Têng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n
viÖn Ng©n hµng - tµi chÝnh
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
TẠI CHI NHÁNH CÔNG TY TNHH DỊCH VỤ ĐẦU
TƯ VINH HẠNH
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Đỗ Hoài LinhSinh viên: Phạm Thị
TrangMã SV : LT 111237Lớp : Tài chínhHệ :
Liên thông từ CĐ lên ĐHKhóa:11B
Hµ Néi - 2012
N¨m häc 2009
N¨m häc 2009
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu Tên
TNHH DV Trách nhiệm hữu hạn dịch vụ
VLĐ Vốn lưu động
SXKD Sản xuất kinh doanh
TSCĐ Tài sản cố định
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
2
Têng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n
viÖn Ng©n hµng - tµi chÝnh
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG
đem lại cơ hội, lợi thế cạnh tranh, thu được luồng tiền vào lớn giúp doanh
nghiệp tái đầu tư, mở rộng sản xuất lại thu được lợi nhuận cao.
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
3
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, các
doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam hiện nay đang sử dụng nguồn vốn lưu
động tương đối hiệu quả nhưng xu thế toàn cầu hóa thì các công ty nhỏ khó
có khả năng cạnh tranh về tiềm lực tài chính với các tập đoàn xuyên quốc
gia. Do đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng trở nên cấp
thiết. Các công ty phải không ngừng có biện pháp sử dụng hợp lý hiệu quả
hơn nữa nguồn vốn lưu động.
Nhận thức được vấn đề đó, qua thời gian thực tập tại chi nhánh công
ty TNHH DV Đầu Tư Vinh Hạnh được sự giúp đỡ tận tình của giáo viên
hướng dẫn cùng tập thể cán bộ nhân viên trong công ty, tôi xin đề xuất một
số ý kiến thông qua đó nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động tại chi nhánh công ty TNHH DV Đầu Tư Vinh Hạnh.
Đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương I: Những vấn đề chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động
tại chi nhánh công ty TNHH DV Đầu Tư Vinh Hạnh.
Chương II: Tình hình sử dụng vốn và hiệu quả sử dụng vốn lưu
động tại chi nhánh công ty TNHH DV Đầu Tư Vinh Hạnh.
Chương III: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
tại chi nhánh công ty TNHH DV Đầu Tư Vinh Hạnh.
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
4
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
CHƯƠNG I
thành một vòng chu chuyển.
1.1.3 Phân loại vốn lưu động
Để quản lý sử dụng vốn lưu động có hiệu quả, thông thường vốn lưu
động được phân loại theo các tiêu thức khác nhau:
1.1.3.1 Phân loại theo hình thái biểu hiện
Theo tiêu thức này, vốn lưu động được chia thành:
* Vốn bằng tiền và vốn trong thanh toán
- Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang
chuyển, kể cả kim loại quý ( vàng, bạc, đá quý…).
- Vốn trong thanh toán: các khoản nợ phải thu của khách hàng, các
khoản tạm ứng, các khoản phải thu khác…
* Vốn vật tư hàng hóa ( hay còn gọi là hàng tồn kho): bao gồm
nguyên, nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ lao động, sản
phẩm dở dang và thành phẩm.
* Vốn về chi phí trả trước: là những khoản chi phí lớn hơn thực tế đã
phát sinh có liên quan đến nhiều chu kỳ kinh doanh nên được phân bổ vào
giá thành sản phẩm của nhiều chu kỳ kinh doanh như: chi phí sửa chữa lớn
TSCĐ, chi phí thuê tài sản, chi phí nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật,
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
6
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi phí về ván khuân,
giàn giáo, phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản…
1.1.3.2 Phân loại vốn theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản
xuất kinh doanh.
Theo cách phân loại này vốn lưu động được chia thành 3 loại:
* Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: bao gồm các khoản
nguyên, vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực, phụ tùng thay thế
công cụ, dụng cụ lao động nhỏ.
giữa các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
* Nguồn vốn tự bổ sung là nguồn vốn do doanh nghiệp tự bổ sung
trong quá trình sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái
đầu tư.
* Nguồn vốn liên doanh, liên kết là số vốn ngắn hạn được hình thành
từ vốn góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. Vốn
góp liên doanh có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật là vật tư hàng hóa, …
* Nguồn vốn đi vay bao gồm vốn vay ngắn hạn của ngân hàng, vốn
vay dưới hình thức phát hành trái phiếu và các khoản vốn vay của các đối
tượng khác. Đây là một bộ phận vốn rất quan trọng trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc phân chia VLĐ theo nguồn hình thành giúp cho doanh nghiệp
thấy được cơ cấu tài trợ cho nhu cầu VLĐ trong kinh doanh của mình. Từ
góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó.
