đề tài “phân tích mối quan hệ giữa lạm phát với lãi suất và các biện pháp kiềm chế lạm phát của việt nam trong giai đoạn hiện nay” - Pdf 15

BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài
“Phân tích mối quan hệ giữa lạm phát với
lãi suất và các biện pháp kiềm chế lạm phát
của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”
1
Mục lục
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………… 67
2
LỜI MỞ ĐẦU
Cơ chế thị trường đã rung lên hồi chuông cảnh báo bao sự thay đổi của nền
kinh tế Việt Nam trong những thập niên gần đây. Trong nền kinh tế thị trường
hoạt động đầy sôi nổi và cạnh tranh gay gắt, để thu được lợi nhuận cao và đứng
vững trên thương trường, các nhà kinh tế cũng như các doanh nghiệp phải
nhanh chóng tiếp cận, nắm bắt những vấn đề mới của nền kinh tế mới. Bên
cạnh bao vấn đề cần có để kinh doanh còn là những vấn đề nổi cộm khác trong
nền kinh tế. Điển hình là diễn biến của hai chỉ số lạm phát và lãi suất. Trong
khi lãi suất có vai trò quan trọng trong việc quyết định đầu tư thì lạm phát lại là
“kẻ phá hoại” có tác động xấu đến các hoạt động kinh tế. Liệu rằng giữa hai
biến số kinh tế này có mối liên hệ với nhau như thế nào và Chính phủ sẽ hành
động như thế nào trong cuộc chiến chống lạm phát. Tất cả những vấn đề đó đã
thôi thúc chúng em đi vào nghiên cứu đề tài “Phân tích mối quan hệ giữa lạm
phát với lãi suất và các biện pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay”
Do trình độ và thời gian có hạn, trong quá trình nghiên cứu đề tài chắc chắn
còn nhiều thiếu sót, chúng em kính mong sự góp ý chân thành của thầy cô và
bạn đọc để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
3

Chương 1:Tổng quan nghiên cứu đề tài .
1.1. Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài:
5
Lạm phát và lãi suất là hai biến số kinh tế quan trọng của không chỉ của một quốc
gia nào. Lịch sử đã chứng minh sự ảnh hưởng mạnh mẽ của chúng đến sự phát
triển kinh tế Thế giới. Không những lạm phát và lãi suất có thể tác động đến mọi
hoạt động kinh tế mà chúng còn chiụ sự tác động qua lại lẫn nhau. Sự tác động này
làm cho diễn biến của chúng ngày càng biểu hiện khó lường, gây khó khăn cho
công tác kiểm soát vĩ mô nền kinh tế của Chính Phủ.
Trước tình hình thế giới có nhiều thay đổi như hiện nay thì vấn đề ổn định nền
kinh tế luôn là mục tiêu cấp thiết hàng đầu của các quốc gia. Bởi vậy, nắm bắt
được quy luật về mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất sẽ giúp cho chính phủ các
nước có những chính sách kinh tế phù hợp, tạo nên một sự phát triển kinh tế ổn
định và tích cực hơn.
Lạm phát gia tăng là vấn đề cố hữu đối với nền kinh tế mới nổi như Việt Nam.
Kiềm chế lạm phát luôn là mục tiêu được chính phủ ưu tiên. Nên việc nghiên cứu
và tìm ra các biện pháp kiềm chế lạm phát sẽ góp phần không nhỏ cho sự phát
triển kinh tế Việt Nam.
1.2. Xác lập và tuyên bố vấn đề nghiên cứu trong đề tài:
Từ tình hình bất ổn của nền kinh tế đòi hỏi chính phủ phải có biện pháp quản
lí hiệu quả hơn đối với công cụ lãi suất và điều chỉnh tỷ lệ lạm phát ở mức thích
hợp, chúng em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Phân tích mối quan
hệ giữa lạm phát với lãi suất và các biện pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay”.
1.3. Các mục tiêu nghiên cứu:
Tìm hiểu về mối quan hệ giữa lạm phát với lãi suất. Biểu hiện cụ thể trong thực
tiễn của mối quan hệ đó.
6
Đánh giá tình hình lạm phát của Việt Nam trong những năm gần đây. Đưa ra các

