Chất lượng cán bộ cấp xã tại huyện đông triều tỉnh quảng ninh thực trạng và giải pháp - Pdf 15

1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC Cán bộ chủ chốt
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
HĐND Hội đồng nhân dân
UBND Ủy ban nhân dân
HTCT Hệ thống chính trị
QLNN Quản lý nhà nước
TCCSĐ Tổ chức cơ sở đảng
CCB Cựu chiến binh
LHPN Liên hiệp phụ nữ
MTTQ Mặt trận Tổ quốc
GTBQ Giá trị bình quân
ĐSVH Đời sống văn hoá
2
DANH MỤC BẢNG BIỂU
3
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của
mọi công việc”, “Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”.
Hơn 83 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản
Việt Nam, đội ngũ cán bộ nói chung và đội ngũ cán bộ chủ chốt (CBCC) cấp xã nói
riêng có sự phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng, góp phần quan trọng thực
hiện nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, đưa nước ta thoát khỏi nghèo
nàn, lạc hậu, trở thành nước có nền kinh tế đang phát triển.
Trước yêu cầu đổi mới và phát triển, Đảng ta đã xác định tiếp tục đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và phát triển kinh tế xã hội bền vững,
tạo nền tảng, tiền đề để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp
theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu đề ra, cần thực hiện đồng bộ nhiều
nhiệm vụ, giải pháp, trong đó chú trọng công tác xây dựng và nâng cao chất lượng

công tác, thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước và phát huy thế mạnh, tiềm năng, lợi thế, phát triển kinh tế - xã hội của
huyện. Do vậy, em quyết định chọn vấn đề “Chất lượng cán bộ cấp xã tại huyện
Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh: Thực trạng và giải pháp” làm nội dung nghiên cứu
của đề tài Luận văn Thạc sĩ.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu chung
Góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ cấp xã trên địa bàn huyện Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh có năng lực, trình độ, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu
cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh giai đoạn 2015 - 2020
và những năm tiếp theo.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của đội ngũ cán bộ cấp xã.
- Đánh giá thực trạng, chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt một số xã điểm
thuộc huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh hiện nay.
- Làm rõ những nguyên nhân yếu kém của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở
huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
- Đề xuất các giải pháp đồng bộ và khả thi nhằm nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ cấp xã trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
5
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã tại huyện Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Do thời gian nghiên cứu hạn chế, đề tài tập trung
nghiên cứu thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ cấp xã ở 3 đơn vị thuộc huyện
Đông Triều là: Bình Khê, Tân Việt và Thị trấn Mạo Khê.
- Phạm vi về nội dụng: Do thời gian hạn chế, nghiên cứu này chỉ tập trung
nghiên cứu, đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã ở huyện Đông

7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CẤP XÃ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về cán bộ và cán bộ chủ chốt
- Khái niệm về cán bộ:
Theo Từ điển tiếng Việt khái niệm “cán bộ” được hiểu là: “1.Người làm công
tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan nhà nước, cán bộ nhà nước, cán bộ
khoa học, cán bộ chính trị; 2. Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan,
một tổ chức, phân biệt với người thường không có chức vụ” [60, tr.109].
Theo Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008 do Quốc hội (khóa XII) ban
hành thì khái niệm “cán bộ” được hiểu là: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu
cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của
Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở
tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [43].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra định nghĩa về cán bộ hết sức khái quát, giản
dị và dễ hiểu; theo Người: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng, Chính phủ
giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành. Đồng thời, đem tình hình dân chúng
báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [46, tr.33].
Từ những khái niệm về cán bộ nêu trên có thể hiểu "cán bộ" là khái niệm
dùng để chỉ những người có chức vụ do bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm làm việc trong
các cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và các đơn vị lực lượng vũ
trang nhân dân từ Trung ương đến địa phương, thuộc biên chế Nhà nước và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước; giữ vai trò và cương vị nòng cốt trong cơ quan, tổ
chức (có thể là người lãnh đạo, người quản lý), có tác động, ảnh hưởng đến hoạt
động và sự phát triển của cơ quan, tổ chức.
- Khái niệm cán bộ chủ chốt:
Hiện nay có nhiều cách hiểu về thuật ngữ cán bộ chủ chốt.

