ĐỀ TÀI
“các giải pháp ổn định nguồn thu ngân
sách nhà nước khi nước ta gia nhập
WTO”
Giáo viên hướng dẫn :
Họ tên sinh viên :
1
Mục lục
Trang
Lời mở đầu ……………………………………………………………………………2
A. những lý luận chung về ngân sách nhà nước …………………………………… 3
I. các khái niệm ………………………………………………………………………3
1. Ngân sách nhà nước……………………………………………………………….3
2. Thu ngân sách nhà nước………………………………………………………… 3
II. Nguyên tắc thiết lập hệ thống thu ngân sách nhà nước (NSNN)…………………4
III. Nguồn thu NSNN……………………………………………………………….4
1. Thuế nguồn thu chủ yếu của NSNN……………………………………………… 4
2. Lệ phí…………………………………………………………………………… 6
3. Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước………………………………………………… 6
4. Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu của nhà nước ………………….…6
5. Thu về hợp tác lao động với nước ngoài và thu khác………………………….… 6
B. thực trạng thu ngân sách nhà …………………………………………………… 6
I. thu ngân sách nhà nước trước khi việt nam gia nhập WTO…………………… ….6
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN…………………………………… ………6
2. tình hình thu ngân sách nhà nước …………………………………………… ……7
II. Ảnh hưởng của việc Việt Nam sau khi gia nhập WTO đến thu NSNN…… …… 7
1. Cam kết và tác động của những cam kết khi gia nhập WTO
ảnh hưởng tới thu chi ngân sách nhà nước……………………………………… … 8
giảm. Việc đặt ra là phải làm sao để cho nhà nước ổn định nguồn thu ngân sách khi
nước ta gia nhập WTO. Vì vậy chúng tôi những thành viên nhóm 5 xin được trình bày
về đề tài : “các giải pháp ổn định nguồn thu ngân sách nhà nước khi nước ta gia
nhập WTO”
Do kiến thức còn hạn chế, chắc chắn đề tài sẽ có nhiều sai sót, chúng tôi mong nhận
được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn. chúng tôi xin trân trọng biết ơn!
A. NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
3
I. Các khái niệm
1. Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước (NSNN)là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Sự hình thành
và phát triển của ngân sách nhà nước gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh
tế hàng hóa- tiền tệ trong các phương thứ sản xuất của các cộng đồng và nhà nước của
từng cộng đồng . Nói cách khác sự ra đời của nhà nước sự tồn tại của kinh tế hàng hóa
- tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh và tồn tại và phát triển của ngân sách nhà
nước
Trong tác phẩm ‘nguồn gốc của gia đình , của chế độ tư hữu và của nhà nước
“Ăngghen đã chỉ ra rằng nhà nước ra đời trong sự đấu tranh của xã hội có giai cấp, nó
là sản phẩm của đấu tranh giai cấp. Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan quyền
lực công cộng để duy trì và phát triển xã hội. Để thực hiện chức năng đó, nhà nước
phải có nguồn lực tài chính. Bằng quyền lực công cộng, nhà nước đã đặt ra chế độ
thuế khóa toàn dân phải cống nạp, các khảo thu này hình thành quỹ tiền tệ của nhà
nước và nó được sử dụng để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Vậy ta có khái niệm :“NSNN là hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các
chủ thể trong xã hội dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá tạo lập ,phân phối và
sử dụng quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của nhà nước (NSNN) nhằm đảm bảo cho việc
thực hiện các chức năng của nhà nước về mọi mặt ”
Ngân sách nhà nước phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế và các chủ thể trong xã
hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng nguồn tài chính quốc gia
trốn thuế.
-Nguyên tắc đơn giản đòi hỏi trong mỗi sắc thuế cần hạn chế số lượng thuế suất xác
định rõ mục tiêu chính không đề ra quá nhiều mục tiêu trong một sắc thuế. Có như
vậy mới tạo điều kiện để triển khai luật thuế vào thực tiễn.
III. Nguồn thu NSNN
Thu NSNN bao gồm : thuế, lệ phí, phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà
nước, các hoạt động sự nghiệp, thu từ bán hoặc cho thuê tài nguyên tài sản thuộc sở
hữu nhà nước, thu từ vay nợ viện trợ không hoàn lại của chính phủ các nước và từ các
khoản thu khác ( thu từ xử phạt, thu từ tịch biên tài sản…). Trong đó thu từ thuế là
quan trọng nhất.