Chương 2. Tóm lược một số vấn đề lí luận về lạm phát và lãi
suất, mối quan hệ giữa lạm phát với lãi suất và các biện pháp
kiềm chế lạm phát
2.1. Một số khái niệm định nghĩa cơ bản:
2.1.1. Lạm phát:
2.1.1.1. Khái niệm về lạm phát:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát.
Nhà kinh tế học Samuelson cho rằng: lạm phát biểu thị sự tăng lên trong mức giá
cả chung. Theo ông thì lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng-
giá bánh mì, dầu xăng, xe ô tô tăng, tiền lương, giá đất, tiền thuê tư liệu sản xuất
tăng.
Milton Friedman cho rằng: lạm phát là việc giá cả tăng nhanh và kéo dài.Còn
Mác viết trong bộ tư bản rằng: lạm phát là việc tràn đầy các kênh, các luồng lưu
thông các tờ giấy bạc thừa dẫn đến giá cả tăng vọt. Ông cho rằng lạm phát luôn
đồng hành cùng với chủ nghĩa tư bản, ngoài việc bóc lột chủ nghĩa tư bản bằng giá
8
trị thặng dư, chủ nghĩa tư bản còn gây ra lạm phát để bóc lột người lao động một
lần nữa, do lạm phát làm tiền lương thực tế của người lao động giảm xuống.
Như vậy mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về lạm phát nhưng các nhà kinh
tế đều thống nhất “lạm phát là một sự tăng lên của giá cả một cách liên tục và khi
lạm phát xảy ra thì có sự dư thừa tiền trong lưu thông”. Tóm lại,, lạm phát là sự
tăng lên liên tục của mức giá trung bình theo thời gian.
2.1.1.2. Nguyên nhân gây ra lạm phát.
+) Lạm phát do cầu kéo: lạm phát do cầu kéo xảy ra khi tổng cầu tăng lên mạnh
mẽ tại mức sản lượng đã đạt hoặc vượt quá tiềm năng. Biểu hiện rõ nhất của lạm
phát cầu kéo là nhu cầu nhập khẩu lương thực trên thị trường thế giới tăng, làm giá
xuất khẩu tăng (giá xuất khẩu gạo bình quân của nước ta năm 2007 tăng trên 15%
so với năm 2006) kéo theo cầu về lương thực trong nước cho xuất khẩu tăng.
Trong khi đó, nguồn cung trong nước do tác động của thiên tai, dịch bệnh không
thể tăng kịp. Tất cả các yếu tố nói trên gây ra lạm phát cầu kéo, đẩy giá một số

*
y
0
y
1
y

y
1
y
0
y
*
y
E
1
AD
1
E
0
ASLR
AD
E
1
P
0
P
1
E
P

Ảnh hưởng đến đời sống của các tầng lớp dân cư: Người dân nhất là những
người làm công ăn lương, những hộ nghèo phải chiụ sự tác động trực tiếp nhất của
lạm phát trong cơn bão tăng giá. Lạm phát cũng làm giảm việc làm cho người dân
trong trung và dài hạn. Đời sống dân cư ngày càng trở nên khó khăn. Ảnh hưởng
đến sự phân phối lại thu nhập và của cải: do tác động của lạm phát làm mất cân
đối giữa nợ và tài sản mà những người lao động sống bằng tiền lương thì tiền
lương thực tế giảm trong khi mức giá cả tăng lên làm cho nền kinh tế suy giảm.
11
Ảnh hưởng nhiều đến khối doanh nghiệp: Lạm phát cũng gây ra tình trạng thiếu
tiền vì các doanh nghiệp không khai thác được nguồn tín dụng cho việc duy trì sản
xuất của mình. Do đó, số lượng công việc cho người dân làm cũng giảm thiểu
trong trung và dài hạn.
Ảnh hưởng đến lĩnh vực tài chính Nhà nước: lạm phát làm cho nguồn thu ngân
sách Nhà nước ngày càng bị thu hẹp dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách ngày
càng tăng.
2.1.2.Lãi suất
2.1.2.1.Khái niệm lãi suất
Lãi suất là tỷ lệ tổng số tiền phải trả so với số tiền cho vay trong một khoảng
thời gian nhất định. Lãi suất là giá mà người vay phải trả để sử dụng tiền không
thuộc sở hữu của họ vì lợi tức người cho vay có được do việc trì hoãn chi tiêu.
Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế :
Lãi suất danh nghĩa (với hàm ý chưa điều chỉnh ảnh hưởng của lạm phát ) là lãi
suất đã bao gồm cả những tổn thất do lạm phát gây ra do sự gia tăng của mức giá
chung. Quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được biểu thị bằng các
công thức sau:
• (1 + r)(1 + i) = (1 + R) trong đó: r là lãi suất thực tế, i là tỷ lệ lạm phát và R
là lãi suất danh nghĩa.
Trên thực tế, tỷ lệ lạm phát sau đó có thể khác với tỷ lệ lạm phát dự kiến nên
không thể biết trước một cách chắc chắn được lãi suất thực tế còn lãi suất danh
nghĩa thì có thể biết trước được một cách chắc chắn khi công bố.