chủ nghĩa Việt Nam; cấp xã, là hình ảnh xã hội của một đất nước thu nhỏ, là cơ sở,
là nền tảng, là nơi tiếp thu, triển khai tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối,
nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong mọi hoạt động trên
tất của các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng và an ninh; là nơi trực
9
tiếp, thường xuyên quan hệ, tiếp xúc với quần chúng nhân dân, nơi thể hiện rõ nhất
và kiểm nghiệm tính đúng đắn, hiệu quả mọi chủ trương, nghị quyết của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cấp xã
là gần dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều
xong xuôi” [47, tr.371 và 372]. Do vậy, cấp xã có vai trò rất quan trọng trong công
cuộc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh
CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn của đất nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, trong thời kỳ hoạt động bí mật, cấp
xã là địa bàn quan trọng, ở đó có các tổ chức của Đảng được nuôi dưỡng, bảo vệ và
hoạt động tuyên truyền, giác ngộ nhân dân lôi cuốn họ vào phong trào đấu tranh
cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân. Khi giành được chính quyền trên
phạm vi cả nước, Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền, giữ vai trò
lãnh đạo đối với xã hội thì cấp xã càng trở nên quan trọng hơn, bởi lẽ cấp xã là cấp
cuối cùng, là nơi tổ chức thực hiện, biến các đường lối, chủ trương, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước thành hiện thực; đồng thời, cấp xã cũng là nơi
cung cấp những thông tin, kinh nghiệm cho Đảng tổng kết thực tiễn để điều chỉnh,
bổ sung hoàn chỉnh đường lối, chính sách mới, từ đó tiếp tục xây dựng quan điểm lý
luận cách mạng mới của Đảng ta.
Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vai trò
cấp xã được nâng lên một tầm cao mới; cấp xã không chỉ là nơi tổ chức, thực hiện
thắng lợi mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước mà nó còn là nơi phản ánh trực tiếp tâm tư tình cảm và nguyện vọng chính
đáng của nhân dân lên cấp trên; đồng thời, cấp xã còn là nơi tập trung mọi tiềm
năng lao động, đất đai, ngành nghề, là nơi sản xuất ra nhiều của cải vật chất cho xã
hội mà trọng tâm là lương thực, thực phẩm, là nơi tiêu thụ sản phẩm, cung cấp

bộ với đường lối chính sách, cán bộ với công việc và cán bộ với quần chúng.
Về mối quan hệ với đường lối chính sách, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cán
bộ là người đem chính sách của Chính phủ, Đoàn thể thi hành trong nhân dân”; do
đó, “nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được” [47, tr.54].
Với công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “cán bộ là cái gốc của mọi
công việc” [47, tr.269]; theo Người, cây phải có gốc, “gốc” ở đây hiểu là từ đó sinh
ra, làm cho cây mạnh khỏe, tốt tươi hay ngược lại thì cây héo; vì vậy, trong mọi
công việc mà không có cán bộ thì không thể hoàn thành.
11
Đối với quần chúng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là những
người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và
thi hành. Đồng thời, đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ
hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng” [47, tr.269]. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh cán bộ không những chỉ là người có vai trò giác ngộ và hướng dẫn, lãnh đạo
quần chúng và còn là “chiếc cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là “công
bộc” của nhân dân.
Thấm nhuần Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề cán
bộ, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn chú
trọng và đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm với đòi hỏi của từng
thời kỳ cách mạng, đó chính là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt
Nam; Đảng ta xác định phải “có một đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất và năng lực xây
dựng đường lối chính trị đúng đắn và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, đó là
vấn đề cốt tử của lãnh đạo, là sinh mệnh của Đảng cầm quyền” [32, tr.27]. Trong
công cuộc đổi mới đất nước, thực hiện sự nghiệp CNH, HĐH, Đảng ta nhấn mạnh
vai trò của cán bộ trong chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH: “Cán bộ
là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng,
của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [32, tr.
66]. Theo quan điểm của Đảng, trong khi phải xây dựng đội ngũ cán bộ một cách
đồng bộ, đáp ứng với yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng, cần đặc biệt chú trọng
xây dựng đội ngũ CBCC các cấp, nhất là cấp chiến lược và cấp cơ sở.

