ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN THỊ THU HẰNG
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách
công tác lao động - thương binh và xã hội ở cấp xã
luËn v¨n th¹c sÜ LUẬT Hµ néi - 2005 Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 1
MỤC LỤC LỜI NÓI ĐẦU CHƢƠNG I
CƠ SỞ CỦA VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CỦA CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ
XÃ HỘI Ở CẤP XÃ
I. CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG CÔNG TÁC
LAO ĐỘNG- THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
1. PHÂN CHIA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH LÃNH THỔ VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ
11
1.1. PHÂN CHIA ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH 11
1.2. ĐẶC ĐIỂM CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 13
2. VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC LAO
ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 14
2.1. KHÁI QUÁT SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH
LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI 14
THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHỤ TRÁCH
CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở CẤP XÃ
I. CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHỤ
TRÁCH CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI CẤP XÃ
1. GIAI ĐOẠN TRƢỚC NĂM 2003 40
2. GIAI ĐOẠN TỪ NĂM 2003 TRỞ LẠI ĐÂY 43
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 3
II. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHỤ TRÁCH
CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI CẤP XÃ
1. CỞ SỞ ĐÁNH GIÁ 45
2. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHỤ TRÁCH
CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở XÃ, PHƢỜNG,
THỊ TRẤN 48
2.1. ĐÁNH GIÁ CHUNG 48
2.2. ĐÁNH GIÁ DỰA TRÊN CÁC TIÊU CHÍ CỤ THỂ 52
2.2.1. TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN 53
2.2.2. TRÌNH ĐỘ LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 58
2.2.3. KIẾN THỨC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC 59
2.2.4. TRÌNH ĐỘ TIN HỌC 61
2.3. NGUYÊN NHÂN 63
CHƢƠNG III
PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG
ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC LAO
ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở CẤP XÃ
I. XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC CHUYÊN MÔN
PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI BAN HÀNH TIÊU CHUẨN CHỨC DANH
CÔNG CHỨC CHUYÊN MÔN PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-
PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH VÀ XÃ HỘI Ở
CẤP XÃ
KẾT LUẬN
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 5
MỘT SỐ MÔ HÌNH MẪU VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÔNG TÁC
LAO ĐỘNG - THƢƠNG BÌNH VÀ XÃ HỘI Ở XÃ, PHƢỜNG, THỊ
TRẤN
I. MÔ HÌNH 1
1. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÔNG TÁC LĐTB - XH Ở XÃ 97
1.1. ĐỒNG BẰNG 97
1.2. MIỀN NÚI 98
2. TỔ CHỨC THỰC HIỆN CÔNG TÁC LAO ĐỘNG-THƢƠNG BINH
VÀ XÃ HỘI Ở PHƢỜNG, THỊ TRẤN. 101
II. MÔ HÌNH 2
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 6
LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài
Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam
khởi xướng và lãnh đạo đã trải qua hơn 15 năm kể từ Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ VI (1986) của Đảng. Sự nghiệp cải cách nền hành chính Nhà nước được
ượng. Mặc dù các cơ quan, các cấp chính quyền tỉnh, huyện đã quan tâm trong
việc xây dựng, củng cố tổ chức, bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ nhưng chưa
có cách nhìn tổng thể, toàn diện về cả hệ thống chính trị ở cấp xã như Nghị quyết
Trung ương V khóa IX đã đề ra. Vì vậy, rất cần thiết phải đưa vào nội dung của
văn bản pháp luật điều chỉnh đội ngũ cán bộ cấp xã, đảm bảo cơ sở pháp lý cho
công tác xây dựng, quản lý đội ngũ cán bộ cơ sở.
Sau một thời gian dài xem xét, ngày 21/4/2003 Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội đã thảo luận và biểu quyết thông qua Dự án Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một
số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức. Với Pháp lệnh mới này, đội ngũ công
chức xã, phường, thị trấn chính thức được công nhận và được cụ thể hóa trong
Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 và Nghị định số 121/2003/NĐ-
CP ngày 21/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức và chế độ chính sách
đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn. Việc thừa nhận về mặt pháp lý
đội ngũ công chức cấp xã là một bước tiến đáng kể trong quá trình xây dựng đội
ngũ công chức trong cả nước, tạo đà phát triển cho chính quyền cấp xã, cấp cơ sở
nhỏ nhất và cũng quan trọng nhất trong sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội.