này được lập ra chủ yếu huy động vốn để cho vay phục vụ cho mục đích phát triển
bất động sản.

Lãi suất huy động nóng
Lãi suất huy động nóng hay có thể gọi là lãi suất qua đêm (federal funds rate) là
loại lãi suất được xác lập bởi thị trường cho vay tạm thời các khoản nợ để đáp ứng
cân đối dự trữ theo luật định mà các ngân hàng thương mại phải duy trì tại Ngân
hàng Trung ương. Những ngân hàng có cân đối dự trữ vượt yêu cầu có thể sử dụng
khoản vượt này để cho các ngân hàng bị hụt vay tạm.
Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng Trung ương
Lãi suất chiết khấu discount rate là lãi suất được thu trên các khoản tiền mà
Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng thành viên trong hệ thống vay. Đây là
công cụ điều tiết vĩ mô thường được Mỹ và các nước phương tây sử dụng rất hiệu
quả. Các khoản vay đó được cầm cố bằng các chứng khoán của chính phủ hoặc
các giấy tờ có giá đủ hiệu lực khác theo quy định. Thỉnh thoảng Ngân hàng Trung
ương có thể điều chỉnh lãi suất chiết khấu để khuyến khích hoặc hạn chế các ngân
hàng thành viên vay mượn. .
(Lãi suất tái cấp vốn là lãi suất mà ngân hàng nhà nước áp dụng khi cấp vốn cho
các ngân hàng thương mại.)
Một số loại lãi suất cơ bản của ngân hàng nhà nước VN.
- Lãi suất cơ bản: 8.25%/năm
- Lãi suất tái cấp vốn: 6.5%/năm
- Lãi suất chiết khấu: 4.5%/năm
2.1.2.3.Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
Vậy lãi suất ảnh hưởng đến tình hình của một nền kinh tế nói chung như thế
nào? Lãi suất cho vay thể hiện tình trạng của nền kinh tế bằng cách ảnh hưởng
đến nguồn và nguồn cầu về số lượng tiền gửi ngân hàng.
14
Lãi suất là biến số kinh tế nhạy cảm, sự thay đổi của lãi suất sẽ tác động làm
thay đổi hành vi sản xuất và tiêu dùng của xã hội. Về phương diện lý thuyết cũng