luật của Nhà nước, họ tạo ra cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, giải thích
cho nhân dân hiểu rõ các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Thông qua họ mà ý Đảng, lòng dân tạo thành một khối thống nhất, tạo nên quan hệ
máu thịt giữa Đảng với nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước và chế độ. Như vậy, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật
của Nhà nước có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực sinh động hay không, tùy
thuộc phần lớn vào sự tuyên truyền và tổ chức vận động nhân dân thực hiện của đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã.
Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có vai trò quyết định trong việc xây dựng,
củng cố tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị (HTCT) cấp xã vững mạnh. Thực tế
cho thấy, sự mạnh, yếu của HTCT và phong trào cách mạng của quần chúng gắn
liền với vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã; họ là trụ cột, tổ chức sắp xếp,
13
tập hợp lực lượng, là linh hồn của các tổ chức trong HTCT cấp xã, là trung tâm
đoàn kết, tập hợp mọi tiềm năng, nguồn lực ở địa phương, động viên mọi tầng lớp
nhân dân ra sức thi đua hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Đội
ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã có vai trò quan trọng đối với năng lực lãnh đạo và sức
chiến đấu của Đảng bộ cấp xã, đối với năng lực và hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều
hành của chính quyền xã, hoạt động của các đoàn thể chính trị - xã hội ở xã; là
người dẫn dắt, định hướng các phong trào quần chúng ở địa phương, tổng kết rút
kinh nghiệm, biểu dương và nhân rộng các điển hình tiên tiến trong các hoạt động
sản xuất, kinh doanh, xây dựng đời sống văn hóa, phòng chống các tệ nạn xã hội
ở địa phương. Qua đó, đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã đóng góp quan trọng vào
việc xây dựng, hoàn thiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà
nước, góp phần ổn định hoạt động của bộ máy trong hệ thống chính trị, giữ vững sự
ổn định chính trị ở cơ sở, tạo tiền đề quan trọng thúc đẩy kinh tế - xã hội địa
phương không ngừng phát triển.
1.1.3. Chất lượng và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ chủ
chốt cấp xã
1.1.3.1. Chất lượng cán bộ

tinh thần yêu nước, tận tuỵ phục vụ nhân dân, không nghĩ đến việc chung mà chỉ lo
làm lợi, lo đến bản thân mình, chi tiêu tiền của công xa hoa, lãng phí, không chính
trực, nghiêm minh trong giải quyết công việc… thì chắc chắn sẽ gây ảnh hưởng đến
hoạt động của tổ chức bộ máy, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước, sẽ trở nên hủ
bại, biến thành sâu mọt của dân.
- Về trình độ: Trình độ của cán bộ được hiểu là trình độ về bằng cấp chuyên
môn, trình độ về lý luận chính trị đã được đào tạo để có kiến thức, trình độ về lý
luận, kiến thức về kinh tế - xã hội, khoa học - kỹ thuật, có khả năng tổ chức triển
khai, ứng dụng vào thực tiễn công tác.
Trước đây, do đất nước còn nhiều khó khăn, kinh tế còn chậm phát triển, một
bộ phận đội ngũ cán bộ cấp xã chưa được đào tạo, còn hạn chế về trình độ văn hóa,
trình độ nghiệp vụ quản lý nhà nước, quản lý kinh tế đã dẫn tới hạn chế trong
năng lực quản lý điều hành công việc, lúng túng trong việc tổ chức triển khai các
chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, trong việc giải quyết
những phát sinh khó khăn, phức tạp ở cơ sở, đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển
kinh tế - xã hội của địa phương.
15
Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ hội nhập, đòi hỏi đội ngũ
cán bộ chủ chốt cấp xã phải được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính
trị, quản lý nhà nước, tin học , phải am hiểu công việc, lĩnh vực chuyên môn do
mình phụ trách, phải có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn; đồng thời, phải có sự ham
mê, yêu nghề, chịu khó học hỏi, tích lũy kinh nghiệm; phải có khả năng thu thập
thông tin, chọn lọc thông tin, khả năng quyết định đúng đắn, kịp thời.
- Về năng lực: Năng lực, là một khái niệm rộng, tùy thuộc vào môi trường và
trách nhiệm, vị thế của mỗi người, mỗi cán bộ trong những điều kiện cụ thể. Năng
lực là những phẩm chất tâm lý mà nhờ chúng con người tiếp thu tương đối dễ dàng
những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và tiến hành một hoạt động nào đấy một cách có
kết quả.
Năng lực, là tổng hợp các đặc điểm, phẩm chất, tâm lý phù hợp với những
yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định bảo đảm cho hoạt động đó đạt được

