I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NGUYN QUNH KHễI
XÂY DựNG ĐộI NGũ CÔNG CHứC HảI QUAN
ĐáP ứNG YÊU CầU CảI CáCH HàNH CHíNH
QUA THựC TIễN CụC HảI QUAN TỉNH THANH HOá Chuyờn ngnh: Lý lun v lch s nh nc v phỏp lut
Mó s: 60 38 01 01 LUN VN THC S LUT HC
Cỏn b hng dn khoa hc: GS.TS. PHM HNG THI
H NI - 2014
1.1.2. Công chức Hải quan và đặăc điểm công chức Hải quan 131313
1.2. Nội dung xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan 191919
1.3. Yêu cầu của cải cách hành chính đôi với việc xây dựng đội
ngũ công chức ngành Hải quan 272727
Kết luận chƣơng 1 323232
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC VÀ CÔNG
TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CỤC HẢI
QUAN TỈNH THANH HOÁ 333333
2.1. Giới thiệu tổng quan về Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 333333
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 333333
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 353535
2.1.3. Tổ chức bộ máy của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 393939
2.1.4. Thực trạng đội ngũ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa 404040
Formatted: Not Highlight
2.2. Thực trạng công tác xây dựng đội ngũ tại Cục Hải quan tỉnh
Thanh Hoá trong thời gian gần đây 424242
2.2.1. Công tác tuyển dụng 424242
2.2.2. Công tác, sắp xếp và sử dụng đội ngũ công chức 444444
2.2.3. Công tác đào tạo đội ngũ công chức 474747
2.2.4. Công tác phát triển đội ngũ công chức 494949
2.3. Đánh giá công tác xây dựng đội ngũ tại Cục Hải quan tỉnh
Thanh Hoá trong thời gian gần đây 525252
2.3.1. Những mặt đạt được, tồn tại, nguyên nhân của công tác xây
dựng đội ngũ tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá 525252
2.3.2. Tổng hợp đánh giá công tác xây dựng đội ngũ tại Cục Hải quan
tỉnh Thanh Hoá bằng mô hình SWOT 595959
Kết luận chƣơng 2 616161
Chƣơng 3: QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP
XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC HẢI QUAN ĐÁP
Công nghệ thông tin
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
DN
Doanh nghiệp
GATT
Hiệp định chung về thuế quan và
thương mại
HS
Công ước về hệ thống điều hòa
mô tả và mã hàng hóa
NSW
Cơ chế một cửa quốc gia
TCHQ
Tổng cục Hải quan
VNACCS/VCIS
Hệ thống thông quan tự động
WCO
Tổ chức hải quan thế giới
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Formatted Table
Formatted: Condensed by 0.2 ptDANH MỤC CÁC BẢNG
Tổng hợp đánh giá công tác xây dựng đội ngũ bằng
mô hình SWOT
595959 Formatted: Font: Italic
Formatted: Centered
Formatted Table
Formatted: Right
Formatted: Font: Not Bold, Condensed by
0.2 pt
Formatted: Centered
Field Code Changed
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Right
Formatted: Centered
Field Code Changed
Formatted: Right
Formatted: Centered
Field Code Changed
Formatted: Right
Formatted: Centered
Field Code Changed
Formatted: Right
Formatted: Centered
Field Code Changed
Formatted: Right
Formatted: No underline, Font color: Auto
Formatted: Font: Not Bold
Formatted: Centered
Field Code Changed
Field Code Changed
Field Code Changed
Formatted: Not Highlight
Field Code Changed
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
quan trên địa bàn bốn tỉnh: Thanh Hoá, Ninh Bình, Nam Định và Hà Nam.
Tôi nhận thấy, hiện nay việc xây dựng đội ngũ công chức Cục Hải quan
Thanh Hóa là yếu tố quan trọng để đáp ứng yêu cầu cải cách, hiện đại hóa,
chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả trong việc thực hiện mục tiêu Chiến lược
phát triển Hải quan đến năm 2020. Những vấn đề nói trên đặt ra yêu cầu cấp
bách và thường xuyên trong việc xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan
nói chung và công chức Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa nói riêng để đáp ứng
giai đoạn hiện nay. Đó là lý do tôi chọn đề tài: “Xây dựng đội ngũ công
chức Hải quan đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính qua thực tiễn Cục
Hải quan tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với mong
muốn thông qua việc nghiên cứu đưa ra những khuyến nghị góp phần xây
dựng đội ngũ công chức Hải quan ngày một chính quy, chuyên nghiệp đáp
ứng cải cách hành chính hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những công trình nghiên cứu về công vụ, công chức
Trong những năm qua ở nước ta đề tài về công vụ, công chức đã được
các nhà khoa học rất quan tâm nghiên cứu, tới nay đã có nhiều công trình
nghiên cứu như:
- Đề tài khoa học cấp bộ “Xây dựng đạo đức cán bộ công chức Việt
Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc
tế” của TS. Nguyễn Ngọc Hiến - Học viện hành chính quốc gia, chủ nhiệm đề
tài. Trong đó chủ yếu luận giải những vấn đề về sự cần thiết xây dựng đội ngũ
công chức, đạo đức công chức trong thực thi công vụ, trách nhiệm công chức.