đó tạo sức ép giảm tiêu dùng của các hộ gia đình.
Tuy nhiên, tác động của lãi suất đến hành vi tiêu dùng và sản xuất của xã hội
nhiều hay ít, nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi quốc
gia, trong từng quốc gia thì mỗi giai đoạn phát triển của thị trường tài chính thì
mức độ tác động của lãi suất cũng khác nhau.
Đối với Việt Nam từ năm 2000-2007, tác động của lãi suất đến tăng trưởng và
lạm phát có thể thấy được qua việc xem xét ảnh hưởng của lãi suất trên thị trường
tiền tệ Việt Nam đối với hành vi của cá nhân và các doanh nghiệp, từ đó đánh giá
ảnh hưởng của lãi suất đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát.
2.2. Một số lí thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát với lãi suất và các biện
pháp kiềm chế lạm phát của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
2.2.1. Các lí thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất
2.2.1.1.Hiệu ứng Fisher
Hiệu ứng Fischer do nhà kinh tế học người Mỹ Irving Fisher đưa ra vào thời kì
đại khủng hoảng 1930-1939. Đây là một nội dung quan trọng trong thuyết số
lượng tiền tệ của ông, nhằm mục đích lí giải hiện tượng khủng hoảng của nền kinh
tế. Ông cho rằng nguyên nhân chủ chốt gây ra Đại khủng hoảng là tín dụng dễ dãi
dẫn đến sự nợ nần quá mức, gây ra nận đầu cơ và các bong bong tài sản, và khi
bong bong tài sản vỡ dẫn đến tài sản giảm giá trị, đói tín dụng, ảnh hưởng đến các
ngành sản xuất, dẫn đến giảm phát.
16
Hiệu ứng Fisher mô tả mối quan hệ giữa tỉ lệ lạm phát và hai loại lãi suất là lãi
suất danh nghĩa và lãi suất thực tế: Khi tỉ lệ lạm phát tăng lên thì tỉ lệ lãi suất danh
nghĩa cũng tăng lên cùng một tỉ lệ, trong khi tỉ lệ lãi suất thực tế không thay đổi.
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực tế + Tỷ lệ lạm phát.
Ví dụ, nếu ngân hàng trả cho khoản tiền tiết kiệm mà bạn gửi trong một năm với
lãi suất danh nghĩa là 8%, và tỉ lệ lạm phát trong thời gian đó là 6% thì lãi suất
thực tế mà bạn nhận được sẽ chỉ là 2%. Bởi vì theo hiệu ứng Fisher 8%- 6%=2%
Như vậy khi mà tỷ lệ lạm phát tăng 1% thì lãi suất danh nghĩa cũng tăng 1%, mối
tương quan một- một giữa tỷ lệ lạm phát với lãi suất danh nghĩa được gọi là hiệu

công cụ rất quan trọng trong việc kiểm soát lạm phát, huy động vốn và cung cấp
vốn.
2.2.1.3. Tác động gián tiếp của lạm phát đối với lãi suất thông qua lĩnh vực tín
dụng và tiền tệ .
Lạm phát làm cho quan hệ tín dụng , thương mại và ngân hàng bị thu hẹp. Số tiền
gửi vào ngân hàng giảm đi rất nhiều do giá trị đồng tiền bị giảm xuống. Về phía hệ
thống ngân hàng, do lượng tiền gửi vào ngân hàng bị giảm mạnh nên không đáp
ứng được nhu cầu của người đi vay, cộng với việc sụt giá quá nhanh của đồng
tiền, sự điều chỉnh lãi suất tiền gửi sao cho phù hợp với tỷ lệ lạm không làm an
tâm những cá những cá nhân, doanh nghiệp đang có lượng tiền mặt nhàn rỗi trong
tay. Như vậy ngân hàng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, hệ thống ngân
hàng phải cố gắng duy trì mức lãi suất ổn định. Mà lãi suất thưc = lãi suất danh
nghĩa – tỷ lệ lạm phát, khi tỷ lệ lạm phát tăng cao, muốn lãi suất thực ổn định thì
lãi suất danh nghiã phải tăng lên cùng với tỷ lệ lạm phát.
Trong khi đó người đi vay là những có lợi lớn nhờ sự mất giá đồng tiền nhanh
chóng. Do vậy hoạt động của hệ thống của ngân hàng không còn bình thường nữa.
Chức năng kinh doanh tiền tệ bị hạn chế, không còn nguyên vẹn bởi khi có lạm
phát thì chẳng có ai tích trữ tài sản dưới hình thức tiền mặt.
18
2.2.2.Lý thuyết về kiềm chế lạm phát.
Do lạm phát tăng cao và kéo dài đã gây nên những hậu quả lớn trong đời sống
của nhân dân lao động và cho tăng trưởng kinh tế, Chính phủ các quốc gia cần
phải có những biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa và khắc phục lạm phát. Lịch sử
chống lạm phát của các nước cho thấy: Trong hoàn cảnh cụ thể, Chính phủ phải
cần thiết áp dụng những biện pháp mang tính chiến lược.
2.2.2.1. Kiềm chế lạm phát bằng cách giảm tổng cầu.
a) Chính sách tài khoá thu hẹp:
Có hai cách thức áp dụng chính sách tài khóa thu hẹp là giảm tiêu dùng Chính
phủ hay tăng thuế trực thu. Nếu áp dụng chính sách giảm tiêu dùng Chính phủ thì
sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới tổng cầu về hàng hóa, dịch vụ; còn việc tăng thuế trực

