chất lượng cán bộ công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính qua thực tiễn huyện đông sơn thanh hóa - Pdf 33

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

Lấ TH HI YN

CHấT LƯợNG CáN Bộ, CÔNG CHứC CấP HUYệN
ĐáP ứNG YÊU CầU CảI CáCH HàNH CHíNH
QUA THựC TIễN HUYệN ĐÔNG SƠN, TỉNH THANH HóA
Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. MAI VN THNG

H NI - 2014


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong
Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã
hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ
tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Lê Thị Hải Yến

1.2.5. Ý nghĩa, vai trò của việc nâng cao chất lượng cán bộ, công chức
cấp huyện trong cải cách hành chính ở nước ta hiện nay .................. 28
Kết luận Chƣơng 1 ........................................................................................ 31


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƢỢNG CÁN BỘ, CÔNG
CHỨC CẤP HUYỆN QUA THỰC TIẾN HUYỆN ĐÔNG
SƠN, TỈNH THANH HÓA TRƢỚC YÊU CẦU CẢI CÁCH
HÀNH CHÍNH ................................................................................. 33
2.1.

Khái luận chung về huyện Đông Sơn và những đặc thù trong
tổ chức bộ máy hành chính nhà nƣớc và cải cách hành chính
huyện Đông Sơn ................................................................................ 33

2.1.1. Khái luận chung về huyện Đông Sơn ................................................ 33
2.2.2. Những đặc thù cơ bản trong tổ chức bộ máy hành chính nhà
nước và cải cách hành chính tại huyện Đông Sơn ............................. 35
2.2.

Thực trạng về số lƣợng và các yêu cầu, tiêu chí đối với cán
bộ, công chức huyện Đông Sơn hiện nay ....................................... 38

2.2.1. Thực trạng về số lượng cán bộ, công chức huyện Đông Sơn
hiện nay .............................................................................................. 38
2.2.2. Các yêu cầu, tiêu chí cơ bản đối với cán bộ, công chức huyện
Đông Sơn hiện nay ............................................................................. 40
2.3.

Thực trạng chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức huyện Đông Sơn ..... 43

Những kiến nghị, giải pháp chung .................................................. 78

3.3.

Những kiến nghị, giải pháp cụ thể, đặc thù ................................... 88

Kết luận chƣơng 3 ......................................................................................... 90
KẾT LUẬN .................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 96


DANH MỤC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

XHCN

Xã hội chủ nghĩa


ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong quá trình xây dựng và phát triển của nhà nước Việt Nam, vấn đề
cải cách hành chính được coi là một trong những khâu then chốt để đạt được

chính trong thời gian qua vẫn còn tồn tại nhiều yếu kém: Về kinh tế: Trong
những năm qua, kinh tế tuy đã có bước phát triển nhưng chưa mang tính ổn
định, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo còn ở mức cao; lạm phát vẫn còn tồn tại; cơ
chế quản lý kinh tế tuy đã được cải thiện nhưng chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới
nên hiệu quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là đối với các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh… Về cơ chế quản lý nhà nước: Công tác quản
lý nhà nước còn mang nhiều dấu ấn của cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, quan
liêu, bao cấp; bộ máy hành chính tuy đã được cải thiện một bước đáng kể
nhưng còn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả; phân công, phân cấp giữa các
cơ quan nhà nước chưa rõ ràng nên hiệu quả quản lý chưa cao; cơ chế tài chính
không thích hợp; nạn tham nhũng, lãng phí ngày càng trở nên trầm trọng; hệ
thống thể chế không đồng bộ, không thống nhất; thủ tục hành chính còn nhiều
khâu, nhiều bước trung gian không cần thiết gây rườm rà; đội ngũ cán bộ, công
chức nói chung đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức ở địa phương còn kém về
năng lực chuyên môn; tinh thần trách nhiệm, phẩm chất chính trị, đạo đức nghề
nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới…
Trong số những tồn tại, hạn chế kể trên thì vấn đề chất lượng cán bộ,
công chức được xem là một trong những tồn tại được quan tâm hàng đầu. Bởi
vì, trong mọi cơ chế, chính sách con người luôn được coi là trung tâm. Hay
nói cách khác, muốn thay đổi cơ chế, chính sách thì nâng cao trình độ, đổi
mới tư duy, phương pháp thực hiện của nguồn nhân lực phải được thực hiện
đầu tiên. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước bước vào thời kỳ hội
nhập quốc tế, quan điểm về quản lý nhà nước cũng có những thay đổi cho phù