1. Thuế- nguồn thu chủ yếu của NSNN.
Thuế là hình thức đóng góp nghĩa vụ theo luật định của các pháp nhân và thể nhân cho
nhà nước nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Nguồn thuế là do một phần thu nhập do lao do lao động do kinh doanh, do đầu tư tài
chính, do chuyển nhượng tài sản… có được.
Thuế có những đặc điểm sau : là hình thức động viên mang tính chất bắt buộc trên
nguyên tắc luật định, là khoản đóng góp không hoàn trả lại trực tiếp và được quy định
trước.
• Các yếu tố cấu thành của một sắc thuế.
-Người nộp thuế là chủ thể của thuế là một pháp nhân hay thể nhân có nghĩ vụ phải
nộp thuế do luật thuế quy định.
5
- Người chịu thuế là người trích một phần thu nhập của mình để gánh chịu khoản thuế
của nhà nuớc.
- Đối tượng đánh thuế là các khách thể của thuế là những thu nhập của cải mà một luật
thuế nhất định tác động vào, điều tiết nó. Có thể là lợi nhuận thu được, lợi tức thu
được, thu nhập….
- Căn cứ tính thuế là những yếu tố mà người thu thuế dựa vào đó để tính số thuế phải
nộp.
-Thuế suất là phần thuế phải nộp trên mỗi đơn vị tính của đối tượng đánh thuế. Bao
Lệ phí là khoản thu mang tính chất bắt buộc nhưng có tính chất đối giá, lệ phí thực
chất là khoản tiền mà dân chúng trả cho nhà nước khi họ hưởng thụ những dịch vụ mà
nhà nước cung cấp. Lệ phí do cơ quan hành pháp ban hành mang tính quyền lực của
nhà nước, mang tính chất hoàn trả trực tiếp cho người nộp.
3. Thu từ lợi tức cổ phần nhà nước.
Từ khi nhà nước có chủ trương mở cửa thị trường chuyển sang nền kinh tế thị trường
thì các doanh nghiệp nhà nước bị thu hẹp. Nhà nước thực hiện đầu tư vốn vào hoạt
động sản xuất kinh doanh bằng hình thức mua hoặc góp cổ phần để hình thành nên
các doanh nghiệp cổ phần mà ở đó nhà nước đóng vai trò như một cổ đông và có
khoản lợi tức có được từ khoản vốn mà nhà nước đã đầu tư.Thu từ lợi tức cổ phần của
nhà nước là một nguồn thu chiếm tỷ trọng tương đối trong tổng cơ cấu thu của NSNN.
4. Thu từ bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu của nhà nước
Khoản thu này bao gồm :
- Thu về do bán hoặc cho thuê tài nguyên thiên nhiên, cho thuê đất chuyên dung,
đất rừng, cho thuê mặt nước, vùng trời, mặt biển, bán tài nguyên, khoáng sản …
- Thu về do bán tài sản thuộc sở hữu nhà nước nhưng không thuộc nguồn tài
nguyên như bán hoặc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho nước
ngoài.
5. Thu về hợp tác lao động với nước ngoài và thu khác.
- Các nước đông dân, tiềm năng lao động lớn sẽ là các nước xuất khẩu lao động,
tạo nên một khoản thu cho NSNN. Thực chất của khoản thu này là khoản tiền mà
quốc gia bỏ ra những chi phí ban đầu để bảo vệ, nuôi dưỡng, rèn luyện, đào tạo người
lao động, đồng thời cũng là khoản tiền mà người lao động trích ra từ tiền công của
mình đóng góp cho Tổ quốc.
- Ngoài các khoản thu trên còn các khoản thu khác như: thu từ bán các tài sản
không có người thừa nhận, các khoản tiền phạt, tịch thu, các khoản viện trợ không
hoàn lại của chính phủ của các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài…
B. THỰC TRẠNG THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I. thu ngân sách nhà nước trước khi việt nam gia nhập WTO.
1. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu NSNN.
doanh nghiệp FDI và danh nghiệp trong nước. Trong khi đó, chi ngân sách của Việt
Nam trong giai đoạn này là 1.900.000 tỷ đồng (thâm hụt ngân sách là 300.000 tỷ
đồng).