Do đó, doanh nghiệp cần xem xét nguồn tài trợ tối ưu để giảm thấp chi phí
sử dụng vốn của mình.
1.1.4 Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng
* Kết cấu vốn lưu động
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
8
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
Kết cấu VLĐ phản ánh các thành phần và mối quan hệ tỷ lệ giữa các
thành phần trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp.
Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu VLĐ cũng không giống
nhau. Việc phân tích kết cấu VLĐ của doanh nghiệp theo các tiêu thức
phân loại khác nhau sẽ giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm
riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng. Từ đó xác định
đúng các trọng điểm và biện pháp quản lý VLĐ có hiệu quả hơn phù hợp
với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp. Mặt khác, thông qua việc thay đổi
hóa mục tiêu với chi phí bỏ ra thấp nhất. Với các thời kỳ khác nhau của
doanh nghiệp các mục tiêu có thể là khác nhau nhưng doanh nghiệp đều
mong muốn đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội nhất định. Tuy nhiên,
hiệu quả kinh tế thường có ý nghĩa quyết định là mối quan tâm hàng đầu
của doanh nghiệp và chủ doanh nghiệp.
Chính vì thế hiệu quả kinh doanh thường bị hiểu đánh đồng hiệu quả
kinh tế nhưng thực chất hiệu quả kinh doanh gồm hai mặt: hiệu quả xã hội
và hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả xã hội: phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả xã hội của hoạt
động thương mại là việc cung ứng hàng hóa ngày càng tốt nhằm thỏa mãn
nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần cho xã hội, mở rộng giao lưu kinh tế
giữa các vùng, các nước, là việc giải quyết công ăn việc làm, tăng cường
các khoản phúc lợi xã hội cho người lao động và thúc đẩy sản xuất phát
triển.
- Hiệu quả kinh tế: là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn nhân tài, vật lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được
kết quả cao nhất với chi phí bỏ ra thấp nhất. Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu
chất lượng quan trọng phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả về mặt
kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế được phản
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
10
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
ánh chủ yếu thông qua chỉ tiêu lợi nhuận đạt được từ quá trình sản xuất
kinh doanh.
Từ khái niệm trên ta có công thức so sánh sau:
Trong đó:
- Kết quả kinh doanh là doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp đạt
được trong kỳ.
tượng lao động. Lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối
tượng lao động chính là VLĐ. Vốn lưu động luôn luân chuyển tham gia và
tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nó được coi
như là mạch máu của doanh nghiệp. Vì vậy, muốn cho doanh nghiệp tồn tại
và phát triển thì không thể thiếu VLĐ. Vốn lưu động phải được đáp ứng
đầy đủ và liên tục để quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra bình thường.
Nhưng, nếu có vốn mà sử dụng không hiệu quả cũng là nguyên nhân gây
nên sự thất bại của doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp cần xem xét, phân
tích tình hình sử dụng VLĐ của doanh nghiệp để có biện pháp nâng cao
hiệu quả sử dụng VLĐ. Hiệu quả sử dụng VLĐ là chỉ tiêu chất lượng phản
ánh mối quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh với số VLĐ
mà doanh nghiệp bỏ ra đầu tư trong kỳ. Với việc cụ thể hóa kết quả kinh
doanh và sử dụng VLĐ bằng các chỉ tiêu sát thực, doanh nghiệp sẽ đánh giá
hiệu quả sử dụng VLĐ một cách chính xác và khách quan.
Sau đây chúng ta cùng xem xét một số chỉ tiêu thường xuyên được
sử dụng để đánh giá hiệu quả sử dụng VLĐ.
1.2.2.1 Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh toán
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
12
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
Nhóm chỉ tiêu về khả năng thánh toán phản ánh mối quan hệ tài
chính giữa các khoản có khả năng thánh toán trong kỳ với các khoản thanh
toán trong kỳ. Gồm các chỉ tiêu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán thạm thời
Hệ số khả năng thanh toán tạm thời là mối quan hệ giữa tài sản ngắn
hạn và các khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán tạm thời thể hiện mức độ
đảm bảo của tài sản ngắn hạn với nợ ngắn hạn. Nợ ngắn hạn là các khoản
nợ phải thanh toán trong kỳ, do đó doanh nghiệp phải dùng tài sản thực có
của mình để thanh toán bằng cách chuyển đổi một bộ phận tài sản thành
ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi vay đến mức độ nào.