2


hợp với tình hình mới thì vấn đề chất lượng cán bộ, công chức lại càng trở
nên cấp thiết. Cùng với sự thay đổi về cơ chế quản lý thì vai trò của nhà nước
cũng chuyển dần từ vị thế “ông chủ” sang người “phục vụ” - phục vụ quyền,

trong giai đoạn hiện nay thông qua quá trình hoạt động thực tiễn của bản thân.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề cải cách hành chính đáp ứng yêu
cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
đã và đang thuộc đối tượng nghiên cứu của nhiều bộ môn khoa học như: chính
trị học, luật học, xây dựng Đảng... Sự lãnh đạo của Đảng đối với vấn đề cải
cách hành chính được xem là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định
đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Trong thực tiễn hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang thực hiện
công cuộc đổi mới để xây dựng đất nước, vai trò lãnh đạo của Đảng cả về lý
luận và thực tiễn đang đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết. Có thể nói đây
là vấn đề quan trọng, thu hút được sự nghiên cứu của nhiều tác giả.
Trong phạm vi đề tài đã được nghiên cứu có liên quan đến đề tài mà
tác giả biết có thể liệt kê sơ bộ như sau:
- Phạm Văn Quang và Nguyễn Viết Thông (2000): Góp phần tìm hiểu
sự phát triển tư duy của đảng ta trong công cuộc đổi mới trên các lĩnh vực
chủ yếu, Nxb TP Hồ Chí Minh, T.p Hồ Chí Minh.
- Phùng Văn Tửu (1999): Xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
của dân, do dân, vì dân, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Lê Minh Quân (2003): Xây dựng Nhà nước pháp quyền đáp ứng yêu
cầu phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
- Trần Hậu Thành (2005): Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, Nxb lý luận chính
trị. Hà Nội.
4


- Đức Vượng (2002): Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với

mang tính chất điều chỉnh chung, ở mỗi địa phương cụ thể do điều kiện kinh
tế - xã hội khác nhau; đặc điểm tình hình khác nhau nên công tác tổ chức, bố
trí cán bộ, công chức nói chung và công tác tổ chức, bố trí cán bộ làm việc
trong các cơ quan hành chính nhà nước nói riêng cũng có những điểm khác
biệt mang tính đặc thù và do đó cũng có những điểm khác nhau trong việc đào
tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để một mặt đáp ứng yêu
cầu của công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia nói chung, một mặt đáp
ứng đặc điểm, tình hình của từng địa phương cụ thể.
Những công trình khoa học trên đây đã tập trung nghiên cứu việc đổi
mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong xây dựng nhà nước pháp quyền,
nghiên cứu về cải cách nền hành chính quốc gia của nước ta qua các giai đoạn
lịch sử cụ thể. Có nhiều luận văn, công trình nghiên cứu cũng đã đề cập đến
vấn đề chất lượng cán bộ, công chức nói chung, cán bộ, công chức trong các
cơ quan hành chính trong một tỉnh, thành phố cụ thể, một ngành cụ thể. Cũng
có nhiều công trình nghiên cứu đã đề cập các giải pháp nâng cao chất lượng
cán bộ, công chức cấp cơ sở. Nhưng để đi sâu nghiên cứu vấn đề nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong cơ quan hành chính cấp
huyện trên địa bàn một huyện cụ thể thì hiện tại chưa có đề tài nào. Mặc dù
vậy, các công trình khoa học trên đây là những tài liệu tham khảo có giá trị để
nghiên cứu và hoàn thiện đề tài luận văn.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
- Góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về sự lãnh đạo của Đảng
đối với quá trình cải cách hành chính nói chung và đối với việc nâng cao chất
lượng cán bộ công chức nói riêng.
- Đánh giá thực trạng, rút ra những bài học kinh nghiệm, trên cơ sở đó
xác định các giải pháp đổi mới, tăng cường sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Thanh

6




- Những vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng cán bộ, công chức và chất
lượng cán bộ, công chức cấp huyện;
- Thực trạng cán bộ, công chức cấp huyện qua thực tiễn huyện Đông
Sơn, tỉnh Thanh Hóa (bao gồm thực trạng về số lượng và thực trạng về chất
lượng) trong đó nhấn mạnh thực trạng về chất lượng cán bộ, công chức và
những nguyên nhân của thực trạng về chất lượng;
- Phân tích những quan điểm, định hướng chung của Đảng, Nhà nước
và chính quyền địa phương cũng như những kiến nghị, giải pháp của bản thân
trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng
yêu cẩu cải cách hành chính;
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về cơ sở lý luận: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận
về sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc cải cách hành chính, trong đó
nhấn mạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề nâng cao chất
lượng cán bộ, công chức trong giai đoạn hiện nay;
- Về cơ sở thực tế của luận văn: Luận văn tập trung nghiên cứu chất
lượng cán bộ, công chức cấp huyện qua thực tiễn một cơ quan hành chính cụ
thể - UBND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa nhằm nêu lên thực trạng và
qua đó đưa ra các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước cũng như đề
xuất, kiến nghị của bản thân nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp
huyện đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
- Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về
vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và công cuộc cải cách
nền hành chính quốc gia nói riêng.