Năm 2005, dự toán thu ngân sách là 183.000 tỷ đồng, với tổng chi là 229.750 tỷ đồng
(thâm hụt ngân sách là 40.750 tỷ đồng). Dự toán ngân sách nhà nước năm 2006 với
tổng các nguồn thu ước đạt 237.900 tỷ đồng, tăng 13% so với thực hiện năm 2005.
II. Ảnh hưởng của việc Việt Nam sau khi gia nhập WTO đến thu NSNN.
8
1. Cam kết và tác động của những cam kết khi gia nhập WTO ảnh hưởng tới thu
chi ngân sách nhà nước.
Tác động trực tiếp của hội nhập được thể hiện qua yêu cầu thay đổi chính sách tài
chính đế phù hợp với yêu cầu của các cam kết quốc tế, bao gồm:
-Khi gia nhập WTO, Việt Nam cam kết ràng buộc với toàn bộ Biểu thuế nhập khẩu
hiện hành , vậy nhiều mặt hàng nhập khẩu sẽ giảm thuế => ngân sách nhà nước sẽ bị
giảm. Tuy nhiên điều gì cũng có 2 mặt “được và mất” , khi gia nhập WTO thực hiện
một nền kinh tế mở nước ta sẽ có nhiều cơ hội, có nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài
=> có thể đẩy mạnh phát triển kinh tế. Bên cạnh đó, dưới tác động gián tiếp của cắt
giảm thuế, tính ổn định và bền vững của thu ngân sách sẽ bị ảnh hưởng. Số thu từ khu
vực kinh tế trong nước, nhất là từ các doanh nghiệp nhà nước sẽ bị ảnh hưởng mạnh
do tác động của cạnh tranh quốc tế và quá trình cải cách doanh nghiệp. Bên cạnh đó,
sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và những thay đổi thị trường trong quá trình hội nhập
cũng sẽ thay đổi nguồn thu.
+ Tác động đến thu NS thông qua việc thực hiện cắt giảm thuế quan theo lộ trình,
thực hiện nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia, tuân thủ Hiệp định
trị giá hải quan theo quy định của WTO.
+ Tác động đến chi NS thông qua việc cắt giảm các khoản trợ cấp trực tiếp đối với
các DN theo yêu cầu của Hiệp định trợ cấp và các biện pháp chống trợ cấp thông qua
cải cách tiền lương, trợ cấp, báo hiểm xã hội cũng như việc cải cách cơ cấu chi thường
xuyên và chi đầu tư từ NSNN. Ngoài ra, HNKTQT yêu cầu hệ thống NSNN phải đảm
bảo công khai, minh bạch hoá chính sách và đảm bảo các chính sách được thực hiện
do phải giảm thuế nhập khẩu 100 - 200 tỷ đồng thì cũng không đáng kể, bởi tổng số
thu ngân sách được bù lại nhờ sản xuất trong nước tăng do giảm được tình trạng buôn
lậu, gian lận thương mại.
Về nhịp độ tăng trưởng GDP, nền kinh tế của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm
2007 đã tăng trưởng cao hơn dự đoán với nhịp độ tăng trưởng GDP ở mức 7,9%. Nhịp
độ tăng trưởng CLĐP trong quý III năm 2007 ước tính khoảng 8,93% và cả năm 2007
dừ kiến sẽ vào khoảng 8,3% đến 8,5%, đây là mức tăng trưởng GDP cao nhất trong 10
năm qua. Điều đáng nói ở đây là, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nửa đầu năm 2007
phần lớn do tăng trưởng từ sản xuất công nghiệp (tăng 12,4%), thương mại, dịch vụ
(dịch vụ thương mại và tài chính tăng 10,4%, khách sạn và nhà hàng tăng 12,7% do
tiêu dùng và du lịch tăng cao) và sự phát triển của khu vực tư nhân (tăng trưởng của
khu vực tư nhân là 20,5% gần gấp đôi khu vực nhà nước). Điều này cho thấy, sau khi
gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã phát triển đúng hướng với việc dựa vào tăng
trưởng ở các ngành quan trọng là công nghiệp và thương mại, dịch vụ. Do đó, cơ cấu
kinh tế đã dịch chuyển theo hướng tích cực: tỷ trọng trong GDP của nhóm ngành công
nghiệp – xây dựng đã được nâng cao từ 41,31% lên 41,48%, của nhóm ngành dịch vụ
đã nâng cao từ 38,25% lên 38,44% và của ngành nông, lâm, thủy sản đã giảm từ
20,45% xuống còn 20,08%. Thêm vào đó, một tín hiệu đáng mừng cho thấy hiệu quả
của việc cải cách chính sách theo hướng không phân biệt đối xử (giảm dần bảo hộ cho
các doanh nghiệp nhà nước, khuyến khích doanh nghiệp tư nhân và các loại hình kinh
tế khác) và mở cửa thị trường theo các cam kết với WTO thể hiện ở chỗ trong 6 tháng
10
đầu năm 2007, đầu tư đã tăng tới 14%. Kết quả này có được là do việc cải cách chính
sách đầu tư, cải thiện môi trường kinh doanh theo cam kết với WTO. Nhưng điều
đáng nói nhất là đóng góp phần lớn vào tăng trưởng đầu tư là do khu vực tư nhân
trong nước (chiếm tới 35%). Như vậy, chứng tỏ chính sách cải cách của chúng ta đã
phát huy tác dụng kích thích và tạo điều kiện khuyến khích đầu tư tư nhân.