chế lạm phát ở nước ta hiện nay, nhất là trong tình trạng giá xăng dầu trên thị
trường thế giới tăng cao, nhưng tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC quyết
định không tăng sản lượng làm giá hầu hết các yếu tố đầu vào đều tăng. Đối với
một số nước như Trung Quốc, Singapore…, năng lượng của họ không phụ thuộc
vào nhiều vào dầu, bởi họ có nguồn năng lượng thay thế như năng lượng hạt nhân,
năng lượng mặt trời, năng lượng sức gió…trong khi đó ở Việt Nam không có,
cộng với ý thức sử dụng năng lượng chưa cao gây lãng phí. Mặt khác, trình độ ứng
dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất còn nhiều hạn chế, chính là nguyên nhân đẩy
giá thành lên cao. Chính vì thế, đầu tư trang thiết bị hiện đại, học tập cách quản lý
từ các nước tiên tiến, chính là cách giảm tác động của lạm phát tới nền kinh tế.
2.2.2.3. Chống lạm phát do quán tính:
Sử dụng các thông tin đại chúng, các động thái của Chính phủ đúng lúc, và đúng
mức nhằm chấn an các thành phần kinh tế, làm cho họ tin tưởng vào sự phát triển
bền vững của nền kinh tế, tin rằng lạm phát sẽ được khống chế có hiệu quả trong
tương lai gần. Do đó, họ loại bỏ trong kế hoạch của mình các yếu tố liên quan đến
tốc độ lạm phát cao, và hạn chế được phần nào lạm phát. Tất nhiên, việc sử dụng
20
biện pháp này phải dựa trên những thành công của công tác phòng chống lạm phát
bằng cách làm giảm cầu hay tác động lên cung.
2.3.Tổng quan tình hình khách thể và những nghiên cứu có liên quan ở Việt
Nam và trên thế giới.
Liên quan đến vấn đề lãi suất, lạm phát đã có không ít các học giả, các cơ quan
ban ngành quan tâm và đi sâu vào nghiên cứu. Thông thường khía cạnh thu hút
được nhiều sự quan tâm nhất là cơ chế điều hành lãi suất và tình hình lạm phát
cũng như nguyên nhân, biện pháp kiềm chế lạm phát.
Bàn về mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất thì chỉ có số ít công trình được công
bố. Hầu hết các nghiên cứu liên quan đưa ra cách phân tích ít mang tính lí luận mà
chú trọng vào tình hình thực tế thông qua nghiên cứu các số liệu về tỉ lệ lạm phát
và lãi suất cụ thể.
2.3.1. Tình hình khách thể nghiên cứu trong nước.