Tuy nhiên, mặc dù mới ban hành và áp dụng vào thực tiễn nhưng những
quy định pháp lý về công chức cấp xã đã thể hiện một số mặt chưc thực sự phù
hợp với sự phát triển và đòi hỏi của thực tiễn. Đó là quy định ghép hai mảng lĩnh
vực văn hóa và lao động-thương binh và xã hội thành một nhiệm vụ do chức
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 8
danh công chức văn hóa-xã hội đảm nhận. Ngành lao động-thương binh và xã hội
bao gồm nhiều nhiệm vụ trong đó có ba mảng công tác chính, đó là: công tác lao
động, công tác người có công, công tác bảo trợ xã hội và phòng chống tệ nạn xã
hội. Đây là ba mảng công tác có nội dung phức tạp, phong phú, có vai trò quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương. Với vai trò cũng như nội
dung nặng nề như thế phải có một chức danh công chức chuyên môn chuyên
trách thực hiện công tác này bên cạnh một cán bộ lao động-thương binh và xã hội
không chuyên trách mới có thể thực hiện đầy đủ và có hiệu quả nhiệm vụ được
bộ, công chức trên cơ sở những số liệu thống kê khá chi tiết và đầy đủ. Qua đó để
đưa ra kiến nghị phải có một chức danh công chức chuyên môn chuyên trách
công tác lao động-thương binh và xã hội ở xã, phường, thị trấn và đưa ra mô hình
mẫu trong việc bố trí, sắp xếp cán bộ, công chức tương xứng với nhiệm vụ cũng
như quy mô và phạm vi địa bàn phụ trách. Bản luận văn cũng đưa ra được những
tiêu chuẩn nhất định để trên cơ sở đó đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã.
4. Phạm vi nghiên cứu
Vấn đề cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã
hội có thể được xem xét ở nhiều khía cạnh khác nhau nhưng trong bản luận văn
này tôi chỉ nghiên cứu dưới góc độ pháp lý.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận Mác lênin, quan điểm của Đảng và Nhà nước
ta về công tác lao động-thương binh và xã hội, để nghiên cứu đề tài này, luận văn
sử dụng các phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp.
6. Bố cục của luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm:
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 10
Chương I: Cơ sở của việc nâng cao năng lực của cán bộ, công chức phụ
trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Chương II: Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức phụ trách công tác lao
động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Với thời gian nghiên cứu có hạn, nguồn tài liệu không nhiều nên luận văn
này không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được sự đóng góp ý
kiến của tất cả các thầy cô giáo và các bạn.
Hà Nội, ngày 15 tháng10 năm 2005
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
thành tỉnh, tỉnh chia thành huyện, huyện chia thành các xã. Ngoài ra còn có các
thành phố, thị xã. Tại cấp tỉnh, thành phố, thị xã và xã có hội đồng nhân dân và
uỷ ban hành chính. ở cấp bộ và huyện chỉ có uỷ ban hành chính do hội đồng nhân
dân cấp dưới bầu ra.
Theo Hiến pháp năm 1959, nước ta chia thành tỉnh, khu tự trị, thành phố
trực thuộc trung ương. Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã.
Huyện chia ra xã, thị trấn. Thành phố trực thuộc trung ương chia thành khu phố.
Ở tất cả các cấp hành chính lãnh thổ trên đều có hội đồng nhân dân và uỷ ban
hành chính.
Theo Hiến pháp năm 1980, lãnh thổ nước ta chia thành bốn cấp. Bao gồm:
Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và đơn vị hành chính tương
đương.
Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị xã.
Thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã.
Huyện chia thành xã, thị trấn.
Thành phố thuộc tỉnh, quận, thị xã chia thành phường, xã.
Ở tất cả các đơn vị hành chính đều thành lập hội đồng nhân dân và uỷ ban
nhân dân.
Hiến pháp năm 1992 sau đó là Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung
năm 2003 vẫn giữ nguyên cách phân chia theo các đơn vị hành chính lãnh thổ và
cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền các cấp như Hiến pháp năm 1980.