Về xuất khẩu, trong 8 tháng đầu năm 2007 xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 31,218
tỷ USD, tăng l 9,3% so với cùng kỳ năm 2006 (cao gấp hơn 2 lần tốc độ tăng trưởng
kinh tế). Trong đó, các doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 13,758 tỷ USD, chiếm
khẩu bình quân đối với hàng phi nông sản giảm từ 16,8% xuống 12,6%. Việt Nam bảo
lưu quyền áp dụng hạn ngạch thuế quan với đường, trứng gia cầm, thuốc lá và muối.
Đối với trợ cấp nông sản, Việt Nam cam kết bãi bỏ hoàn toàn các loại trợ cấp bị cấm
như trợ cấp xuất khẩu, trợ cấp nội địa hóa và được quyền hỗ trợ trong nước đối với
nông sản ở mức 10%… Xem xét tác động của các cam kết giảm thuế có thể thấy, về
tổng thể, việc cắt giảm thuế nhập khẩu sẽ làm giảm sự bảo hộ đối với một số mặt
hàng, thúc đẩy việc cơ cấu lại nền kinh tế phát triển theo hướng hiệu quả, chuyên môn
hoá và tăng sản xuất quy mô lớn, phát huy tốt hơn các lợi thế so sánh về lao động, tài
nguyên. Thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh, đẩy mạnh xuất
khẩu. Đây là tín hiệu tốt đối với các nhà đầu tư nước ngoài, tăng niềm tin vào định
hướng mở cửa và tiềm năng phát triển kinh tế của Việt Nam. Việc cắt giảm thuế trong
ngắn hạn sẽ có tác động nhất định, tuy nhiên, về lâu dài sẽ tác động không lớn lắm đối
với nguồn thu ngân sách nhà nước. Hiện nay ở nước ta, tổng thu từ thuế nhập khẩu chỉ
chiếm khoảng 9% tổng thu ngân sách nhà nước. Đối với kim ngạch nhập khẩu, chỉ
khoảng 20% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm chịu ảnh hưởng của việc cắt giảm
thuế nhập khẩu; việc cắt giảm thuế lại được thực hiện theo lộ trình, không phải cắt
giảm đối với tất cả mặt hàng, cũng không cắt giảm ngay trong giai đoạn đầu tiên.
Thêm vào đó, việc cắt giảm thuế chắc chắn sẽ làm tăng kim ngạch xuất nhập khẩu
(việc giảm thuế tất yếu sẽ thúc đẩy nhập khẩu hàng với số lượng lớn hơn nhập nhiều
nguyên vật liệu đầu vào hơn…) và dẫn đến tăng thu thuế nhập khẩu, nên sẽ tác động
không lớn, thậm chí về lâu dài sẽ làm tăng thu cho ngân sách nhà nước. Kinh nghiệm
cho thấy đối với một số mặt hàng có khi việc cắt giảm thuế lại là biện pháp hữu hiệu
nhất kiềm chế nạn nhập lậu một số mặt hàng có giá trị lớn, thuế suất nhập khẩu cao (ví
dụ mặt hàng điện thoại di động, vàng, kim loại quý, ô tô xe máy…) vì việc giảm thuế
sẽ làm giảm động lực của việc nhập lậu vốn chứa đựng nhiều rủi ro, thúc đẩy việc
nhập khẩu chính ngạch không bị rủi ro, không vi phạm pháp luật, thúc đẩy tăng thu
ngân sách.
C. GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
I. Cải cách thuế
mãn trong xã hội.
3. Vấn đề hành chính thuế.
Hệ thống quản lý thu thuế ở Việt Nam được đánh giá là kém hiệu quả, trong khi
mức độ tuân thủ của người nộp thuế thấp. Do vậy, khía cạnh hành chính thuế ở Việt
Nam vừa mang tính mục tiêu, vừa mang tính hỗ trợ cho các cuộc cải cách thuế. Cải
cách hành chính thuế phải tập trung vào ba lĩnh vực bao gồm giảm sự quá tải của hệ
thống quản lý thuế, giảm chi phí tuân thủ thuế và giảm chi phí quản lý thu thuế.
II. Giải pháp giảm thâm hụt ngân sách nhà nước
1. Thực hiện chính sách tiền tệ chặt:
13
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng các công
cụ chính sách tiền tệ theo nguyên tắc thị trường, kiểm soát chặt chẽ tổng phương tiện
thanh toán và tổng dư nợ tín dụng nhưng phải bảo đảm tính thanh khoản của nền kinh
tế và hoạt động của các ngân hàng, tổ chức tín dụng.
Sử dụng linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ để giảm dần lãi suất huy động theo
hướng thực hiện chính sách lãi suất thực dương. Tăng cường kiểm soát và giám sát
chặt chẽ hoạt động của các ngân hàng thương mại để bảo đảm việc tuân thủ đúng các
quy định về huy động, cho vay và chất lượng tín dụng. Kịp thời phát hiện, xử lý các vi
phạm theo đúng quy định của pháp luật để giảm thiểu rủi ro trong hoạt động ngân
hàng.
- Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia sớm ổn định tổ chức, kịp thời phối hợp với
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính và các cơ quan liên quan tăng cường
các công cụ giám sát theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế để chủ động cảnh báo
và xử lý tốt hơn những biến động trên thị trường tài chính, tiền tệ.
2. Kiểm soát chặt chẽ nâng cao hiệu quả chi tiêu công:
- Điều hành chính sách tài khóa theo hướng tiết kiệm chi tiêu thường xuyên, nâng
cao hiệu quả vốn đầu tư từ ngân sách, kiểm soát chặt chẽ đầu tư của các doanh nghiệp
nhà nước, nhất là đầu tư vào các dự án không thuộc lĩnh vực sản xuất, kinh doanh
chính của doanh nghiệp phấn đấu giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách.
cơ quan sử dụng ngân sách nhà nước, thực hiện cắt giảm những khoản chi mua sắm
chưa thật cần thiết, giảm tối đa các hội nghị toàn quốc, giảm chi phí đi lại (nhất là đi
lại bằng máy bay); cắt giảm các khoản chi tiếp khách, các đoàn công tác nước ngoài
bằng vốn ngân sách hoặc có nguồn gốc ngân sách mà không thật thiết thực; tiết kiệm
năng lượng, phương tiện triệt để hơn nữa. Giảm các chi phí cho hoạt động lễ hội, lễ kỷ
niệm, đón nhận huân chương, danh hiệu thi đua, gây tốn kém, lãng phí. Bộ Tài
chính chủ trì giao chỉ tiêu và hướng dẫn nội dung và tổ chức triển khai để các đơn vị
thực hiện.
- Phấn đấu năm 2008 thu ngân sách thực hiện vượt dự toán đã được giao, tăng dự
phòng để chi cho khắc phục thiên tai, an sinh xã hội, giảm thêm tỷ lệ thâm hụt ngân
sách so với mục tiêu mà Quốc hội đã giao cho năm 2008.
3.Tập trung sức phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ, bảo
đảm cân đối cung cầu về hàng hoá
- Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì:
+ Phối hợp với các địa phương khắc phục nhanh hậu quả của thiên tai và dịch bệnh
để đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, tập trung chỉ đạo phát triển trồng rau màu, chăn
nuôi, tăng nguồn cung thực phẩm nhằm sớm ổn định giá cả lương thực, thực phẩm,
chuẩn bị đủ giống cho sản xuất vụ mùa, hè thu.