3
- Tìm hiểu về nền hành chính nhà nước của tác giả Nguyễn Hữu Khiển,
năm 2003. Cuốn sách chủ yếu phân tích các yếu tố cấu thành của nền hành
chính, trong đó có những nội dung đề cập đến công chức nhà nước.
- Đạo đức trong nền công vụ của nhóm tác giả Tô Tử Hạ, Trần Anh
Tuấn, Nguyễn Thị Kim Thảo biên soạn năm 2002.
- Nghiên cứu so sánh qui định về đạo đức công vụ của một số quốc gia
và Việt Nam của tác giả Đỗ Thị Ngọc Lan, ấn hành năm 2012. Ngoài ra có
nhiều luận văn, luận án nghiên cứu về công vụ, công chức, đạo đức công vụ.
Như vậy, cho tới nay chưa có công trình khoa học nào trực tiếp nghiên
cứu về xây dựng đội ngũ công chức ngành Hải quan qua thực tiễn Cục Hải
quan Thanh Hóa. Nhưng các công trình trên là tài liệu tham khảo quan trọng
giúp cho học viên thực hiện luận văn này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục tiêu của luận văn
Làm rõ những vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ công chức Hải quan;
đánh giá công tác xây dựng đội ngũ công chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh
Hóa; đưa ra những giải pháp xây dựng đội ngũ công chức hải quan.
3.2. Nhiệm vụ của luận văn
Thực hiện mục tiêu nói trên, luận văn có nhiệm vụ: Làm rõ những khái
niệm công cụ: công chức Hải quan; nội dung xây dựng đội ngũ công chức Hải
quan, phân tích, đánh giá thực tiễn các nội dung xây dựng đội ngũ công chức
tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa, chỉ ra những ưu điểm, những hạn chế, tồn
tại, nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại; đưa ra những giải pháp nhằm xây
dựng đội ngũ công chức Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa đáp ứng yêu cầu cải
cách, hiện đại hóa, chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác xây dựng đội ngũ công
5
chức tại Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa, dựa trên các số liệu thu thập và tài
liệu từ nhiều nguồn khác nhau trong quá trình công tác có liên quan đến công
tác xây dựng đội ngũ công chức Cục Hải quan tỉnh Thanh Hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là các vấn đề về xây dựng đội ngũ công chức tại
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục,
phần nội dung chính của đề tài được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về xây dựng đội ngũ công chức ngành hải quan.
- Chương 2: Thực trạng đội ngũ công chức và công tác xây dựng đội ngũ
công chức hải quan của Cục Hải quan tỉnh Thanh Hoá.
- Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ
công chức hải quan đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính. 7
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XÂY DỰNG
ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC NGÀNH HẢI QUAN
1.1. Khái niệm công chức hành chính nhà nƣớc và công chức Hải quan
1.1.1. Khái niệm công chức hành chính nhà nước
Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều
quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc
thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do ngân sách nhà nước trả lương.
Khái niệm công chức mang tính lịch sử, nội dung của nó phụ thuộc vào
tính chất đặc thù của mỗi quốc gia cũng như từng giai đoạn lịch sử cụ thể
của từng nước.
Công chức là một bộ phận quan trọng trong bộ máy quản lý nhà nước,
là lực lượng lao động chủ yếu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của bộ máy
hành chính nhà nước từ trung ương đến địa phương. Hiệu lực của hệ thống
chính trị nói chung và của bộ máy hành chính Nhà nước nói riêng, xét cho
cùng được quyết định bởi phẩm chất, năng lực và hiệu quả của đội ngũ cán
bộ, công chức.
Công chức là danh từ dùng để chỉ những người thừa hành quyền lực
nhà nước, thực hiện các công vụ của nhà nước. Sự ra đời của chế độ công
Theo Luật công chức của Trung Quốc: “Công chức nhà nước là những
người công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên
phục vụ” [14]. Công chức nhà nước gồm hai loại: Công chức lãnh đạo là
những người thừa hành quyền lực hành chính nhà nước. Các công chức này
bổ nhiệm theo các trình tự luật định, chịu sự điều chỉnh của Hiến pháp, Điều
lệ công chức và Luật tổ chức của chính quyền các cấp. Công chức nghiệp vụ,
9
là những người thi hành chế độ thường nhiệm, do cơ quan hành chính các cấp
bổ nhiệm và quản lý căn cứ vào Điều lệ công chức. Họ chiếm tuyệt đại đa số
trong công chức nhà nước, chịu trách nhiệm quán triệt, chấp hành các chính
sách và pháp luật.