Như vậy, từ khi ra đời đến nay nhà nước ta đều lấy xã, phường, thị trấn
(cấp xã) làm đơn vị hành chính lãnh thổ nhỏ nhất và chính quyền cấp xã được coi
là chính quyền cơ sở.
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 13
Sự chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải thay đổi vai trò của
nhà nước nói chung và chính quyền địa phương các cấp, đặc biệt là chính quyền
cấp xã trong quản lý, điều hành nền kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh mở rộng dân
nhà nước bốn cấp. Đây là khâu nối liền nhà nước với nhân dân. Chính quyền cấp
xã bảo đảm thực hiện mọi chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chỉ
thị của các cấp chính quyền cấp trên; thực hiện sự quản lý nhà nước về mọi mặt
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng trên địa bàn xã, phường,
thị trấn.
Vì vậy, sự vững mạnh và hoạt động có hiệu quả, hiệu lực của chính quyền
cấp xã, cơ sở của hệ thống chính quyền nhà nước, là đảm bảo quan trọng cho
hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước, là điều kiện tiên quyết bảo đảm,
phát huy quyền tự do, dân chủ của nhân dân, mở rộng dân chủ ở cơ sở, xây dựng
chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị. Vấn đề đặt ra là đội ngũ cán bộ,
công chức ở cấp xã phải có nhận thức mới, có trình độ chuyên môn đáp ứng nhu
cầu công tác quản lý nhà nước trên địa bàn cấp xã. Đồng thời các cấp lãnh đạo
phải chú trọng vào việc xây dựng, nâng cao chất lượnng đội ngũ cán bộ, công
chức ở cấp xã.
2. Vai trò của chính quyền cấp xã đối với công tác lao động-thƣơng binh và
xã hội
2.1. Khái quát sự hình thành và phát triển của ngành lao động-thƣơng
binh và xã hội
2.1.1. Giai đoạn trước năm 1987
Ngay từ những ngày đầu sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công,
Đảng-Bác Hồ và Chính phủ đã đặc biệt quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác lao
động-thương binh và xã hội. Công tác lao động-thương binh và xã hội là một
trong những lĩnh vực của đời sống xã hội, có những nét đặc trưng cơ bản: tổng
hợp chính trị-kinh tế-xã hội-quốc phòng-an ninh; trực tiếp phục vụ hàng triệu
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 15
người và gia đình có công với Cách mạng và Tổ quốc, hàng chục triệu người lao
động và hàng triệu người thuộc các đối tượng xã hội, khó khăn, yếu thế. Sự vận
động và phát triển của công tác lao động-thương binh và xã hội qua từng thời kỳ
đã trực tiếp tác động tới sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế, trật tự an toàn xã
sĩ; quy định tiêu chuẩn để xác nhận thương binh, tử sĩ. Đây là văn bản pháp lý
đầu tiên quy định chế độ ưu đãi đối với thương binh, gia đình liệt sỹ. Tiếp đó
trong các năm 1948-1951, Chính phủ đã ban hành những văn bản hướng dẫn thực
hiện Sắc lệnh này. Tháng 7/1951 Hồ Chủ tịch phát động phong trào “đón thương
binh về làng”. Trong thư gửi Bộ trưởng Bộ Thương binh-Cựu binh, Bác viết
“…Anh em thương binh đã hy sinh một phần xương máu để giữ gìn Tổ quốc, bảo
vệ đồng bào, đã tận trung với nước, tận hiếu với dân…Song với những người con
trung hiếu ấy, Chính phủ và đồng bào phải báo đáp thế nào cho xứng đáng…Mỗi
xã phải tuỳ theo sự cố gắng và khả năng chung mà đón một số anh em thương
binh…”. Từ đó, việc đón thương binh về địa phương được xúc tiến mạnh mẽ.
2.1.1.3. Giai đoạn từ 1955-1964
Đây là giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Vì vậy, lĩnh vực
lao động-thương binh và xã hội có rất nhiều nhiệm vụ cấp bách cần phải thực
hiện. Giai đoạn này, trong Chính phủ có bốn Bộ thực hiện các nhiệm vụ về lao
động-thương binh và xã hội: Bộ Lao động, Bộ thương binh-Cựu binh, Bộ Nội vụ,
Bộ Cứu tế xã hội.