+ Phối hợp với các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp để phát hiện sớm, chủ
động thực hiện và hướng dẫn kịp thời các biện pháp phòng, chống, ngăn chặn và dập
tắt một cách tích cực, kiên quyết, có hiệu quả dịch cúm gia cầm, lợn tai xanh, lở mồm
long móng ở trâu, bò và cúm A (H5N1) ở người;
15
+ Chỉ đạo triển khai việc tu bổ các công trình hồ chứa, đê điều, công trình thủy lợi
nhằm chủ động đối phó với thiên tai trong mùa bão, lũ sắp tới để đảm bảo an toàn cho
sản xuất và đời sống.
- Bộ trưởng các Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Công Thương, Tài nguyên và Môi trường,
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,
Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố chỉ đạo quyết liệt, kịp thời tháo gỡ khó khăn,
vướng mắc về thủ tục hành chính để giải quyết nhanh việc tiếp cận, sử dụng vốn, đất
mại mua hết ngoại tệ cho các doanh nghiệp xuất khẩu, xử lý kịp thời các ách tắc về tín
dụng, đáp ứng nhu cầu vay vốn hợp lý cho xuất khẩu.
- Bộ Tài chính chủ động, linh hoạt trong việc sử dụng công cụ thuế để tăng thuế
xuất khẩu ở mức hợp lý đối với than, dầu thô. Điều chỉnh tăng thuế nhập khẩu, thuế
tiêu thụ đặc biệt ở mức hợp lý đối với một số mặt hàng tiêu dùng không thiết yếu như:
ô tô nguyên chiếc, linh kiện lắp ráp xe ô tô dưới 12 chỗ ngồi, một số mặt hàng điện tử,
điện lạnh, xe và linh kiện lắp ráp xe hai bánh gắn máy, rượu, bia để thực hiện mục tiêu
giảm nhập siêu nhưng vẫn bảo đảm phù hợp với cam kết hội nhập; kiến nghị điều
chỉnh cơ chế, chính sách về thuế, áp dụng các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp khác
cần thiết, phù hợp với các cam kết quốc tế để hạn chế các mặt hàng thuộc diện không
khuyến khích nhập khẩu.
5. Triệt để thực hành tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng
- Tình trạng lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng vẫn còn diễn ra khá phổ biến ở các
cơ quan, đơn vị, trong dân cư, tiềm năng tiết kiệm trong sản xuất và tiêu dùng là rất
lớn. Trước hết, Chính phủ chỉ đạo việc triệt để thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí
trong sử dụng ngân sách nhà nước. Các đơn vị phải chủ động sử dụng dự toán đã được
giao để thực hiện các nhiệm vụ, kể cả trong trường hợp giá cả tăng. Không bổ sung
chi ngân sách ngoài dự toán.
- Các doanh nghiệp phải rà soát tất cả các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu
thông. Tăng cường công tác giám sát tài chính đối với các doanh nghiệp nhà nước,
nhất là các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty 90, 91 để chấn chỉnh ngay việc đầu tư
kém hiệu quả, đầu tư ra ngoài ngành sản xuất chính và cơ cấu đầu tư bất hợp lý trong
thời gian qua của các đơn vị này.
- Chính phủ kêu gọi mọi người, mọi nhà triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất là nhiên
liệu, năng lượng.
6. Tăng cường công tác quản lý thị trường chống đầu cơ buôn lậu và gian lận
thương mại, kiểm soát việc chấp hành pháp luật Nhà nước về giá
- Bộ Công Thương chủ trì triển khai các giải pháp bảo đảm cân đối cung cầu hàng
hóa; đồng thời, tăng cường chỉ đạo thực hiện quản lý thị trường, nhất thiết không để
xảy ra tình trạng lạm dụng các biến động về nguồn hàng, giá cả trên thị trường để đầu
289/QĐ-TTg ngày 18 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ như: hỗ trợ dầu
hỏa ở nơi không có điện hoặc thiếu điện; nâng học bổng cho học sinh dân tộc các
trường nội trú; hỗ trợ thêm cho học sinh mẫu giáo, học sinh bán trú con hộ nghèo;
nâng bảo hiểm y tế cho người nghèo và cho trẻ em dưới 6 tuổi; hỗ trợ lãi suất để đầu
tư thay máy tiết kiệm nhiên liệu, bảo hiểm phương tiện và con người. Tiếp tục nghiên
cứu trình Thủ tướng Chính phủ chính sách bảo đảm an sinh xã hội.