thực hiện có kết quả những hoạt động khác nhau như hoạt động học tập, lao động ;
năng lực chuyên môn, cho phép người ta làm tốt một loại công việc nào đó như âm
nhạc, hội họa, văn học, toán học
Năng lực con người thường gắn liền với sở thích của người ấy. Con người có
sở thích, hứng thú về một hoạt động nào đấy thường nói lên năng lực của người đó
về mặt hoạt động đó; năng lực không chỉ thể hiện trong những hoạt động lao động
trí óc thuần túy, mà thể hiện cả trong hoạt động thể lực; năng lực phát triển trong
quá trình hoạt động; người lười biếng, trốn tránh hoạt động lao động trí óc cũng như
lao động chân tay thì năng lực không thể phát triển được.
Đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, năng lực thường bao gồm: Những tố
chất cơ bản về đạo đức cách mạng, về tinh thần phục vụ nhân dân, về trình độ kiến
thức pháp luật, kinh tế, văn hóa, xã hội ; sự am hiểu và nắm vững đường lối, chính
sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật
xử lý thông tin để giải quyết các vấn đề đặt ra trong giải quyết công việc một cách
khôn khéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân và không trái pháp luật, nhằm thực
hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế ở địa phương.
Vì vậy, khi nói đến chất lượng cán bộ là nói về phẩm chất đạo đức, trình độ,
năng lực hay tài năng của một cán bộ; tài năng của mỗi cán bộ không phải bỗng
nhiên mà có, mà là do quá trình rèn luyện, đào tạo, trải qua kinh nghiệm thực tiễn
17
mà có được; bất kỳ người cán bộ ở cấp nào, cương vị nào cũng cần phải có tài năng
và đức độ, nếu thiếu bất kỳ tiêu chuẩn nào cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của tổ
chức bộ máy của Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp. Chủ tịch Hồ Chí Minh
thường nói: Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài mà
không có đức thì vô dụng. Nhưng chữ “đức” ở đây phải được hiểu cho đúng. Không
thể coi những người gọi dạ, bảo vâng, đúng cũng gật, sai cũng gật, không có chính
kiến gì… là những người có đức; trong khi đó, lại coi những người có chính kiến rõ
ràng, dám đấu tranh phê bình, dám chống lại những sai trái như quan liêu, tham
nhũng lại bị coi là kiêu căng, tự mãn, là thiếu “đức”.
Nói về tiêu chuẩn cán bộ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng cả đức và tài,