8

9


8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương. Cụ thể:
Chương 1: Cơ sở lý luận về cán bộ, công chức về chất lượng cán bộ,
công chức cấp huyện và cải cách hành chính.
Chương 2: Thực trạng chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện qua
thực tiễn huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Quan điểm và những kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao
chất lượng cán bộ, công chức cấp huyện đáp ứng yêu cầu
cải cách hành chính trong giai đoạn hiện nay.

10


Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VỀ CHẤT LƢỢNG
CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP HUYỆN VÀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
1.1. Lý luận về cải cách hành chính
1.1.1. Khái niệm cải cách hành chính
Muốn biết khái niệm cải cách hành chính, trước tiên chúng ta phải đi
nghiên cứu và tìm hiểu khái niệm thế nào là hành chính nhà nước để hiểu rõ
hơn bản chất của nền hành chính và làm tiền đề cho việc nghiên cứu khái
niệm, bản chất của cải cách hành chính.
Khái niệm hành chính nhà nước có nội hàm rộng, tuy nhiên, trong
phạm vi Luận văn này, khái niệm hành chính nhà nước được nghiên cứu ở hai
phương diện: cơ cấu và nội dung với tư cách là cơ quan thực thi quyền hành
pháp, là cơ quan quản lý của nhà nước.

nhân dân, tức là của giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản và tư
sản dân tộc. Bốn giai cấp ấy do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy
công nông liên minh làm nền tảng, đoàn kết các giai cấp dân chủ và
các dân tộc trong nước để thực hành dân chủ chuyên chính [24, tr.2].
Hồ Chí Minh không chỉ là người khai sinh ra nền hành chính nhà nước
mà chính Người cũng là người đầu tiên đặt nền móng cho công cuộc cải cách
nền hành chính nhà nước. Theo quan niệm của Người, các nhân tố cấu thành
nên một nền hành chính nhà nước bao gồm:
Xây dựng thể chế tổ chức bộ máy, chế độ công vụ, công
chức, lề lối làm việc, kỹ thuật hành chính và cơ chế vận hành, rèn
luyện đạo đức, sửa đổi cách làm việc chống quan liêu lãng phí,
tham ô, đảm bảo xây dựng một nền hành chính thực sự của dân, do
dân và vì dân [24, tr.1].
Và khi nói về cải cách nền hành chính nhà nước Người đã nhấn mạnh

12


đến việc không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức để đội
ngũ này không chỉ có tài mà còn phải có cả đức để có thể hết lòng, hết sức
phục vụ Đảng, Nhà nước và phục vụ nhân dân.
Để thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước phù hợp với yêu
cầu của công cuộc đổi mới, ngay từ những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ
XX, Đảng, Nhà nước ta đã đưa ra chính sách cải cách nền hành chính nhà
nước, tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng Cộng sản
Việt Nam (Ngày 18 tháng 12 năm 1986) đã khẳng định:
...Những khâu quan trọng nhất cần nắm chắc là: xây dựng và
ban hành kịp thời các chính sách cụ thể, nhất là các chính sách kinh
tế; kiện toàn tổ chức bộ máy từ trung ương đến cơ sở cho phù hợp
với yêu cầu nhiệm vụ mới; bố trí cán bộ có đủ phẩm chất và năng

không nhằm mục đích làm thay đổi chế độ, thay đổi bản chất của nhà nước;
mục đích của cải cách hành chính là nhằm làm cho bộ máy nhà nước hoạt
động ngày càng hiệu quả hơn, đáp ứng ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích hợp
pháp của người dân, duy trì và củng cố chế độ chính trị đã tạo ra nó. Ở nước
ta, công cuộc cải cách hành chính được tiến hành từ sớm cũng không ngoài
mục đích duy trì bản chất của một nhà nước dân chủ - nhà nước của dân, do
dân và vì dân. Vì nhà nước do nhân dân làm chủ nên công cuộc cải cách nền
hành chính quốc gia phải được tiến hành theo hướng gần dân, vì dân, mọi
chính sách trong cải cách hành chính phải hướng tới phục vụ nhân dân, lấy lợi
ích của nhân dân làm kim chỉ nam cho mọi cơ chế, chính sách. Khi các cơ
chế, chính sách ban hành phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân ắt sẽ
làm cho nhân dân tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và như vậy
cũng đồng nghĩa với việc chế độ chính trị sẽ được duy trì. Do vậy, cải cách
hành chính không chỉ mang tính xã hội mà xét ở góc độ nào đó nó cũng mang
tính giai cấp. Tính giai cấp thể hiện: cải cách hành chính nhằm duy trì ngày
càng vững chắc vị thế của giai cấp thống trị, của chế độ nhà nước mà nền
hành chính đó đang tồn tại.
14