Công tác lao động-thương binh và xã hội bao gồm rất nhiều công việc cần
giải quyết. Giai đoạn này, lĩnh vực lao động có điều kiện được xem xét, giải
quyết nhằm thực hiện Kế hoạch 3 năm cải tạo và phát triển kinh tế-văn hoá
(1958-1960), kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Ngay từ những năm đầu
của thập kỷ 60, hệ thống chính sách, chế độ và cơ chế quản lý lao động đã được
ban hành tương đối đồng bộ, từ chính sách tuyển dụng, cho thôi việc, chính sách
tiền lương, kỷ luật lao động, tăng cường trách nhiệm vật chất của người lao động
với tài sản xã hội chủ nghĩa… đến chính sách bảo hộ, an toàn lao động, bảo hiểm
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 17
xã hội. Những công cụ quản lý này đã thực sự tạo tiền đề triển khai tốt nhiệm vụ
quản lý xã hội trước mắt và cho những năm tiếp theo.
Lĩnh vực thương binh-liệt sỹ với nhiệm vụ trọng tâm vừa là giải quyết
những tồn đọng của thời kỳ kháng chiến chống Pháp, sửa đổi, bổ sung cho phù
bạt cán bộ có năng lực phụ trách những công việc mới. Tuy nhiên, do đất nước
chưa thống nhất nên đội ngũ cán bộ phụ trách công tác lao động-thương binh và
xã hội ở cấp cơ sở chưa có sự phát triển đồng đều cả về số lượng lẫn chất lượng.
2.1.1.4. Giai đoạn từ 1965-1975
Đây là giai đoạn cả nước đồng thời thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược. Đó
là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước.
Nhiệm vụ trọng tâm của công tác lao động-thương binh và xã hội là triển khai có
hiệu quả các chính sách về lao động, thương binh-liệt sỹ, bảo trợ xã hội. Giai
đoạn này, công tác lao động-thương binh và xã hội do hai Bộ và một cơ quan
đảm nhận: Bộ Lao động, Bộ Nội vụ, Uỷ ban điều tra tội ác chiến tranh của đế
quốc Mỹ tại Việt Nam.
Năm 1967, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về phân công lại lao động xã hội và
Hội đồng chính phủ ra Nghị quyết về tăng cường quản lý lao động xã hội, bảo
đảm sản xuất tốt và chiến đấu thắng lợi. Các Nghị quyết này đã thể hiện quan
điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực lao động là phải coi quản lý
lao động là khâu cơ bản nhất, chính cốt nhất trong toàn bộ công tác quản lý kinh
tế-xã hội; phải có quan điểm toàn diện khi giải quyết các vấn đề lao động (kinh
tế, chính trị, xã hội); phải có chuyển biến cách mạng sâu sắc đối với công tác
quản lý lao động trong điều kiện thực hiện nhiệm vụ vừa sản xuất vừa chiến đấu.
Đặc biệt phải thấy hết ý nghĩa cách mạng và cấp bách của vấn đề tiết kiệm lao
động và đẩy mạnh tốc độ tăng năng suất lao động, kể cả trong thời chiến. Quán
triệt quan điểm đó, hàng loạt chính sách lao động đã được ban hành, như: chính
sách phân phối, chính sách tiền lương. Trong điều kiện nam giới được động viên
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 19
nhập ngũ, ở hậu phương còn lại chủ yếu là lao động nữ, để khuyến khích, bồi
dưỡng sử dụng hợp lý cán bộ, lao động nữ, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra
Nghị quyết về cán bộ nữ và lao động nữ. Chính phủ ra Nghị quyết “về tăng
cường lực lượng lao động nữ trong các cơ quan, xí nghiệp nhà nước”. Chính sách
lao động nữ đã phát huy tác dụng tích cực, động viên chị em hăng hái công tác,
động viên lực lượng cả nước tham gia hàn gắn vết thương chiến tranh, từng bước
cải thiện đời sống của người lao động. Trên lĩnh vực lao động xã hội, hậu quả
chiến tranh rất nặng nề. Ở miền Nam, hàng triệu người thất nghiệp, hàng trăm cô
gái mại dâm cần cải tạo và giải quyết việc làm. ở miền Bắc , hầu hết các khu
công nghiệp trọng điểm, hệ thống cầu cống, đường giao thông… bị tàn phá. Vì
vậy, công tác lao động-thương binh và xã hội ở các cấp rất nặng nề. Trước tình
hình đó, ngành lao động đã tập trung tham mưu về chính sách, giải pháp, giải
quyết, sắp xếp việc làm cho người lao động thất nghiệp ở các đô thị miền Nam,
giúp nhiều người chuyển về quê cũ làm ăn; ổn định việc làm, đời sống cho số cán
bộ tập kết từ miền Bắc trở về; sắp xếp việc làm cho bộ đội, thanh niên xung
phong xuất ngũ; động viên lực lượng lao động cả nước tham gia khôi phục cơ sở
hạ tầng.