+ Chủ trì rà soát để cắt, giảm các loại phí thu từ nông dân.
+ Chủ trì cùng Bộ Công Thương giám sát việc triển khai thực hiện từ nay cho đến
hết tháng 6 năm 2008, chưa tăng giá điện, than, xăng, dầu; giữ ổn định giá xi măng,
phân bón, nước sạch, thuốc chữa bệnh, vé máy bay, tàu hỏa, vé xe buýt; giữ ổn định
mức thu học phí, viện phí. Đồng thời nắm chắc diễn biến của lạm phát, đề xuất với
Chính phủ các giải pháp thích hợp tiếp theo.
18
- Các Bộ Tài Chính, Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cùng Ủy
ban nhân dân các cấp tăng cường các nguồn vốn giá rẻ cho Ngân hàng Chính sách Xã
hội để tiếp tục thực hiện các chương trình tín dụng ưu đãi cho các hộ nghèo và các đối
tượng chính sách.
- Các Bộ quản lý ngành, Ủy ban nhân dân các địa phương tiếp tục đẩy mạnh việc
thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia, các giải pháp hỗ trợ khác đối với các
vùng khó khăn, vùng bị thiên tai. Đồng thời, theo dõi, nắm chắc diễn biến giá cả, đời
sống nhân dân trên địa bàn, xử lý kịp thời những vấn đề xã hội gây bức xúc; tăng
cường kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện đúng, đủ các chính sách xã hội của Nhà
nước cho các đối tượng thụ hưởng, bảo đảm nguồn hỗ trợ của Nhà nước đến đúng đối
tượng, không bị thất thoát, tham nhũng.
8. Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền
- Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức chỉ đạo công tác thông tin tuyên truyền
nhằm tạo sự đồng thuận cao trong tất cả các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp
và trong các tầng lớp nhân dân để thực hiện các mục tiêu và giải pháp đã đề ra nhằm
đưa nền kinh tế vượt qua khó khăn, phát triển ổn định.
Nhiệm vụ đặt ra là rất nặng nề, khó khăn thách thức rất gay gắt nhưng thời cơ,
-Thực hiện các cơ chế, chính sách tài chính tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các
thành phần kinh tế, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, phát triển hạ
tầng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, triển khai tốt các chính sách ưu đãi đầu tư và các giải
pháp về thuế theo Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó
khăn cho doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Đẩy mạnh việc sắp xếp đổi mới, nâng cao hiệu quả ở khu vực DNNN, tiếp tục thực
hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp
đổi mới, phát triển các nông, lâm trường.
- Đẩy nhanh xây dựng kết cấu hạ tầng; triển khai có hiệu quả đề án cải cách thủ tục
hành chính trong lĩnh vực thuế, đơn giản các thủ tục hành chính về thuế, tạo điều kiện
thuận lợi nhất cho người nộp thuể thực hiệp pháp luật thuế; tăng cường thu hút đầu tư
tạo những nguồn nội lực từ các doanh nghiệp.
- Về dự toán thu ngân sách Nhà nước, các huyện, thành phố cần giao chỉ tiêu ngân
sách cấp dưới và đơn vị tăng hơn so với chỉ tiêu của HĐND tỉnh giao.
Phương hướng đầu tư phát triển trong những năm tới và định hướng đến năm 2015 là
phải đầu tư có trọng điểm, tập trung nhất là các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu du
lịch… để đem lại hiệu quả cao. Nhưng để đạt được mục đích đề ra, cần khai thác cao
nhất các nguồn vốn đầu tư xã hội thông qua các kênh như tín dụng Nhà nước, khu vực
doanh nghiệp Nhà nước và dân cư thuộc các thành phần kinh tế, cùng với vốn từ
NSNN để đáp ứng kịp thời tiến độ thi công các công trình và sử dụng có hiệu quả các
nguồn vốn đáp ứng cho nhu cầu đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực trong nền kinh
tế của tỉnh, góp phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế trên địa bàn. Bên cạnh đó,
tập trung huy động vốn với nhiều chính sách đa dạng, phong phú nhằm phát huy cao
nguồn lực tại địa phương và phân bổ nguồn lực hợp lý đáp ứng yêu cầu đầu tư phát
triển. Việc huy động vốn được thực hiện thông qua 2 knh chủ yếu với các công cụ tài
chính khác nhau. Đó là kênh huy động vốn gián tiếp được thực hiện thông qua các hệ
20
thống ngân hàng, các quỹ tín dụng, quỹ hỗ trợ phát triển trên địa bàn tỉnh, huy động
nguồn vốn ODA của nước ngoài, vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI). Thứ hai
là kênh huy động vốn trực tiếp thực hiện thông qua thị trường chứng khoán.