có sức khỏe tốt, họ có thể làm việc liên tục để giải quyết khối lượng công việc lớn,
trong những điều kiện, hoàn cảnh, môi trường khắc nghiệt, thường xuyên đi đến địa
bàn, cơ sở mình phụ trách để tổ chức triển khai nhiệm vụ, nắm bắt tình hình cơ sở,
tiếp thu những ý kiến phản hồi từ người dân để có hướng giải quyết hoặc báo cáo, đề
xuất với cấp trên. Ngược lại, nếu cán bộ không có sức khỏe, họ sẽ không có khả năng
làm việc liên tục, nhất là trong môi trường khó khăn, có khi bị chi phối bởi chỉ lo nghĩ
đến sức khỏe của mình, dẫn đến công việc có thể bị chậm trễ, nhất là hạn chế trong
việc đi nắm bắt, tình hình cơ cơ sở, địa phương mình phụ trách, gây ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của bộ máy, chất lượng công việc do chính cán bộ đó thực hiện.
Tiêu chí sức khỏe đối với cán bộ là một tiêu chuẩn chung, phổ thông và cần
thiết xuất phát từ yêu cầu cụ thể đối với hoạt động của cán bộ; yêu cầu về sức khỏe
không chỉ là quy định bắt buộc khi tuyển chọn cán bộ, công chức, mà còn phải là
yêu cầu được duy trì trong suốt quá trình công tác của cán bộ. Vì vậy, người cán bộ
phải được bảo đảm về mặt sức khỏe mới có thể duy trì công việc được liên tục.
- Nhóm nhân tố về kinh tế: Chúng ta đều biết con người với tư cách là một
sinh vật cao cấp có ý thức, mọi hoạt động đều có mục đích và bao giờ cũng có một
động lực tương ứng, nhằm thúc đẩy hoạt động để thỏa mãn nhu cầu nhất định về vật
chất và tinh thần; nhu cầu vật chất là những đòi hỏi về điều kiện kinh tế để con
người tồn tại và phát triển về thể lực, nhu cầu về tinh thần là những điều kiện để con
người tồn tại phát triển trí lực.
Nếu thiếu những nhu cầu kinh tế, thì con người nói chung hay cụ thể là
người cán bộ sẽ không đủ khả năng để nuôi sống bản thân mình hay gia đình của
họ; do vậy, họ không thể yên tâm công tác, lo giải quyết nhiệm vụ được giao mà sẽ
19
bị chi phối bởi việc phải lo nghĩ về nhu cầu kinh tế và có thể dẫn đến tình trạng tiêu
cực trong thực thi nhiệm vụ, làm nhũng nhiễu tổ chức bộ máy, ảnh hưởng trực tiếp
đến uy tín của Đảng, Nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội ở địa
phương. Ngược lại, nếu cán bộ được thỏa mãn về nhu cầu vật chất và tinh thần thì
họ sẽ không còn bị phân tâm, chi phối thời gian công tác và sẽ giành nhiều thời
gian, chuyên tâm để tập trung nghiên cứu, giải quyết công việc có hiệu quả hơn,

