây
dựng, than và chất đốt. Trong quá trình kinh doanh công ty đã có nhiều bạn
hàng truyền thống trên cả nước.Tập khách hàng chủ yếu của công ty chủ yếu
là doanh nghiệp vừa và nhỏ (9/9 phiếu, chiếm tỷ lệ 100%). Hình thức thanh
toán chủ yếu của khách hàng là chuyển khoản (9/9 phiếu, chiếm tỷ lệ 100%),
sản phẩm của công ty được khách hàng đánh giá là tốt (9/9 phiếu, chiếm tỷ lệ
100%). Công ty đã có bộ phân chuyên trách về khách hàng và thường xuyên
thực hiện hoạt động nghiên cứu khách hàng, luôn luôn cập nhật thông tin biến
động khách hàng một cách kịp thời. Tại sao công ty phải làm những công việc
này? Lý do ở đây vì khách hàng luôn là yếu tố quan trọng đối với doanh
nghiệp, có được khách hàng đã khó, nhưng giữ chân được khách hàng còn khó
khăn hơn. Việc duy trì và cải thiện các mối quan hệ với khách hàng là vô cùng
quan trọng, mang lợi nhiều lợi ích cho công ty. Công ty phải thể hiện được sự
quan tâm tới khách hàng, coi họ như những đối tác chiến lược va hiểu được
giá trị của họ. Việc làm hài lòng khách hàng, đem lại cho họ những sản phẩm
và dịch vụ như ý muốn, chẳng hạn như các chương trình khuyến mại, tặng quà
cho khách hàng,…là rất quan trọng. Công ty thường xuyên có những chương
trình nhằm thu hút khách hàng mới, tuy nhiên cần phải chú ý đến việc làm hài
lòng những khách hàng hiện có. Nếu như không thành công trong việc giữ
chân khách hàng cũ thì dĩ nhiên công ty cũng không thể có được kết quả trong
việc thu hút, tìm kiếm khách hàng mới. Vì vậy, công ty cần dành thời gian và
công sức để chăm sóc các mối quan hệ với khách hàng, đặc biệt là các khách
hàng lâu năm. Công ty Đông Đô đã áp dụng chính sách ưu đãi với khách hàng

vốn vay đên 70% nên điều này ảnh hưởng khá lớn đến hoạt kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguyên vật liệu tăng giá rất nhanh đẩy chi phí đầu vào tăng cao
dẫn đến giá cả hàng hóa cũng tăng theo.Đầu năm 2008 giá nguyên vật liệu
tăng nhanh và rất cao. Điều này làm ảnh hưởng rất nhiều yếu tố trong doanh


nghiệp như: cắt giảm chi phí cạnh tranh, các chi phí quản lý và đãi ngộ nhân
viên, các khoản đầu tư cho cơ sở hạ tầng sản xuất, chi phí quảng bá hình
ảnh…Công ty tìm đủ mọi cách để thu tiền đúng thời hạn, nếu không được thì
càng sớm càng tốt để còn tái đầu tư. Bên phía khách hàng thì viện đủ ra thứ lý
do để trì hoãn việc thanh toán hóa đơn. Điều này đặt Công ty vào thế bị động
về tài chính và làm mất nhiều cơ hội hợp tác đầu tư khác của Công ty. Công ty
trong thời kỳ tài chính khó khăn nên không có khả năng tăng lương và các chế
độ đãi ngộ để giữ chân nhân viên. Để đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia
đình, người tài năng và các cán bộ nhân viên đều xin nghỉ việc để tìm kiếm cơ
hội ở các mảnh đất màu mỡ hơn như công ty liên doanh, nước ngoài,…Công
ty lại phải tiếp tục tuyển dụng và đào tạo lại nhân sự gây nhiều tổn thất về thời
gian cũng như về kinh phí đào tạo và giá trị sản xuất.
Đầu năm 2009, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới ảnh hưởng đến nền
kinh tế nước ta, làm kinh tế nước ta suy giảm ít nhiều ảnh hưởng lớn đến môi
trường kinh doanh nói chung và công ty nói riêng. Khả năng tiêu thụ hàng hóa
chậm dẫn đến việc thu hồi vốn của công ty gặp nhiều khó khăn và công ty
cũng gặp khó khăn trong việc sắp xếp công việc cho nhân viên.
Sau hơn một năm gia nhập WTO, không chỉ đem lại những cơ hội mà
nó còn mang lại những thách thức vô cùng to lớn cho mỗi cá nhân, tổ chức.
Trong môi trường kinh doanh mới này, công ty chậm biến đổi, không thích
ứng được với sự thay đổi của thị trường sẽ bị thị trường đào thải, đây là tất
yếu khách quan. Những thuận lợi mang lại cho công ty khi Việt Nam gia nhập
WTO đó là: công ty có nhiều cơ hội để chọn lựa các tập khách hàng riêng cho
công ty sao cho phù hợp nhất với thế mạnh của công ty. Và từ đó có thể lựa