Có nhiều tác phẩm khác nhau đề cập khái niệm khác nhau về cải cách
hành chính. Theo Đại học Kinh tế Quốc dân: “Cải cách hành chính nhằm
khắc phục những yếu kém trong chỉ đạo, điều hành của bộ máy hành chính
đối với những nội dung và vấn đề nêu trên làm cho nền hành chính thích ứng
với mục tiêu mà công cuộc đổi mới đề ra” [22, tr.2].
Từ những phân tích trên, cải cách hành chính có thể được hiểu một
cách khái quát, chung nhất là:
Cải cách hành chính là hoạt động của Nhà nước căn cứ vào yêu cầu
phát triển kinh tế, chính trị của xã hội mà hiện đại hóa, khoa học hóa, hiệu
suất hóa thể chế hành chính, cơ cấu tổ chức, chế độ công tác, phương thức

trong quá trình tổ chức thực hiện, nền hành chính cũng góp phần tích cực vào
việc sửa đổi, bổ sung và góp phần hoàn thiện hơn chủ trương, đường lối,
chính sách của Đàng cũng như pháp luật của nước nhà.
Trong bộ máy nhà nước ta, các cơ quan hành chính nhà nước là lực
lượng đông đảo nhất với hệ thống tổ chức đồng bộ theo ngành và cấp từ trung
ương đến chính quyền cơ sở. Bên cạnh đó, các cơ quan hành chính nhà nước
là những chủ thể trực tiếp tổ chức, quản lý và xử lý công việc hàng ngày của
nhà nước và giải quyết các công việc liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích
của dân; là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhân dân
đánh giá chế độ, đánh giá nhà nước phần lớn và trực tiếp thông qua hoạt động
của bộ máy hành chính.
Cải cách hành chính nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong chỉ
đạo, điều hành của bộ máy hành chính đối với những nội dung và vấn đề nêu
trên làm cho nền hành chính thích ứng với mục tiêu mà công cuộc đổi mới đề ra.
1.1.2. Mục tiêu, nhiệm vụ và sự cần thiết phải cải cách hành chính ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
1.1.2.1. Mục tiêu, nhiệm vụ của cải cách hành chính
Để đảm bảo cải cách hành chính được tiến hành thống nhất, đồng bộ và

16


có định hướng, từ năm 2001 đến nay, Chính phủ đã phê duyệt và ban hành hai
Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước. Cụ thể là: Quyết định số
136/2001/QĐ-TTg ngày 17 tháng 9 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ Phê
duyệt chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 2010 và Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của Chính phủ
Ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011
- 2020. Giai đoạn 2011 - 2020, các mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính
nhà nước do Chính phủ đưa ra gồm:
Mục tiêu:

và sáu nhóm nhiệm vụ: Cải cách thể chế; cải cách thủ tục hành chính;
cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; xây dựng và nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; cải cách tài chính công; hiện đại
hóa hành chính
1.1.2.2. Sự cần thiết phải cải cách hành chính ở Việt Nam trong giai
đoạn hiện nay
Cải cách nền hành chính nhà nước chính là cải cách một mắt khâu quan
trọng nhất trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung. Bởi lẽ
cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước nhằm áp
dụng các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nước vào thực tế đời sống. Cải cách nền hành chính quốc gia nhằm nâng cao
hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước chính là nâng cao vai trò lãnh đạo của
Đảng, quản lý của Nhà nước đối với toàn xã hội.
Việt Nam đang trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, đây là nhiệm vụ vừa mới mẻ, vừa khó khăn, nặng nề.
Bản thân bộ máy nhà nước (mà trong đó trực tiếp là bộ máy hành chính nhà
nước) còn tồn tại nhiều đặc điểm của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan
liêu bao cấp không còn phù hợp với điều kiện đất nước trong tình hình đổi

18


mới. Cụ thể: Mặc dù đã thừa nhận trong thời kỳ xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa sẽ còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế
khác nhau và các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật nhưng trên
thực tế nhà nước vẫn có những phân biệt đối xử nhất định đối với thành phần
kinh tế nhà nước mặc dù hoạt động của các công ty đó không mấy hiệu quả.
Bộ máy nhà nước mặc dù đã được cải cách một bước nhưng còn cồng
kềnh, hoạt động kém hiệu quả; cơ chế quản lý mặc dù đã được cải thiện một
bước đáng kể nhưng nhiều cơ quan, đơn vị còn tồn tại cơ chế xin - cho, gây


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status