•p lực tăng chi NS hiện nay có ở mọi lĩnh vực, mọi thời điểm, chẳng hạn như yêu cầu
tăng chi tiền lương của khu vực hành chính nhà nước, yêu cầu cải cách chi CSHT và
vốn con người phục vụ phát triển KT-XH. Điều này đòi hỏi cần sắp xếp thứ tự ưu tiên
21
hợp lý; tuy nhiên đây không phải là điều dễ thực hiện đối với một nước đang phát
triến như Việt Nam phải đặt ra cho chính sách chi NS theo nhiều nhiệm vụ, mục tiêu
khác nhau.
- Dưới áp lực của cắt giảm thuế và yêu cầu tăng chi NS, khả năng gia tăng lớn về nợ
quốc gia trong tương lai gần có thể xảy ra. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến yêu cầu
lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia, tính chủ động của hệ thống NS do phải bố trí
nguồn chi trả nợ lớn và có thể gây ra khủng hoảng tài chính. So với các nước trên thế
giới và trong khu vực, quy mô NS ớ nước ta hiện nay đang ở mức tương đối cao. Tuy
nhiên, số thu NS từ bán tài sản công như dầu thô và cấp quyền sử dụng đất khá lớn, lại
là nguồn thu không mang tính ổn định, lâu dài và không phải do nội lực kinh tế tạo ra.
Về nguồn vốn vay viện trợ chính thức, mặc dù là một nguồn vốn hết sức quan trọng
cho đầu tư phát triến kinh tế ở Việt Nam, đặc biệt là CSHT, song việc phụ thuộc quá
lớn vào nguồn vốn này sẽ có ảnh hưởng đến môi trường kinh tế vĩ mô cũng như sự nỗ
lực, cố gắng của nội bộ nền kinh tế, bên cạnh nhiều vấn đề cần phải xem xét cả về chi
phí, hiệu quả và quy mô sử dụng. Đây là những vấn đề có thể sẽ tạo ra áp lực đối với
cải cách NSNN ở Việt Nam trong thời gian tới.
IV. Giải pháp tăng thu ngân sách Nhà nước
Mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý trên cơ sở bổ sung một số khoản thu nhập
chịu thuế.Một số khoản thu nhập trước đây không quy định (mặc nhiên được coi là
thu nhập không chịu thuế) được quy định trong Luật thuế TNCN gồm: thu nhập từ
chuyển nhượng quyền thương mại, thu nhập từ quà tặng là chứng khoán, phần vốn
trong các cơ sở kinh doanh, bất động sản hoặc tài sản khác phải đăng ký sở hữu hoặc
sử dụng (tuy nhiên, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản của cá nhận chỉ có nhà ở,
đất ở duy nhất được miễn thuế), thu nhập từ trúng thưởng các cuộc thi có thưởng và
các hình thức trúng thưởng khác (trước đây chỉ tính đối với trúng thưởng xổ số và
khuyến mại). Tất nhiên, những khoản thu nhập này chỉ bị đánh thúê khi thu nhập phát
chính sách, pháp luật thuế, xử lý cụ thể các khoản thu nợ đọng thuế, tăng cường công
tác kiểm tra, kiểm soát việc kê khai thuế của các tổ chức cá nhân nhằm phát hiện các
trường hợp kê khai không đúng, không đủ số thuế, thực hiện nghiêm túc các Chỉ thị
của Thủ tướng Chính phủ, của Bộ Tài chính, Tỉnh ủy, UBND tỉnh về chống thất thu
ngân sách Nhà nước.
Tài liệu tham khảo
23
1. nhập môn tài chính tiền tệ - nhà xuất bản đại học quốc gia hà nội.
2. giáo trình tài chính - trường đại học tài chính
3. />4. />Dong/Nhung_kho_khan_khi_gia_nhap_WTO/
5. />it/55118723/88/
6. />2006/20532147/90/
24