số lượng cũng như chất lượng hàng hóa và cung cấp đủ thông tin mà họ yêu
cầu.
Ngày nay trên thị trường cạnh tranh, sự cạnh tranh về giá cả ngày càng
ít có ý nghĩ quan trọng hơn, thay vào đó là sự cạnh tranh về dịch vụ. Các nhà
kinh doanh coi dịch vụ bán hàng là một thứ vũ khí sắc bén để cạnh tranh,
giành ưu thế trên thị trường. Dịch vụ sau bán của nhà cung cấp đối với công ty


được đánh giá tốt (đạt 7/9 phiếu chiếm 77.78%) và chưa tốt (đạt 2/9 phiếu
chiếm 22.22%). Nguyên nhân được đánh giá chưa tốt là do một số nhà cung
cấp chưa thực sự chú trọng đến những dịch vụ sau bán dành cho doanh
nghiệp, việc đảm bảo hàng hóa được cung cấp tới công ty trong tình trạng tốt
và đúng thời gian thôi không đủ còn phải liên hệ với công ty sau đó nhằm xem
xét mức độ hài lòng của Công ty về mặt giá cả, chất lượng phục vụ đã tốt hay
chưa có một số nhà cung cấp chưa làm được điều đó.
Khả năng cung ứng hàng hóa của nhà cung cấp cho doanh nghiệp trong
trường hợp khẩn cấp kịp thời (9/9 phiếu đạt 100%). Nhà cung cấp cũng rất ít
khi ép giá đối với công ty (9/9 phiếu đạt 100%) và áp đặt điều kiện mua bán
không thuận lợi cho công ty. Nguyên nhân là do công ty là khách hàng truyền
thống của nhà cung cấp và công ty đã lựa chọn cho mình một số lượng nhà
cung cấp nhất định, khi công ty có ý định mua hàng của nhiều người thì bản
thân các nhà cung cấp sẽ đưa ra điều kiện hấp dẫn về giá cả, giao nhận, thanh
toán để thu hút người mua về phía mình.
Sau hơn một năm gia nhập WTO, đã có rất nhiều công ty nước ngoài
tham gia vào thị trường Việt Nam, kéo theo đó là hàng hóa, nguyên nhiên vật
liệu của các nhà cung cấp hầu như trên toàn thế giới có thể xâm nhập vào thị
trường Việt Nam.Vì vậy, công ty Đông Đô – BQP có thể mua các nguyên,
nhiên vật liệu, máy móc thiết bị với chất lượng tốt, phong phú đa dạng về mẫu
mã chủng loại và với giá cả phù hợp hơn, dịch vụ khách hàng tốt hơn. Nhưng
bên cạnh đó công ty cũng gặp phải nhiều khó khăn như là về nguồn cung lao


2006

2007

2008

So sánh 07/06
Chênh
Tỷ lệ

So sánh 08/07
Chênh
Tỷ lệ

1. Xi măng

35

42.5

45.2

lệch
7.5

(%)
21.4

lệch


4.2

5.7

10.9

4. Cát

30.6

33.8

35.2

2.3

10.45

1.4

4.1

5. Khác

6.4

7.7

9.95

tăng 4.1%). Còn các mặt hàng khác mức bán ra của năm 2008 so với năm
2007 là 29,2% cao hơn mức bán ra của năm 200 so với 2006 là 20.3%.
Nhìn chung, hoạt động bán ra của công ty Đông Đô – BQp tăng trưởng
nhanh và khá ổn định qua các năm.
2.4.2. Ảnh hưởng của nhà cung cấp
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động mua hàng của công ty trong 3 năm 06-08
Đơn vị: tỷ đồng
Sản phẩm