Hệ số thanh toán lãi
vay
=
Lợi nhuận trước thuế
và lãi vay
Lãi vay phải trả
Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng
vốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ. Nói cách khác, hệ số thanh toán lãi vay
cho chúng ta biết được số vốn đi vay đã sử dụng tới mức độ nào và đem lại
một khoản lợi nhuận là bao nhiêu, có đủ bù đắp lãi vay phải trả không.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh
toán tức thời
=
Tiền và chứng khoán
ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
1.2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về đảm nhiệm vốn lưu động
Chỉ tiêu này phản ánh số vốn lưu động doanh nghiệp cần sử dụng để
đạt được một đồng doanh thu.
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
14
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
- Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động được xác định bằng công thức
sau:
Hệ số đảm nhiệm
VLĐ
=
+ M: tổng mức luân chuyển vốn trong kỳ.
+
n
V
: vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ.
Kỳ luân chuyển vốn lưu động là số ngày bình quân cần thiết để vốn
lưu động thực hiện được một vòng trong kỳ.
Công thức như sau:
K = n
L
Hoặc
K = n x
n
V
M
Trong đó:
+ K : chu kỳ luân chuyển vốn lưu động.
+ n : số ngày trong kỳ( một năm 360 ngày, một quý 90 ngày,
một tháng 30 ngày).
Vòng quay VLĐ càng nhanh thì chu kỳ luân chuyển VLĐ càng rút
ngắn, hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao và ngược lại.
Số VLĐ bình quân trong kỳ được tính theo phương pháp bình quân
số học, từ VLĐ trong từng quý hoặc tháng. Công thức tính như sau:
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
16
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
n
V
nd
+
2cq
V
+
3cq
V
+
2
4cq
V
4
Trong đó:
+
nd
V
: số VLĐ đầu năm.
+
nc
V
: số VLĐ cuối năm.
+
1q
V
,
2q
V
,
3q
V
,
báo cáo) song do tăng tốc độ luân chuyển nên doanh nghiệp cần vốn ít hơn.
Công thức tính như sau:
TK
V
=
n
M
0
x
1
K
-
0n
V
Trong đó:
+ n: số ngày trong kỳ.
+
TK
V
: vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối.
+
0n
V
: vốn lưu động bình quân kỳ báo cáo.
+
1
K
: kỳ luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch.
+
0
K
: kỳ luân chuyển vốn năm kế hoạch
* Tốc độ chu chuyển vốn lưu động là tiền mặt
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
18
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
Tiền mặt là một khoản mục của cơ cấu VLĐ. Việc sử dụng tiền mặt
hiệu quả có ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng VLĐ.
Vòng quay tiền mặt là khoảng thời gian từ khi doanh nghiệp bỏ tiển
ra đầu tư mua hàng và kết thúc là khi doanh nghiệp bán được hàng và thu
được tiền mặt từ các khoản phải thu và được xác định bằng công sau:
Vòng quay
tiền mặt
=
Doanh thu thuần
Vốn bằng
tiền
+
Các khoản đầu tư tài chính
ngắn hạn
Vòng quay tiền mặt càng ngắn tức là tiền mặt mà doanh nghiệp đầu
tư vào kinh doanh sẽ cho một hiệu quả cao hơn từ đó sẽ tăng hiệu quả sử
dụng VLĐ của doanh nghiệp. Đây là điều mà các doanh nghiệp đều mong
muốn. Để làm được điều này doanh nghiệp phải tăng khả năng quản lý tài
chính, giám sát chặt chẽ các khoản phải thu, giảm chi phí các khâu trung
gian và tăng chiếm dụng vốn của đơn vị khác. Việc chiếm dụng vốn của
đơn vị khác là điều mà doanh nghiệp không nên quá lạm dụng vì nó còn
liên quan đến chi phí lãi vay, uy tín của doanh ngiệp với đối tác, nhà cung
cấp và khách hàng.
x
Số ngày trong
kỳ phân tích
Doanh thu bán hàng trong kỳ theo giá vốn
Chỉ tiêu này cho biết số ngày cần thiết để hàng hóa dự trữ, tồn kho
quay được một vòng. Chỉ tiêu hàng hóa dự trữ, tồn kho có quan hệ tỷ lệ
nghịch với số ngày chu chuyển hàng dự trữ, tồn kho. Vòng quay hàng dự
trữ, tồn kho tăng thì số ngày chu chuyển hàng dự trữ, tồn kho giảm và
ngược lại.
Phương pháp phân tích các chỉ tiêu này là so sánh giữa kỳ báo cáo
này với kỳ báo cáo trước để thấy được sự tăng giảm. Sau đó phân tích các
nhân tố ảnh hưởng bằng phương pháp thay thế liên hoàn hoặc chênh lệch.