Thực hiện chủ trương phân bố lại dân cư, nhiều chính sách được ban hành,
như chính sách điều động lao động và dân cư vùng đồng bằng sông Hồng đi khai
hoang và xây dựng các vùng kinh tế mới ở Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, đồng
bằng sông Cửu Long. Hàng triệu đồng bào đã hăng hái đi khai hoang, xây dựng
các vùng kinh tế mới, khai thác tiềm năng mọi miền đất nước.
Vào đầu những năm 80, chủ trương đưa lao động Việt Nam đi làm việc có
thời hạn ở nước ngoài đã được triển khai mạnh mẽ. Hội đồng Chính phủ ra Nghị
quyết về việc đưa công nhân và cán bộ đi bồi dưỡng nâng cao tay nghề và làm
việc có thời hạn tại các nước xã hội chủ nghĩa. Chủ trương đúng đắn và kịp thời
đã đáp ứng một phần yêu cầu lao động của các nước anh em, giải quyết việc làm
cho một bộ phận thanh niên, đồng thời đào tạo được một đội ngũ lao động có tay
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 21
nghề, có việc làm (khoảng 20 vạn người) đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước sau
này.
Một vấn đề rất quan trọng trong thời kỳ này là đã thực hiện các cơ chế,
chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp quốc doanh, ổn định
đời sống của người hưởng lương.
năng, tổ chức, bộ máy của Bộ, của ngành ngày càng hoàn thiện, có hệ thống từ
Trung ương đến các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã. Đội ngũ cán
bộ của ngành được kiện toàn, năng lực trình độ có sự chuyển biến rõ nét đáp ứng
các nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước giao cho.
Ngành lao động-thương binh và xã hội được xác định là ngành kinh tế - xã
hội tích hợp: Bộ, ngành vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước vừa tổ chức
các hoạt động sự nghiệp. Từ khi hợp nhất Bộ, ngành tháng 2/1987 đến nay đã 4
lần kiện toàn sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Hệ thống tổ chức của Bộ từng bước
được thực hiện. Trước tình hình phát triển của đất nước nhiệm vụ của Bộ, ngành
ngày càng được mở rộng, đồng thời cũng ngày càng phức tạp. Đến nay, ngành
lao động-thương binh và xã hội bao gồm 20 mảng công việc trọng yếu sau:
Lao động - việc làm
Dạy nghề
Tiền lương - tiền công
Lao động nữ - lao động đặc thù
Xuất khẩu lao động- chuyên gia
Bảo hộ lao động, điều kiện lao động, an toàn lao động
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi
Công trình dự án nhỏ
Công trình quốc gia giải quyết việc làm
Nâng cao chất lượng cán bộ, công chức phụ trách công tác lao động-thương binh và xã hội ở cấp xã
Trần Thị Thu Hằng – Cao học khóa VIII 23
Thương binh, bệnh binh, liệt sĩ, gia đình liệt sỹ, người có công với
cách mạng, bà mẹ Việt Nam anh hùng
Nghĩa trang, bia mộ, nhà bia tưởng niệm
Bảo hiểm xã hội
Cứu trợ xã hội, cứu trợ đột xuất
Xoá đói giảm nghèo
Bảo trợ nạn nhân chiến tranh
Phòng, chống tệ nạn xã hội