học, ; người cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực công tác tốt sẽ thuận
lợi trong việc chỉ đạo, điều hành; ngược lại, sẽ rất khó hoàn thành nhiệm vụ; bên
cạnh trình độ chuyên môn, đòi hỏi cán bộ phải có trình độ lý luận chính trị, nắm
chắc các quy luật vận động của cuộc sống, biết vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ
thể của cơ quan, đơn vị; một cán bộ có chuyên môn giỏi, có trình độ lý luận chính
trị vững vàng, có năng lực tốt, sẽ có lợi thế lớn trong công tác lãnh đạo hay quản lý,
nhất là khi trình độ dân trí ngày càng cao.
Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay, không ít cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp
xã có bằng cấp chuyên môn, chính trị đầy đủ nhưng lại không có đủ năng lực công
tác, không phát huy được khả năng; chưa nói đến không ít trường hợp cán bộ, năng
lực thực tế rất yếu nên khó, thậm chí không hoàn thành nhiệm vụ được giao trên
cương vị công tác của mình. Ngược lại, cũng có trường hợp cán bộ, tuy không được
đào tạo cơ bản, song qua thực tiễn công tác, họ biết tự nghiên cứu, nâng cao trình độ,
có khả năng tư duy, tự rút ra nhiều kinh nghiệm hay, chịu khó tổng kết nên có được
những phương pháp, cách làm hiệu quả để vận dụng sáng tạo vào từng điều kiện,
hoàn cảnh cụ thể ở địa phương góp phần thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao.
Do vậy, để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã, thì các cấp
ủy đảng, chính quyền cần phải đánh giá đúng năng lực của cán bộ, quan tâm, đào
tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mội mặt cho đội ngũ cán bộ cả về chuyên môn
nghiệp vụ, lý luận chính trị, năng lực, kỹ năng công tác để cán bộ có đủ khả năng
đảm nhận, thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Nhóm nhân tố về thể chế: Thể chế bao gồm các luật lệ, quy tắc xã hội được
lập ra để quy định, ràng buộc các mối quan hệ trong xã hội, tác động đến tư duy và
hành động của con người trong xã hội. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, thể chế
ở đây được nêu nên các quy định về hệ thống luật pháp của Nhà nước và cũng như
các quy định, quy chế, phong tục, tập quán của địa phương… là nhân tố ảnh hưởng
đến hoạt động, chất lượng của đội ngũ cán bộ cấp xã ở địa phương.
21
Thực tiễn cho thấy trong những năm qua, cùng với sự phát triển của đất nước,
hệ thống pháp luật của nước ta đã từng bước hoàn thiện phù hợp với trình độ phát

hội và thách thức, Đảng ta xác định mục tiêu tổng quát của Chiến lược phát triển
kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 - 2020 là đẩy mạnh CNH, HĐH. Từ yêu cầu của sự
nghiệp CNH, HĐH đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã
hội chủ nghĩa, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính
trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn, nhất là đối với
đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã. Trong khi đó, trình độ chuyên môn, lý luận chính
trị, kiến thức về khoa học, công nghệ của đội ngũ cán bộ cấp xã hiện nay nhìn
chung còn thấp, chưa thường xuyên được đào tạo, bồi dưỡng là thách thức lớn đặt
ra đối với công tác cán bộ của Đảng. Vì vậy, Hội nghị Trung ương 5 (khóa IX) đã
ban hành Nghị quyết về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở
xã, phường, thị trấn”; đây là một nghị quyết rất cơ bản và toàn diện nhằm xây dựng,
củng cố HTCT ở cơ sở, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở, được xác định
là một trong những vấn đề cơ bản và bức xúc cần tập trung giải quyết, là yêu cầu tất
yếu khách quan, nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
- Xuất phát từ sự phát triển của khoa học - kỹ thuật: Sự phát triển không
ngừng của những tiến bộ trong lĩnh vực khoa học - kỹ thuật đã tác động mạnh mẽ
đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là việc ứng dụng khoa học vào
lĩnh vực lãnh đạo, quản lý. Các phương pháp và phương tiện lãnh đạo, quản lý
truyền thống đã dần lạc hậu, không còn phù hợp với tình hình mới. Trong công tác
lãnh đạo, quản lý ngày nay, xu hướng ứng dụng công nghệ để xử lý thông tin ngày
càng phổ biến, triển khai rộng rãi, đòi hỏi người cán bộ phải có trình độ, có khả
năng giải quyết, xử lý thông tin chính xác, kịp thời, có thể ra quyết định và tổ chức
thực hiện quyết định đó đạt hiệu quả, chất lượng đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
chính trị đặt ra.
- Trình độ dân trí, văn hóa của nhân dân ngày càng cao: Cùng với sự phát
triển của kinh tế, khoa học - kỹ thuật, thì trình độ văn hóa, trình độ dân trí của nhân
dân ngày càng phát triển, cùng với phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã
giúp người dân nâng cao kiến thức, hiểu biết về kinh tế, văn hóa, xã hội, hiểu rõ hơn
về chủ trương, đường lối của của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Do
vậy, đòi hỏi cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã cũng phải nâng cao trình

quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách khác của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ ở
cơ sở, sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy, chính quyền, MTTQ và
24
các đoàn thể để củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ở cơ sở,
điểm hình ở một số tỉnh:
* Kinh nghiệm của tỉnh Cao Bằng: Những năm qua, đội ngũ cán bộ cơ sở
của tỉnh Cao Bằng ngày càng được củng cố cả về số lượng và chất lượng; năm
2011, Tỉnh uỷ Cao Bằng thực hiện chủ trương nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
cơ sở bằng cách chú trọng quy hoạch, tạo nguồn và bồi dưỡng cán bộ trẻ tại chỗ,
đồng thời tuyển chọn sinh viên tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng vào làm
việc; điển hình là ở xã Hạ Thôn, huyện Hà Quảng đã thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán
bộ chủ chốt của xã, độ tuổi trung bình là 30 và 100% tốt nghiệp đại học; hơn 90%
số cán bộ, công chức cũng được chuẩn hóa, có trình độ, thông thạo ngôn ngữ,
phong tục tập quán địa phương, đây là điều kiện thuận lợi để lãnh đạo, vận động
nhân dân thực hiện các chủ trương đường lối, chính sách của tỉnh, của huyện.
Không chỉ bồi dưỡng cán bộ tại chỗ, Cao Bằng là một trong những tỉnh đầu
tiên thực hiện chủ trương đưa trí thức trẻ về công tác tại cơ sở; từ đầu năm 2012 đến
nay, đã có 44 sinh viên tốt nghiệp các trường đại học được phân công về làm phó
chủ tịch các xã vùng cao, biên giới, khó khăn. Theo Chủ tịch UBND tỉnh Cao
Bằng, chuyển biến rõ nét nhất ở các xã nghèo được bổ sung trí thức trẻ là triển khai
nhanh các dự án phát triển kinh tế - xã hội; đội ngũ này với ưu điểm được đào tạo
cơ bản, nắm bắt công việc nhanh, sáng tạo và có tinh thần trách nhiệm cao.
Để có được kết quả đó Tỉnh uỷ Cao Bằng rất coi trọng việc phát hiện, bồi
dưỡng cán bộ trẻ; hiện nay, số cán bộ trẻ ở các xã chiếm hơn 60%; đặc điểm của cán
bộ trẻ có năng lực, trình độ nếu tin tưởng giao việc để thử thách, kết hợp giám sát,
bồi dưỡng thì phát huy tốt tính năng động, dám nghĩ, dám làm của lớp trẻ. Để thực
hiện tốt công tác trẻ hóa cán bộ ở cơ sở, Tỉnh uỷ Cao Bằng đang tiếp tục rà soát,
điều chỉnh quy hoạch; xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cụ thể theo từng chức
danh, khắc phục tình trạng mất cân đối trong đào tạo; tỉnh dành một số chỉ tiêu biên
chế ở cơ sở để tuyển chọn những trí thức trẻ tốt nghiệp đại học; xây dựng cơ chế

(phó bí thư đảng uỷ, phó chủ tịch UBND phường, xã và phó chủ tịch HĐND xã).
Trong công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trẻ, thành phố Đà Nẵng có cách
làm sáng tạo với việc thành lập Câu lạc bộ cán bộ trẻ; với mục tiêu “Chung tay nâng
tầm ý tưởng”, Câu lạc bộ cán bộ trẻ là tổ chức xã hội, tập hợp các cán bộ, công
chức, viên chức có năng lực, có triển vọng, dưới 40 tuổi; đang công tác tại các cơ

Trích đoạn Quan điểm về nâng cao chất lượng cán bộ chủ chốt cấp xã Mục tiêu đến năm 2015 và giai đoạn 2015- Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp xã Thực hiện đồng bộ công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng, luân chuyển cán bộ chủ chốt cấp xã Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát và quản lý đối với cán bộ chủ chốt cấp xã
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status