Sau đó là tính toán mức tiết kiệm hoặc lãng phí vốn bán hàng dự trữ trong
kỳ báo cáo.
* Tốc độ chu chuyển VLĐ trong các khoản phải thu
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
20
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
Nợ phải thu là những khoản tiền hoặc tài sản của doanh nghiệp hiện
bị các doanh nghiệp khác hoặc cá nhân chiếm dụng một cách hợp pháp
hoặc bất hợp pháp mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi.
Trong doanh nghiệp thương mại hiện nay, tình trạng các khoản nợ
phải thu thường rất cao chiếm tỷ trọng đáng kể trong nguồn VLĐ. Tình
trạng nợ phải thu để lâu sẽ gây ứ đọng vốn của doanh nghiệp làm doanh
nghiệp khó khăn trong các khoản thanh toán đảm bảo cho hoạt động sản
xuất được diễn ra bình thường. Doanh nghiệp cần sát sao trong vấn đề đánh
giá các khoản nợ phải thu, các khách hàng nợ.
Để đánh giá tình trạng nợ phải thu ta có công thức sau:
Hệ số ( vòng) thu
Sau khi phân tích tính toán các chỉ tiêu trên nếu hệ số vòng thu nợ
trong kỳ tăng, số ngày thu nợ giảm so với năm trước thì chứng tỏ việc quản
lý, thu hồi công nợ của khách năm báo cáo là tốt. Ngược lại doanh nghiệp
cần có biện pháp để đốc thúc việc thu nợ đồng thời với các khoản nợ xấu
phải trích lập dự phòng để giảm tổn thất VLĐ cho doanh nghiệp.
Ngoài ra ta có thể sử dụng các chỉ tiêu sau để so sánh đánh giá các
khoản phải thu của doanh nghiệp
Kỳ thu tiền
bình quân
=
Tổng số ngày trong kỳ phân
tích
Vòng quay các khoản phải
thu trong kỳ
Vòng quay các
khoản phải thu
=
Doanh thu bán hàng trong kỳ
Các khoản phải thu bình quân
Trong đó:
Các khoản phải
thu bình quân
= Phải thu đầu kỳ + Phải thu cuối kỳ
2
Các chỉ tiêu phải thu bình quân là bình quân số học của các khoản
phải thu ở đầu kỳ và cuối kỳ.
Nếu vòng quay các khoản phải thu cao tức là doanh nghiệp thu hồi
nhanh các khoản nợ. Cũng tương tự chỉ tiêu trên nếu ngược lại doanh
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
22
23
Trường Đại Học KTQD Chuyên đề tốt
nghiệp
Nhóm chỉ tiêu này cho biết với một đồng vốn lưu động bỏ ra thì
doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng doanh thu, bao nhiêu đồng lợi
nhuận. Nó thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu, lợi nhuận đạt được trong
kỳ với số vốn lưu động bình quân sử dụng trong kỳ. Đồng thời phản ánh
tình hình sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp là tiết kiệm hay không
tiết kiệm, hiệu quả hay lãng phí.
Ta có thể tính khả năng sinh lời của vốn lưu động bằng 2 công thức
dưới đây:
Hệ số doanh thu
trên VLĐ
Tổng doanh thu
VLĐ bình quân
Hiệu suất sử
dụng VLĐ
=
Lợi nhuận sau
thuế
VLĐ bình quân
VLĐ bình quân 1/2
1
V
+
2
V
+…+
1+n
V
tài chính phải xác định và xem xét những nhân tố tác động tới quá trình sản
xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra được các giải pháp cụ thể.
Các nhân tố này có thể xem xét dưới các góc độ:
* Các nhân tố có thể lượng hóa
Đó là các nhân tố mà khi chúng ta làm thay đổi các chỉ tiêu phản ánh
hiệu quả sử dụng VLĐ về mặt lượng. Các nhân tố này chúng ta có thể dễ
dàng thấy qua các chỉ tiêu như: doanh thu thuần, hao mòn vô hình, rủi ro,
vốn lưu động bình quân trong kỳ. Khi xem xét ảnh hưởng của các nhân tố
này tới hiệu quả sử dụng VLĐ chúng ta giả sử các nhân tố khác không đổi.
Để làm giảm tác động của các nhân tố này đòi hỏi nhà quản trị tài
chính doanh nghiệp quản lý VLĐ một cách có hiệu quả. Vì VLĐ có ba
thành phần chính: tiền mặt, dự trữ và các khoản phải thu nên phương pháp
này tập trung vào quản lý ba đối tượng trên.
Sinh Viên: Phạm Thị Trang
25