Năm

Năm

Năm

2006

2007

2008

So sánh 07/06
Chênh Tỷ lệ

So sánh 08/07
Chênh Tỷ lệ

1. Xi măng

32


2.8

3. Than

48,6

50.4

55.1

1.8

3.7

4.7

9.3

4. Cát

27.5

30.9

33,3

3.4

12.4

nhất trong tổng giá trị mua hàng của công ty. Năm 2008 mức mua vào là 65.7
tỷ tăng 1.8 tỷ (tương ứng tăng 2.8%) so với năm 2007 là 63.9 tỷ. Mức mua
của năm 2007 so với 2006 tăng 2.7 tỷ (tương ứng tăng 4.4%).
Đối với mặt hàng than công ty mua vào không ngừng. Năm 2007 mua
vào 50.4 tỷ tăng 1.8 tỷ (tương ứng tăng 36 ty7%) so với năm 2006 là 48.6 tỷ.
Năm 2008 so với năm 2007 tăng 4.7 tỷ (tương ứng tăng 9.3%).
Mặt hàng cát cũng được mua vào với số lượng lớn. Mức mua vào của
mặt hàng này năm 2008 so với năm 2007 tăng 2.4 tỷ (tương ứng tăng 7.8%).
Năm 2007 mức mua vào là 30.9 tỷ tăng 3.4 tỷ so với năm 2006.
Đối với mặt hàng khác chi phí mua vào của công ty cũng liên tục tăng
qua các năm và là mặt hang tăng nhanh nhất. Năm 2006, mức mua vào chỉ là
5.3 tỷ thì năm 2007 là 6.5 tỷ tăng 1.2 tỷ (tương ứng tăng 22.64%). Năm 2008
so với năm 2007 tăng 1.6 tỷ (tương ứng tăng 24.6%).
Nhìn chung, hoạt động mua vào của công ty Đông Đô – BQP nhằm
cung cấp cho quá trình hoạt động và phát triển của công ty, tăng trưởng ổn
định theo quy mô. Các nguyên, nhiên vật liệu cung ứng cho công ty được lấy
từ nhiều nguồn khác nhau. Công ty đã chú trọng nghiên cứu nguồn hàng và
lựa chọn cá nhà cung cấp hợp lý cho mình.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN


CÔNG TÁC QUẢN TRỊ Ở CÔNG TY ĐÔNG ĐÔ – BQP
DƯỚI ẢNH HƯỞNG CỦA YẾU TỐ KHÁCH HÀNG
VÀ NHÀ CUNG CẤP
3.1.Nhận xét
3.1.1. Ưu điểm
3.1.1.1. Trong quan hệ với khách hàng
Giá cả sản phẩm và dịch vụ: Công ty đưa ra một mức giá phải chăng,
chúng được căn cứ trên mức giá của đối thủ cạnh tranh.

Các hoạt động sản xuất hỗ trợ cho hoạt động cung cấp dịch vụ của
công ty đã có nhưng cách bố trí không hợp lý lại làm hạn chế khả năng cạnh
tranh trong tiêu thụ.
Hoạt động nghiên cứu thị trường của công ty đã có nhưng chưa hoàn
thiện.
Tham gia các hội chợ, triển lãm để tìm kiếm và thiết lập những mối
quan hệ mới đặc biệt là mối quan hệ với khách hàng mới chưa có.
Chất lượng của độ ngũ bán hàng của công ty chưa thực sự cao, khả
năng sử dụng các công cụ kỹ thuật hỗ trợ cho định giá sản phẩm chưa thật sự
tốt.
Các hoạt động xây dựng các mối quan hệ đối với khách hàng để tạo
dựng những khách hàng truyền thống cho công ty chưa thật sự tốt.
3.1.2.2. Trong quan hệ với nhà cung ứng
Công ty chưa tạo ra được sự chủ động nhất định vẫn còn phụ thuộc khá
lớn vào nhà cung cấp.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status