Milton Friedman với việc hoàn thiện lý thuyết tiền tệ hay các đóng góp lớn về học
thuật trong các lý luận về chính sách tiền tệ và tài chính của James Tobin
Còn về nội dung kiềm chế lạm phát, có thể nói đây là lĩnh vực thu hút được
không ít sự quan tâm của các các chuyên gia kinh tế.
Theo John Maynard Keynes thì Chính phủ có vai trò quan trọng hàng đầu trong
việc điều tiết lạm phát thông qua các chính sách tiền tệ và tài khoá của mình.
Trước Keynes thì người thầy của ông Alfred Marshall cũng đã đề cập đến vai trò
của Chính Phủ trong việc điều tiết lạm phát. Có thể nói chính Marshall đã chỉ dẫn
cho Keynes phát triển tư tưởng trọng cầu của mình.
Cuối cùng phải kể đến nghiên cứu của nhà kinh tế học hiện đại David Begg. Ông
là người đúc kết các tư tưởng kinh tế và chuyển hoá thành tác phẩm “ Kinh tế học”
nổi tiếng. Trong tác phẩm ấy ông đã chỉ ra các nguyên nhân gây ra lạm phát, chi
phí của lạm phát và các biện pháp kiềm chế lạm phát. Đây thực sự là tài liệu chính
thống cho các nhà nghiên cứu sau này
22
2.4. Các nghiên cứu có liên quan.
2.4.1. Các ngiên cứu có liên quan về mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất.
Nếu đề cập đến các vấn đề liên quan đến lạm phát và lãi suất nói chung thì có thể
nói đây là vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu và rộng khắp.
Trong nước, đã có không ít sách chuyên khảo, tham khảo bàn về lạm phát với lãi
suất được xuất bản. Đó là các công trình nghiên cứu của các chuyên gia kinh tế
đầu ngành trong nước nhằm đem lại một cách nhìn tổng quan và sâu sắc hơn về
hai biến số kinh tế quan trọng này. Nhưng nhìn chung chủ đề liên quan đến mối
quan hệ giữa lạm phát với lãi suất thì không có nhiều. Các nghiên cứu thường chỉ
xuất hiện dưới dạng một bài viết, chưa thật sự phản ánh hết được mọi mặt của tình
hình. Ví dụ như các chuyên gia thường nhận xét về chính sách điều hành CSTT
trong nước, các giải pháp kiềm chế lạm phát bằng con đường lãi suất, hay rộng
hơn nữa là mối quan hệ giữa lãi suất với các biến số kinh tế khác như tỷ giá hối
đoái, hay lạm phát với tăng trưởng
Còn trên thế giới phạm trù lãi suất đã được các nhà kinh tế thời tiểu tư sản đã đề

Để nghiên cứu mối quan hệ giữa lạm phát và lãi suất chúng tôi sử dụng mô hình
IS – LM, trong đó đường LM là đường cân bằng thị trường tiền tệ, là tập hợp các
kết hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập sao cho cầu tiền thực tế bằng với cung
tiền thực tế; đường IS là tập hợp các kết hợp khác nhau giữa lãi suất và thu nhập
sao cho tổng chi tiêu kế hoạch đúng bằng thu nhập.
Lãi suất là một công cụ của chính sách tiền tệ. Khi chính phủ sử dụng chính sách
tiền tệ nới lòng tổng cung tiền tăng, lãi suất giảm và qua đó kích thích đầu tư.
Ngược lại Chính phủ sử dụng chính sách tiền tệ thắt chặt khi giảm cung tiền, tăng
lãi suất .Thông qua mô hình IS-LM mục đích của chúng tôi là làm rõ được vai trò
của lãi suất trong việc điều chỉnh tổng cầu qua đó có thể làm thay đổi tỷ lệ lạm
phát.
24
Hình 2.2. Mô hình IS - LM
Một mô hình nữa được sử dụng nghiên cứu đó là mô hình tổng cung và tổng cầu.
AD và AS. Trong đó tổng cầu AD= C+ I + G + NX với C là chi tiêu của hộ gia
đình; I là tổng đầu tư của các doanh nghiệp; G là chi tiêu của chính phủ và NX là
xuất khẩu ròng.
Tổng cung biểu thị cho khả năng sản xuất của đất nước trong một giai đoạn nhất
định. Trong dài hạn đường tổng cung là thẳng đứng còn trong ngắn hạn đường
tổng cung dốc lên. Thông qua mô hình tổng cung và tổng cầu chúng tôi muốn chỉ
ra nguyên nhân gây ra lạm phát và dựa vào nguyên nhân đó để tìm cách kiềm chế
lạm phát.
0
Y
LM
IS
r
ro
P0
Yo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status