Qua tìm hiểu những quan niệm, định nghĩa về công chức của một số
quốc gia nêu trên, chúng ta có thể thấy rằng công chức thường được hiểu một
cách chung nhất là những công dân, được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một
công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa
phương, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước và chịu sự điều chỉnh của
luật công chức.
Ở Việt nam, khái niệm công chức được hình thành, phát triển và ngày
càng hoàn thiện gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước. Khái
niệm công chức ở Việt Nam lần đầu tiên được nêu một cách tương đối đầy đủ
tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế công chức, trong đó công
chức được định nghĩa là: “Những công dân Việt Nam, được chính quyền nhân
dân tuyển dụng để giữ một vị trí thường xuyên trong các cơ quan của Chính
phủ, ở trong hay ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ trường
hợp riêng biệt do Chính phủ định”[6]. Sắc lệnh này đã tạo tiền đề, cơ sở để
hình thành và phát triển đội ngũ công chức Việt Nam.
Trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ suốt
một thời gian khá dài, khái niệm công chức ít được sử dụng, thay vào đó là
khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, không phân biệt công chức,
hành chính, năm 2003 Pháp lệnh cán bộ, công chức đã được sửa đổi, bổ sung.
Pháp lệnh tuy không đưa ra định nghĩa riêng về cán bộ, công chức, mà đi theo
hướng liệt kê các đối tượng được gọi là cán bộ, công chức, nhưng cũng đã
phân biệt giữa các đối tượng những người được bầu của để đảm nhiệm các
11
chức vụ và những người được tuyển dụng bổ nhiệm, giao giữ công vụ, nhiệm
vụ thường xuyên trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính
trị - xã hội.
Qua quá trình thực hiện, Pháp lệnh cán bộ, công chức đã bộc lộ những
hạn chế của nó, để khắc phục những hạn chế của Pháp lệnh, ngày 13/11/2008
Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ, công chức, tại Điều 1 qui định:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm
vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp
tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc
phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải
là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà
nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị
sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị
sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [17].
Như vậy, công chức theo qui định của pháp luật Việt Nam bao gồm:
Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; Công chức trong
Văn phòng Chủ tịch nước, Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước;
Công chức trong Bộ, cơ quan ngang Bộ và các tổ chức khác do Chính phủ,
Thủ tướng Chính phủ thành lập; Công chức trong cơ quan hành chính ở cấp
Thứ ba, công chức hành chính nhà nước có vai trò quyết định trong tổ
chức quá trình ra quyết định, quản lý và hướng dẫn, tổ chức thực hiện các
chính sách, pháp luật, các quyết định của cơ quan hành chính nhà nước.
13
Thứ tư, công chức hành chính nhà nước trực tiếp, hay phục vụ cho việc
thực hiện các dịch vụ hành chính công, trực tiếp, hay phục vụ cho việc giải
quyết các yêu cầu, đòi hỏi các công việc của cá nhân, tổ chức thuộc thẩm
quyền của các cơ quan hành chính.
Thứ năm, công chức hành chính trực tiếp bảo đảm, bảo vệ các quyền,
tự do, lợi ích của cá nhân, tổ chức trong các lĩnh vực của quản lý hành chính
nhà nước.
Thứ sáu, công chức hành chính nhà nước được phân chia thành các
ngạch, bậc cao thấp khác nhau (nhân viên, cán sự, chuyên viên, chuyên viên
chính, chuyên viên cao cấp và tương đương) mỗi ngạch công chức có yêu cầu
về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, trình độ chuyên môn khác nhau.
Từ những vấn đề phân tích nêu trên, có thể hiểu: công chức hành chính
nhà nước là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh,
cấp huyện, giao giữ một công vụ thường xuyên, trong biên chế và hưởng
lương từ ngân sách nhà nước.
1.1.2. Công chức Hải quan và đặăc điểm công chức Hải quan
1.1.2.1. Quan niệm về công chức Hải quan
Công chức Hải quan là một loại công chức hành chính nhà nước trong
bộ máy hành chính nhà nước, nhưng khác với các các công chức khác: công
chức ngạch hành chính, công chức kế toán bởi ngạch công chức, tính chất
công việc đảm nhiệm.
Công chức Hải quan là một bộ phận của công chức hành chính nhà nước
trong bộ máy của Bộ Tài chính, được phân loại theo vị trí công tác bao gồm:
Công chức giữ các chức danh lãnh đạo trong ngành Hải quan gồm có:
Kiểm tra viên cao đẳng hải quan là công chức chuyên môn nghiệp vụ
của ngành hải quan, trực tiếp thực hiện các công việc được quy định trong